TIN TỨC

Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-02-14 20:31:20
mail facebook google pos stwis
472 lượt xem

NGUYỄN THỊ TỊNH THY   

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Đọc những trang viết của Trương Văn Dân, cảm giác như được nghe cuộc đối thoại bất tận của nhà văn với con người và cuộc đời này. Đối thoại là khát vọng được sẻ chia, được thấu hiểu; đồng thời, đó còn là khát vọng tự vấn, tự nhìn lại chính mình của người viết. Từ đối thoại, những ngổn ngang của đời sống, những day dứt của lòng người được mở ra… hun hút cảm xúc nhưng có khi khô khốc “như viên sỏi rơi vào lòng giếng cạn”. Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta đã làm gì chính mình? Chúng ta sẽ trở nên thế nào? Chúng ta để lại gì cho mai sau?... Những trăn trở đó uốn vặn trong từng con chữ với vô số câu hỏi khó bề giải đáp. Đó chính là tâm tình, tâm tưởng của Trương Văn Dân gửi gắm với đời.

 

Tiểu thuyết "Bàn tay nhỏ dưới mưa"

 

Nửa đầu thế kỷ XX, trong các công trình khoa học của mình, nhà lý luận M.Bakhtin đã đề ra thuyết đối thoại trong văn học. Qua tiểu thuyết của Đôtxtôiepxki, M.Bakhtin khẳng định: “Tất cả đều là phương tiện, đối thoại là mục đích. Một tiếng nói không kết thúc gì hết và không giải quyết gì hết. Hai tiếng nói là cái tối thiểu của sự sống, cái tối thiểu của tồn tại”1. Đối thoại chính là việc “dẫn dắt chủ đề theo một số tiếng nói khác nhau, là bản thân tính nhiều tiếng nói, tính khác tiếng nói về nguyên tắc”. Đối thoại thực chất là thể hiện sự đối lập về lập trường tư tưởng của nhân vật, làm nên đặc điểm đa thanh, phức điệu cho tác phẩm. Trong những tác phẩm của Trương Văn Dân, đối thoại thể hiện ba mục đích sáng tác rất rõ. Đó là sáng tác để trình bày luận đề, sáng tác để giãi bày tình cảm và sáng tác để chia sẻ tri âm.

Đối thoại với thế sự thể hiện tính luận đề là đặc điểm chung của tiểu thuyết Trương Văn Dân. Trong Bàn tay nhỏ dưới mưaTrò chuyện với thiên thần2, nói như nhà văn Nhất Linh, Trương Văn Dân đã thực hiện cái ý định dùng tiểu thuyết để làm một việc gì đó. “Việc” mà Trương Văn Dân muốn làm, theo thuật ngữ văn học, chính là luận đề tiểu thuyết. Thông qua đối thoại với nhiều hình thức văn bản: văn bản trần thuật, văn bản báo chí, nhật ký, thư tín, thơ ca, báo cáo…, rất nhiều vấn nạn của quốc gia và thế giới, của cá nhân và cộng đồng nhân loại hiển hiện. Đằng sau câu chuyện về một cuộc tình không trọn vẹn của người đàn bà đi qua bao giông bão đời người trong Bàn tay nhỏ dưới mưa và niềm hạnh phúc lẫn nỗi âu lo đầy trách nhiệm của đôi vợ chồng hiếm muộn trong Trò chuyện với thiên thần, Trương Văn Dân đã luận đề về mọi mặt của đời sống trong “trần gian điên dại này”. Trái đất cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, dịch bệnh hiểm nguy, thực phẩm biến đổi gien, con người vô cảm, mặt trái của văn minh và toàn cầu hóa và rất nhiều vấn đề “nóng” thuộc về hậu quả của “cơn điên tăng trưởng” được thể hiện vừa trực diện vừa hàm ẩn cho thấy mối quan tâm và âu lo của nhà văn với cõi nhân sinh.

 

Tiểu thuyết "Trò chuyện với thiên thần"

 

“Viết luận đề tiểu thuyết nghĩa là viết tiểu thuyết để nêu lên một lý thuyết, để tán dương, tuyên truyền một cái gì tác giả cho là tốt đẹp, để đả đảo một cái gì tác giả cho là xấu xa, viết tiểu thuyết để phụng sự, để chứng tỏ một cái gì đó”3. Những điều tốt đẹp lẫn xấu xa trong tiểu thuyết được Trương Văn Dân tích lũy từ vốn sống của cả đời người và đưa vào trang văn của mình chủ yếu thông qua đối thoại. Đó có thể là những vấn đề lớn như “Thảm hoạ hạt nhân”, “Những quái vật nhân tạo”, “Trí tuệ và khoa học”,  “Chính trường và chiến trường”, “Thân và phận”… của “một giống loài khốn khổ” khiến nhà văn thẳng thừng tuyên bố: “Xin các nghị viện quốc tế hãy chấm dứt thảo luận các vấn đề vô bổ. Xin các vị đừng nhắm mắt như con đà điểu vùi đầu dưới cát hay quyết định không quyết định gì để biến di sản Trái đất thành hỏa ngục. Nếu không, khi các người chết đi và để lại cho thế hệ kế tiếp là chúng tôi và con cháu một tương lai đầy rác rưởi, đau khổ. Chúng tôi không thể đồng lõa với tội ác của các người. Và chúng tôi muốn nói với những người có trách nhiệm là chúng tôi đang mang trong lòng một nỗi khinh bỉ vô tận; các người luôn rao giảng đạo đức và khuyên chúng tôi phải sống thế này, thế kia nhưng chính các người đang sống phi đạo đức nhất. Chúng tôi biết các người sẽ chết trước khi chịu trách nhiệm về những điều mình làm. Nhưng chúng tôi sẽ phỉ nhổ lên những bộ xương khô thế hệ đã hành động vô trách nhiệm với Quả địa cầu” (Bàn tay nhỏ dưới mưa). Đó có thể là những vấn đề nhỏ khiến nhà văn day dứt: “Mẹ biết lấy gì nuôi con?” giữa cơ man nào là thực phẩm biến đổi gien, thực phẩm chứa độc tố nếu như ngay bây giờ con “gõ cửa trần gian” (Trò chuyện với thiên thần).

Trò chuyện với thiên thần là một cuộc đối thoại (tâm tình) dài giữa ba nhân vật: người cha, người mẹ với thai nhi. Hai đấng sinh thành đã nói lên những âu lo, trăn trở, buồn nản về thế giới loài người những năm tháng này. Thế giới ấy không có chỗ nào, lĩnh vực nào an toàn cho con trẻ trú ngụ. Ba mẹ nói hết với con về tất cả những gì chờ đón con, để con chuẩn bị tinh thần trước khi trở thành thành viên của cõi đời này. Bạo lực, tham nhũng, ô nhiễm, bất công… bao phủ lên bầu khí quyển mà con sẽ hít thở. Hiểu tất cả rồi, con có quyền chọn lựa nên hay không nên làm người. Đây quả là một ý tưởng táo bạo theo motif hỏi ý kiến thai nhi trước khi chào đời trong Xã hội thủy quái Kappa của nhà văn Nhật Bản R.Akutagawa và quan điểm “Sinh ra tôi sao không hỏi ý kiến tôi” của triết gia J.P.Sartre. Sử dụng hình thức tự sự đối thoại qua trần thuật đa chủ thể, Trương Văn Dân đã phác họa bức tranh màu xám của thế giới từ suy nghĩ và ngôn ngữ đậm màu sắc triết học của nhân vật.  

Từng mẫu đối thoại, khi ngắn gọn khắc khoải; khi dằng dặc miên man, Trò chuyện với thiên thần chất chứa tầng tầng lớp lớp những luận đề mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Tất cả đều thể hiện một tấm lòng mượn nghệ thuật để luận nhân sinh đầy trách nhiệm, đầy tâm huyết và vô cùng thiết tha của nhà văn.

Đối thoại với lòng mình ăm ắp tình cảm được Trương Văn Dân tập trung ở mảng tùy bút, đặc biệt là tùy bút về người thân. Trong bút ký Tia nắng mùa đông của tập truyện Hành trang ngày trở lại, tình cảm gia đình, lịch sử gia đình trải dài cùng dòng tâm tình được viết theo mô thức “vi đối thoại” (đối thoại với chính mình) qua một sự cố buồn đau: cái chết của người anh trai. Tình cảm, lòng biết ơn, nỗi xót xa pha lẫn ân hận đối với người anh chất chứa trong tim và vỡ òa trên trang viết. Ở tản văn mang tính riêng tư này, chắc chắn Trương Văn Dân không viết cho độc giả. Ông viết cho chính mình, viết về nỗi đau thương của dân tộc, gia tộc và cá nhân. Đây không phải là lúc, là chỗ để thi triển tài nghệ văn chương hay tô trát phấn son chữ nghĩa. Tuy vậy, bằng tất cả xúc cảm chân thành được dồn nén bấy lâu, Trương Văn Dân đã chắt chiu những con chữ yêu thương để trao về người yêu thương. Và, những con chữ giàu sức nặng nội tâm ấy lại thể hiện nét bút tài hoa của một người khiêm tốn tự nhận rằng mình viết văn với vốn liếng tiếng Việt của năm mười tám tuổi - năm rời xa tổ quốc - và hơn bốn mươi năm sau mới cất bước trở về.

Tia nắng mùa đông tỏ rõ thế mạnh của văn viết về cảm xúc của Trương Văn Dân. Ba mươi lăm trang viết cuốn hút người đọc không chỉ bằng nỗi lòng tử biệt sinh ly gây xúc động mà còn bằng thứ tiếng Việt “mười tám tuổi” đẹp đẽ một cách vừa non tơ vừa già dặn: “Vậy thì anh hãy đi đi!… Anh sẽ ngủ một giấc dài… Kết thúc mọi nghiệp chướng tiền oan. Anh sẽ không còn phải băn khoăn, nhọc lòng quyết định một việc gì. Anh sẽ mãi mãi không còn tự ép mình, thôi thúc mình, buộc phải làm những điều mình không muốn như đã phải từng làm trong suốt sự hiện hữu đầy khổ đau và nhẫn nhục của anh. Anh sẽ không còn phải sống những bi kịch bi đát của nội tâm vò xé, suy gẫm về những mâu thuẫn của bổn phận và nhiệm vụ… Thôi, hãy bỏ lại tất cả những phù phiếm đó, cho tất cả tan vào hư không, anh nhé!”… “Tất cả cuộc đời của thế hệ chúng tôi hỗn tạp một cách kỳ lạ đến nỗi phải gánh lấy những trách nhiệm và ưu tư quá lớn trước khi đến tuổi trưởng thành... Rồi bỗng nhiên tôi muốn khóc, muốn để mặc cho những giọt nước mắt chảy dài, để có thể nức nở rồi chìm sâu vào cơn sóng tuyệt vọng rồi quỵ ngã trong nỗi đau cùng cực. Tôi muốn được tự do gào thét, nằm duỗi người hai chân vùng vẫy, đạp liên hồi trên thảm cỏ như một đứa bé thảm sầu trong cơn cuồng nộ...

Tia nắng mùa đông như là tản văn đại diện cho phong cách ngôn từ nghệ thuật của Trương Văn Dân trong toàn tập truyện Hành trang ngày trở lại. Tác phẩm này có những ưu điểm của tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa. Đó là văn phong. Trương Văn Dân có vốn từ ngữ biểu cảm rất phong phú và dồi dào, như thể đó là vốn từ của người Việt chưa hề rời xa quê hương, dù chỉ một giây phút. Ông lại có một bút lực rất mạnh với khả năng viết, khả năng diễn đạt cảm xúc bền bỉ hiếm có. Buổi chiều trên nghĩa trang cũng thế. Nó giản dị nhưng bộc lộ được tâm hồn người viết. Trong văn chương của mình, Trương Văn Dân hay viện dẫn nhiều triết lý. Tuy vậy, ông chinh phục người đọc bằng chính những câu chữ bình dị nhất - câu chữ của tình yêu. Bởi, như ông từng nhận định trong bài viết về người bạn đời của mình: “Tình yêu là hằng số cuộc đời”.  

Những đối thoại với bạn bè, đặc biệt là bạn văn chương, lại gây bất ngờ về một Trương Văn Dân rộn ràng, sôi nổi, tinh nhạy và dí dỏm trong những bình luận chính xác về chất người và chất văn của người khác. Huỳnh Kim Bửu và Tiếng hạc bay qua trên dòng sông Côn, Nguyên Minh - Một cuộc đời với văn chương… và đặc biệt là Kiệt Tấn, đôi khi thèm chết nhưng vẫn mê đời cho thấy năng khiếu tạc dựng chân dung bằng ngôn từ của Trương Văn Dân. Đây là bút ký chân dung thành công về mọi mặt, từ nhan đề, tiêu đề cho đến ngôn ngữ, giọng điệu; lột tả được cả phẩm cách của người viết lẫn người được viết. Từ tính cách rất cá biệt “chỉ biết ham sống”, “si tình và đam mê đàn bà”, “điên có bằng cấp hẳn hoi” để “cười vào mũi cuộc đời” bằng “những ý nghĩ cuốn theo gió ngược chiều” của nhà văn Kiệt Tấn, Trương Văn Dân khái quát được cái “nết” rất chung của những người cầm bút: “Ngẫm cho cùng, người viết nào mà không ngu ngu và điên điên? Có lẽ chính trong sự ‘cô-đơn-sáng-tạo’ đó họ đã tìm thấy chính mình… Những trang viết giúp họ lướt qua những ngày thống khổ của kiếp người!”  

Các nhân vật trong những tùy bút của tác phẩm Milano Sài Gòn, đang về hay sang? đều có hình có sắc, sống động đến bất ngờ đã bộc lộ một sở trường khác của Trương Văn Dân. Đồng thời, qua những tùy bút này, người đọc còn nhận ra khả năng thẩm bình tác phẩm của ông. Câu chuyện bàn rượu về “những thằng già nhớ mẹ” lột tả được cái hồn cốt của văn phong “sặc mùi ethanol” của Vũ Thế Thành: “Anh viết như người say. Mà té ra rất tỉnh… bằng giọng điệu của kẻ “buôn dưa lê” có chút “duyên” ngầm,… thể hiện những điều mình đề cập bằng thứ ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh khiến người đọc cứ phải buồn vui theo dõi”. Vũ Thế Thành viết: “Sáng nay, khi xuống lầu đi làm, tôi buộc miệng ‘Mẹ ở…’ (… nhà con đi làm đây!). Tôi khựng lại, chợt nhớ ra bà mất rồi. Tôi nhìn lên bàn thờ, thắp nén nhang, rồi đi…”. Vũ Thế Thành thật và hay đến choáng váng. Trương Văn Dân cũng thấu cảm thế này: “Tôi thấm thía và cảm thấy ớn lạnh toàn thân khi đọc đoạn văn này! Giọng văn sắc và lạnh, cảm giác dồn dập như đang chạy, gặp phải bức tường mà dừng không kịp. Mấy dấu chấm lửng sau hai chữ “rồi đi” giống như những giọt nước mắt của người vừa mất mẹ đang chảy trên trang viết…”. Bình luận và phân tích như thế, thật chẳng uổng phí văn chương của người khác.

Theo tôi, đối thoại với các nhà văn và tác phẩm trong phần tùy bút là mảng đề tài thành công nhất của toàn tập văn nhiều thể loại Milano Sài Gòn, đang về hay sang? Chính mảng đề tài này đã thắp lên ngọn lửa đủ sưởi ấm cho cái giá lạnh của phần truyện ngắn và những trích đoạn từ tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa ở phần phụ lục.

Nếu đánh giá thật đầy đủ và chính xác về hoạt động văn học của Trương Văn Dân, cần phải kể đến vai trò và tâm huyết của ông với tập san văn học nghệ thuật Quán Văn; đồng thời, không thể bỏ qua thành tựu dịch thuật từ tiếng Ý với tiểu thuyết Mùa hè tươi đẹp của Cesare Pavese, nhiều truyện ngắn, truyện vừa, tùy bút của Dino Buzzati, Elena Pucillo Truong và các tác giả khác. Tiếc thay, không mấy người cùng lúc rành rẽ cả tiếng Ý lẫn tiếng Việt để có thể đưa ra những nhận định, đánh giá về vai trò của Trương Văn Dân với tư cách là một dịch giả văn chương. Ở phương diện sáng tác, Trương Văn Dân là người sáng tác có tư tưởng, có nền tảng văn hóa và triết học. Cái chết, sự hy sinh, tình thương, sự vô cảm và cảm nghiệm nhân sinh như mộng là nỗi ám ảnh xuyên suốt, trở thành tâm thức sáng tác của ông. Đọc tác phẩm của Trương Văn Dân, ta thấy được nỗi day dứt, nghe được tiếng kêu cứu vì môi trường sinh thái đang bị hủy hoại, môi trường xã hội đang bị suy thoái về mọi mặt. Đó chính là sự nhạy cảm, là trách nhiệm của nhà văn “nghệ thuật vị nhân sinh”. Về nghệ thuật sáng tác, thế mạnh của Trương Văn Dân là văn biểu cảm - cảm xúc và cảm giác. Đi liền với nó là văn miêu tả tính dục đầy cảm xúc, giàu nhục cảm nhưng không sa vào dung tục tầm thường (Bàn tay nhỏ dưới mưa).

Tuy nhiên, để tiếp tục cày cuốc trên cánh đồng chữ nghĩa, Trương Văn Dân còn phải khắc phục, gọt giũa ngòi bút của mình nhiều để có thể thu về những hạt thóc tròn trịa hơn. Vì vậy, chúng tôi dành phần kết của bài viết này để đối thoại cùng tác giả với thiện chí mong muốn được đón nhận nhiều tác phẩm hoàn thiện hơn của ông. Sâu và sắc, nén và bung, chặt chẽ trong từng chi tiết nhỏ đến cấu trúc lớn là những nguyên tắc sáng tác đòi hỏi nhà văn phải kỳ công theo đuổi. Tiểu thuyết luận đề là con dao hai lưỡi. Nếu không giỏi điều khiển trận đồ chữ nghĩa, tác phẩm văn chương sẽ trở thành những văn bản tuyên truyền, giáo điều, phê phán và thậm chí là mạt sát mang đậm dấu ấn của “tác giả thực tế”; trong khi văn chương hư cấu rất cần “tác giả ẩn tàng” và “người kể chuyện”. “Cái chết của tác giả” trong lý thuyết của M.Foucault và R.Barthes luôn là nguyên tắc vàng của tác phẩm hư cấu. Mục đích của tiểu thuyết luận đề là diễn giải cho một tư tưởng hoặc một quan điểm có trước, vì thế, dẫu có viết khéo đến đâu thì đôi lúc vẫn để lộ những chỗ gượng gạo, khiên cưỡng, áp đặt. Bậc thầy tiểu thuyết luận đề Nhất Linh cũng đã từng tiếc nuối rằng vì mải theo luận đề mà không cố viết cho đúng tâm lý, tính cách nhân vật trong các tiểu thuyết Đoạn tuyệtLạnh lùng. Ông “chỉ coi nhân vật như những quân cờ để đánh một ván bài” và chỉ dùng những chi tiết nào có lợi cho cái ý chứng tỏ luận đề của mình, “không theo sát cuộc đời thực”… mà đổi cuộc đời thực cho luận đề4.

“Tiểu thuyết luận đề minh hoạ cho một tư tưởng, một quan điểm có sẵn, một vấn đề mà nhà văn luôn đau đáu suy nghĩ và tìm cách đấu tranh cho nó. Nhà văn có khi sẵn sàng hy sinh nghệ thuật, bỏ đi những cái hay trong nghệ thuật để phục vụ cho luận đề của mình”5. Dẫu biết vậy, nhưng Trương Văn Dân đã “hy sinh” hơi quá, khiến hai tiểu thuyết của ông rơi vào ôm đồm (vì luận quá nhiều vấn đề). Nhìn tổng thể, hai tác phẩm (đặc biệt là Trò chuyện với thiên thần) đều mắc lỗi dài dòng và trùng lặp ý, trích dẫn nhiều, chuộng diễn giải và nhận định chủ quan; đặc biệt là chưa thật sự thể hiện chủ đề thông qua hệ thống hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, tình tiết, sự kiện. Nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng luôn yêu cầu “less is more”, nghĩa là viết ít nhất nhưng biểu đạt nhiều nhất, cô đúc tiết chế nhất nhưng mở rộng và lan tỏa nhất. Tất cả phải toát lên từ hình tượng, nếu thoát ly hình tượng, nếu để cái biểu đạt ngang bằng với cái được biểu đạt thì nghệ thuật sẽ không còn là nghệ thuật nữa.

Trong xây dựng tính cách nhân vật, khát vọng gửi gắm những suy nghĩ của mình đến với người đọc rất mạnh mẽ, đầy tâm huyết và nhiệt tình đã khiến nhà văn Trương Văn Dân thiên về thi pháp “Schiller hóa” hơn là “Shakespeare hóa”6. Nghĩa là biến nhân vật thành những “cái loa phát thanh cho tư tưởng của nhà văn”7. Điều đó đã khiến cho nhân vật không bộc lộ được tính cách, tác phẩm cũng vì thế mà trở nên đơn điệu, không trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.

Trương Văn Dân là người am hiểu lý luận sáng tác, có vốn sống, vốn trải nghiệm phong phú. Chúng ta tin rằng, nhà văn Trương Văn Dân sẽ còn tiếp tục trao cho người đọc những bản dịch hay, những sáng tác mới - những đối thoại mới - hoàn hảo hơn, xứng đáng với tâm huyết chọn văn chương để thể hiện trách nhiệm với cuộc đời của ông.

--------------------------------------------

CHÚ THÍCH

1. Bakhtin M. (1993),  Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch), NXB Giáo dục, tr.235.

2. Tiểu thuyết đang ở dạng bản thảo

3&4. Nhất Linh, Viết và đọc tiểu thuyết,

5. Nguyễn Thị Phương Thuý, Ảnh hưởng của tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn đến tiểu thuyết ở đô thị Nam Bộ 1945-1954, http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3604%3

6. “Shakespeare hóa” là khái niệm chỉ phương thức tư duy nghệ thuật đối lập với phương thức “Schiller hóa”, nghĩa là phải “cá tính hóa nhân vật thật cụ thể, sinh động, sắc nét”… để tác phẩm văn học trở thành “thế giới của vạn tâm hồn”.

7. Đặng Thị Hảo và tgk (2004), Từ điển văn học, NXB Thế giới, tr. 1542.

Nguồn: Bài đăng trong ts Quán Văn 61  ( ra mắt ngày 13.1.2019)

N.T.T.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm