TIN TỨC

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 02:54:31
mail facebook google pos stwis
19 lượt xem

ĐỖ VIẾT NGHIỆM

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.

 

Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn

 

Nguyễn Mạnh Tuấn không chỉ sáng tác văn học, ông còn viết kịch bản phim truyện điện ảnh; Kịch bản phim VIDEO; Kịch bản phim truyền hình và cả kịch bản sân khấu. Các tác phẩm của Nguyễn Manh Tuấn trở thành hiện tượng, nói hơi hình ảnh một chút, cái mẹ vừa ra đời không lâu đã đẻ ngay ra cái con, nó nhanh và nhiều đến mức không còn gọi là nở rộ nữa, mà là bùng nổ trên nhiều phương diện, chiếm sóng truyền thông ở nhiều loại hình khi đó. Ở đây tiểu thuyết được xem như là chất xúc tác đầu tiên, xuất bản liên tục, dựa vào đấy để điện ảnh ăn theo, đặc biệt thể loạt phim truyền hình gần như rất đắt sô. Điều này có vẻ đúng với quẻ tử vi của nhà văn Lê Phương, tác giả nổi tiếng với tiểu thuyết “Thung Lũng Cô Tan” lúc bấy giờ phán câu chắc nịch: “Số ông chỉ có hành phương Nam mới là đất dụng võ”. Vậy câu hỏi đặt ra, tại sao nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn làm được? Tôi cho rằng đấy là sự khác biệt.  

Hơn nửa thế kỷ sau năm 2025, trong cuốn “Chua ngọt đời văn”, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thanh thiên bạch nhật cả vui, lẫn buồn, rất đáng để chúng ta suy ngẫm? Tôi có cảm giác viết văn chưa hẳn là ánh hào quang như ta tưởng, đôi khi nó là một canh bạc, cho những ai đam mê theo đuổi nghiệp văn chương?

Và đây, xin bắt đầu từ một câu hỏi:  

Nhà văn có thể sống bằng nghề?

Câu hỏi này thực ra không mới, ngay cả khi các nhà văn tên tuổi gạo cội, dù ngày đó số lượng vẫn còn chưa nhiều, cũng phải thốt lên chua chát: “Nỗi đời cơ cực đang giơ vuốt/cơm áo không đùa với khách thơ” (Xuân Diệu). Với cụ Tản Đà lại còn thảm hại hơn một bậc: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Nhìn rộng ra thế giới để hiểu họ có như mình hay không? Có đấy, người sống được bằng nghề viết văn cũng rất khiêm tốn như J.K.Rowling sinh năm 1965, người Anh, nổi tiếng với bộ truyện giả tưởng Harry Potter; Stephen King sinh năm 1947, người Mỹ, với văn phong lôi cuốn, sức viết kinh khủng có tới hơn 60 tiểu thuyết, trong đó có nhiều tác phẩm kinh điển như It, Shining, Carrie và được chuyển thành phim cực hót; Châu Á có Haruki Murakami sing năm 1949, người Nhật, từng nhận nhiều giải thưởng, nhưng giải Noben văn học từng nhiều lần tham gia vẫn chưa thành công, đáng chú ý ông có hẳn một tác phẩm về nghề viết tiểu thuyết.

Nhìn chung, đại đa số viết văn để sống được, phải nhờ vào nguồn thu nhập ngoài việc bán sách hoặc được sự hỗ trợ từ giải thưởng. Đúng thế, Daid Foen Kinos nhà văn đương đại nổi tiếng Pháp cho biết: “có tới 99% ở Pháp không sống được bằng nghề của mình được”(Tần Tần, phỏng vấn David Foenkinos, 99% nhà văn Pháp không sống bằng nghề viết văn znews.vn).   

Bàn về tuổi thọ của mỗi tác phẩm, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn cho rằng: “hiện đa số các tác phẩm - cả văn học, sân khấu lẫn điện ảnh – đã sống được lâu hơn ba năm, chắc nhờ may mắn? Còn viết được tác phẩm để đời và lưu danh muôn thuở, tôi tin không ít người cầm bút cũng biết điều sơ đẳng là: hàng triệu nhà văn trên thế giới mới có một người đạt được cái đích ấy. Rồi trong vạn người ở cái đích ấy, chỉ có chừng 30% là chân tài; còn 70% nhờ cơ hội và ăn theo môi trường”. Một người như nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, cầm bút lâu như thế, kinh nghiệm trận mạc dày như thế, vẫn chỉ đoán mình “chắc nhờ may mắn?”. Nói như vậy tôi cho rằng là khá chính sác như trường hợp J.K Rowling, tên thật của bà là Joanne Rowling như đã nói ở trên. Để đạt được đỉnh cao lưu danh muôn thuở, bà từng rất bầm dập khi bản thảo đầu tay từng gửi qua 12 nhà xuất bản đều bị từ chối. Thật tuyệt vời, hiện nay chẳng những hơn ba năm, Hary Potter gần như trường tồn, cả thế giới gần như đọc tác phẩm của bà và xem nó trên phim, đặc biệt với trẻ em là vô cùng hấp dẫn.   

Như vậy có thể nói, người viết văn rất khó sống bằng nghề. Đấy là cái “chua” thứ nhất, trong tác phẩm “Chua ngọt đời văn” của Nguyễn Mạnh Tuấn.  

 

Nhà văn Đỗ Viết Nghiệm

 

Những phần tiếp theo, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn muốn bạn đọc biết thêm chi tiết về cái sự “chua”, cái sự “ngọt” mà thôi. Chuyện làm phim triệu USD với Hollywood – Mỹ, là vị ngọt đầu tiên được đặt hàng kịch bản phim điện ảnh, nhưng không phải như mộng tưởng triệu đô ban đầu, bởi đồng tiền của một đại đế quốc giàu bậc nhất thế giới cũng không dễ sơi của nó đâu. Lối viết hài hước, hấp dẫn, một thằng con Mỹ tuềnh toàng thích ăn cà pháo mắm tôm, còn rành hơn cả chủ nhà bản địa, xuất hiện như trên trời rơi xuống.

Ở đây vấn đề đặt ra không còn là chuyện kịch bản phim nữa, mà là câu hỏi làm sao một gã lạ hoắc người Mỹ lại tìm tới Nguyễn Mạnh Tuấn? Thế mới biết những kẻ làm nghề chuyên nghiệp nó rất tinh, do vậy cũng chẳng bất ngờ với Nguyễn Mạnh Tuấn và cả chúng ta là vì thế! Vào giai đoạn này những kẻ “săn đầu người” rất hiểu nhà văn viết cái gì, vì tên tuổi Nguyễn Mạnh Tuấn đang gây bão tại Việt Nam với phim “Biển Sáng”, chuyển thể từ tiểu thuyết “Đứng trước biển” và sau đó là “Cù Lao Tràm”. Ông cũng có ba cuốn tiểu thuyết được dịch ra tiếng nước ngoài bằng tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Nhật và tiếng Anh (Mỹ), nên cũng là nguồn để họ nắm bắt. Nhân đây cũng xin trích lại một đoạn, lời nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn thổ lộ để làm rõ thêm: “Ở nước ta, nhà văn muốn sống bằng nghề, đừng bận tâm về sự thật giả lẫn lộn, từ mọi nguồn thông tin các giá trị tác phẩm. Nhiều nhà văn ta, hễ có bài thơ, truyện ngắn dịch ra tiếng một nước có nền văn học rất khiêm tốn, là lập tức cả nước biết. Thực tình, tác phẩm nào của mình trúng số xuất ngoại cũng đáng được chúc mừng. Nếu có, điều không đáng mừng chỉ ở chỗ phần nhiều các tác giả này lại lấy đó làm thước đo, coi mình hơn hẳn những tác giả, tác phẩm chưa ra ngoài biên giới. Rồi khi sách được dịch sang một nước tư bản giàu mạnh nào đó, các nhà văn này lập tức tin mình thuộc tầm cỡ thế giới”.

Vậy ở đây thông điệp với các người viết văn là gì? Nếu mình có tài, thì dù xa mấy, chân trời góc bể nào, họ cũng sẽ nhận ra! Thú vị thật, cú này dù không đúng như giấc mơ đầu tiên, chỉ vài ngàn đô thôi, nhưng lại là mở màn cho hàng loạt trái ngọt, trong cuộc đời viết văn của Nguyễn Mạnh Tuấn.

Chuyện bảy năm đi hầu tòa, là cú chua thứ hai mới khiếp. Tôi vốn là một người cực nhát, nên khi đọc xong tập sách cũng rờn rợn nổi hết cả gai gà. Chuyện gặp phải một tên lưu manh đúng nghĩa, vu cho Nguyễn Mạnh Tuấn ăn cắp bản quyền vở cải lương Bạch Hải Đường. Cái đáng trách nhất đứng đằng sau kẻ lưu manh ấy, có cả những nhân vật có máu mặt trong làng nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh lúc bấy giật dây, chỉ lối. Bảy năm đi hầu tòa hao tâm khổ tứ đầy chua chát. Nhưng mừng, cuối cùng lẽ phải đã thắng! Và đúng như ông cụ thân sinh Nguyễn Mạnh Tuấn từng nói: “viết văn là một nghề bất an”.

Từ “Chua ngọt đời văn” tôi nhận ra, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn là một người có cá tính mạnh. Rất có thể là vậy, ngày Nguyễn Mạnh Tuấn viết “Những khoảnh khắc còn lại”; “Đứng trước biển”; “Cù Lao Tràm” còn khá trẻ, nếu không nhầm ngày ấy ông mới chừng ba mươi, hay già vài ba năm tuổi gì đó. Những năm 80 của thế kỷ trước, các nhà văn chúng ta phần nhiều vẫn viết theo lối cũ, như đã nói ở trên. Theo tôi bước ngoặt đột phá đối với Nguyễn Mạnh Tuấn đều đến từ những đơn đặt hàng, mà “đặt hàng” người ta thường vẫn hay định kiến đó là một loại sản phẩm có kế hoạch, phải viết theo nhà đầu tư nêu ra, nên không có gì vẻ vang cả. Sòng phẳng mà nói, viết như vậy là viết vì tiền! Nguyễn Mạnh Tuấn thì khác, vẫn nhận đặt hàng xem đấy là cơ hội, nhưng khi thực hiện thì ông viết hoàn toàn khác. Nguyễn Mạnh Tuấn viết với thái độ tôn trọng sự thực, rồi sáng tạo, biến hóa, rồi tung tẩy, có lẽ vậy ông nhanh chóng định danh tên tuổi mình. Đấy là điều cũng không giống ai, bầm dập ban đầu, nhưng chói sáng về sau.

Vậy gợi ý ở đây là gì? Là nhà văn phải luôn làm mới chính mình trước, nếu không muốn bị tụt lại phía sau.

Viết câu chuyện nhuận bút Liên Xô có khủng; hay đường đi khoản nhuận bút cuốn sách đầu tiên. Thực ra viết điều này, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn chỉ là để chia sẻ, cảm thông, thấu hiểu cho chính mình và cho bạn bè mà thôi. Ngày đó Nguyễn Mạnh Tuấn cùng nhiều nhà văn khác Việt Nam, đang theo học tại trường Gorki, Liên Xô cũ, bất ngờ được thông báo tới nhận tiền nhuận bút cho tiểu thuyết “Những khoảnh khắc còn lại” và một truyện ngắn “Thanh bình” dịch sang tiếng Nga là 4.000 rúp. Mừng quá, nếu đánh quả làm con buôn một chuyến, mua hàng điện tử rẻ như bèo, về Việt Nam bán thu tiền cả đống, nhưng không sao chở nổi và có muốn họ cũng chẳng cho. Đúng như quan niệm rất nhân văn của người Việt “lộc bất tận hưởng”, 4.000 rúp là một số tiền khủng, nhưng sau đó vợ chồng nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có cách ứng xử trên cả tuyệt vời, “xả bớt lộc cũng là cơ trời” giúp những người bạn lúc khó khăn mới khiến ta nể phục.  

Nhưng “Hậu Đứng trước biển” và “Hậu Cù Lao Tràm”, lại cho tôi nhiều suy tư trăn trở. Đó là trong giới văn chương chúng ta vẫn thường mắc phải một cái bệnh đố kỵ, kiểu “văn mình vợ người” là quá lớn. Chuyện đồn tiểu thuyết “Đứng trước biển”, không phải của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn viết, mà của nhà văn Lê Phương, hay ông Y bà Z… . Khá buồn cười, có người còn cho rằng tác giả chính là nhà văn Hà Phương vợ nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, anh ta chỉ đứng tên thôi.

Làm sao lại có chuyện ấy? vì bấy giờ “Cù Lao Tràm” đang làm dậy sóng Hậu Giang và các tỉnh miền Tây. Rõ ràng họ nghi ngờ tài năng của Nguyễn Manh Tuấn, một người siêu rượu, như nhà văn tự bạch vào thời còn ở miền Bắc, những năm chiến tranh ông tham gia Thanh niên tình nguyện đi lên vùng tây Bắc, chủ yếu là công việc cơ bắp, giờ nghỉ việc ban chiều uống rượu suông, mong có được giấc ngủ ngon qua đêm để lấy lại sức cho ngày hôm sau. Nhưng từ khi vào Sài Gòn, Nguyễn Mạnh Tuấn gần như bỏ rượu hẳn. Lạ thật, rượu chẳng bao giờ liên quan tới văn chương, nhưng vẫn bị thiên hạ vu cho cái tội không rượu, không trà, không thuốc, thiếu ba thứ ấy không là nhà văn? Hồi năm 1986, 1987 người ta còn bảo là may, nhờ có các ông ở Trung ương và tp. Hồ Chí Minh dàn xếp, Nguyễn Mạnh Tuấn mới thoát không đi cải tạo. Thế đấy, đừng quá mộng mơ nhiều vào nghề viết văn, nó không bằng phẳng trơn tru, nó cũng chẳng ngon ngọt như vị Chocola thơm phức, ngược lại có khi còn gặp nhiều sui xẻo. Đấy là cái chua thứ ba, rất buồn nên cẩn trọng.

“Chua ngọt đời văn” viết theo phương pháp hỏi và đáp, dù không phải là thủ pháp tối ưu nhất, nhưng theo tôi đó là một kiểu lựa chọn sắc sảo! Bởi chỉ có thủ pháp này Nguyễn Mạnh Tuấn, mới bọc bạch được hết điều đọc giả cần biết, nó chua như thế nào, và ngọt ra sao trong nghề viết văn. Bản chất của hỏi và đáp là tạo ra được sự tương tác, thu hút và giữ chân người đọc, khơi dậy sự tò mò, khiến họ muốn biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ở những trang viết.

Đa số các tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, có số lượng trang viết khá dài, vậy có đi ngược với xu hướng “tối giản” trong văn học hiện đại? Chủ nghĩa tối giản (Minimalism) nhấn mạnh sự đơn giản hóa, loại bỏ chi tiết thừa, để tập trung vào yếu tố cốt lõi. Trên thực tế “tối giản” có một phần dành cho bạn đọc, tùy vào cảm xúc nhận thức. Ví dụ gần đây nhất nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn có “Linh Ứng”; “Kẻ khôn hơn vua” đều dày trên bảy trăm trang. Cuốn “Chua ngọt đời văn” dù không tới mức ấy, nhưng vẫn là dài. Dù vậy, tôi vẫn khẳng định tối giản hay không tối giản, đâu quan trọng? Dài mà hay, hấp dẫn, vẫn là số một! Với Nguyễn Mạnh Tuấn, một nhà văn thuộc lớp “chân tài” trên văn đàn văn chương Việt Nam đương đại, viết dài là một đặc điểm của ông.

Tp. HCM, tháng 11/2025.

Đ.V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm
Triết lý nhân sinh trong tập thơ “Nghe mùa thay lá” của Hoàng Thân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vừa ra mắt tập thơ “Nghe mùa thay lá” của nhà thơ, bác sĩ Hoàng Thân (Trịnh Quang Thân), Hội viên Hội VHNT Quảng Ngãi, Bác sĩ CK II Nội tim mạch, đúng vào dịp kỷ niệm 71 năm Ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2/2026). Tập thơ là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm về thời gian, ký ức và thân phận con người trong dòng chảy biến thiên của đời sống.
Xem thêm
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân
Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.
Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm