TIN TỨC

Niềm thao thức và hy vọng trong thơ Trúc Linh Lan

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-04 09:22:14
mail facebook google pos stwis
3595 lượt xem

Lê Xuân

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Trúc Linh Lan và nhiều nhà thơ nữ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là lớp nhà thơ thành danh sau 1975, như: Song Hảo, Đinh Thị Thu Vân, Thanh Nguyên, Thu Nguyệt, Ngọc Phượng, Lê Thanh My, Nguyễn Lập Em, Huỳnh Thúy Kiều, Thái Hồng… Các chị mỗi người mang một vẻ đẹp trong thơ và in đậm dấu ấn của miệt vườn sông nước giàu hoa trái và tình người đôn hậu.

Trúc Linh Lan hầu như suốt đời luôn trăn trở với những mảnh đời cơ cực khốn khó, luôn thao thức và hy vọng về cái đẹp, cái thiện lương ở mỗi con người. Tấm lòng chị lộng gió bốn phương với bạn bè và những con người, những vùng đất đã đặt chân tới từ đồng bằng sông Cửu Long tới Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc, và sang tận nước bạn Cam-pu-chia. Tất cả sự từng trãi đó được phổ vào thơ, vào tiểu thuyết và phê bình văn học.


Nhà thơ Trúc Linh Lan.

Trúc Linh Lan là bút danh (tên thật là Thạch Thị Liễu – người dân tộc Khmer), chị còn có bút danh khác là Nguyễn Thị Đồng Bằng. Là một giáo viên dạy Văn giỏi, đam mê văn chương và lúc nào cũng tận tâm tận lực với học sinh. Sau khi nghỉ hưu, người bạn đời của chị – nhà thơ Võ Minh Đường rời “cõi tạm” về miền cực lạc, chị dồn hết tâm trí làm việc thiện nguyện. Chị là “người mẹ” của mấy chục trẻ mồ côi ở nhà “Nuôi dạy trẻ Hoa Mai”, Tp. Cần Thơ. Hiện nay chị là Chủ tịch Hội nhà văn Cần Thơ, đồng thời là Chủ nhiệm Chi hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Cần Thơ, và là ủy viên Ban nhà văn nữ của Hội nhà văn Việt Nam.

Trúc Linh Lan như “con tằm rút ruột nhả tơ” cho ra đời nhiều tác phẩm với đủ thể loại: thơ, tản văn, truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình văn học… Có thể kể đến: hai tập tiểu thuyết Cuối đường tình yêu và Phượng tím (Văn nghệ Châu Đốc, 1989), hai tập biên soạn Nói với tuổi mới lớn và Người phụ nữ thanh lịch, 3 tập thơ Khoảnh khắc chiêm bao (NXB Văn nghệ, 2004), Đêm trầm tích (NXB Văn nghệ, 2005), Người đàn bà ngồi nhặt ký ức (NXB Hội Nhà văn, 2014) và 2 tập Tiểu luận và Phê bình văn học Lời tự tình của những trái tim thao thức (NXB Hội Nhà văn – Tập I, 2019 và Tập II, 2020)…

Nhưng theo tôi, chị thành công hơn cả vẫn là ở mảng Thơ. Với chị thơ luôn là hơi thở, là máu thịt, là điệu tâm hồn thổi vào câu chữ để vẽ nên những bức tranh nhiều gam màu về cuộc sống miền sông nước vùng đất Chín Rồng. Chị đã đạt nhiều giải thưởng thơ: Giải Ba thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 4 năm 2010, giải Khuyến khích cuộc thi thơ An Giang, giải Khuyến khích tập thơ Người đàn bà ngồi nhặt ký ức của Hội Văn Nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2015…

Đọc bài thơ đạt giải “Thương nhớ đồng bằng” nhà văn Nguyễn Ngọc Tuyết có những nhận xét rất chí lý: Bằng tấm lòng người con của đồng bằng, tác giả đã đưa người đọc đến với một thời “mở cõi” đầy gian khổ, hào hùng của người xưa, những người đi qua những thử thách khắc nghiệt và dữ dội của vùng đất mới để làm nên “khí phách người đồng bằng”.

Niềm thao thức, nỗi băn khoăn về cuộc sống nhọc nhằn của những người xa xứ vẫn không làm mất đi tâm hồn cao đẹp của con người. Vẫn là “nụ cười bể trời thật thà chân chất”, vẫn là nỗi nhớ, nỗi thương những cảnh đời phiêu bạt. Chị đã đưa người đọc đi từ lịch sử khẩn hoang, mở đất của Đồng bằng sông Cửu Long đến đời sống hiện thực đương đại với những câu thơ hào sảng thể hiện tính cách đặc trưng của người dân vùng châu thổ:

Đùm bọc bạn bè không nói chuyện nghĩa ơn
Trải hết lòng cùng nhau cạn chai rượu đế…
Người đồng bằng đâu cũng gọi anh em…

Bài Tâm sự với dòng sông là những lời tự sự giãi bày về cuộc đời của ba má và của chính mình.

Tôi sinh ra từ cuối thượng nguồn
Con sông mẹ oặn mình sinh nở
Tôi chào đời giữa bên bồi bên lở
Con đò khuya chếch bóng khách thương hồ.

Chị sinh ra và lớn lên ở vùng đất mang vẻ đẹp hào sảng của cha ông lắng đọng trong từng điệu lý, trong câu vọng cổ đậm điệu buồn ly hương:

Con trâu cõng tiếng sáo trên lưng
Điệu buồn ly hương của người đi mở đất
Câu thơ hóa thành câu vọng cổ,
Một miền quê để lại sau lưng
(Đêm trầm tích)

Và hình ảnh người cha ra đi kháng chiến không bao giờ trở về nữa cứ ám ảnh người mẹ, người con:

Cha qua sông rồi không về sau đêm giông bão
Mẹ ngồi chờ lõm khuyết bóng trăng khuya.

Nhưng niềm hy vọng thao thức của mẹ đã được bù lấp khi quê hương có nhiều đổi mới, chiếc cầu dây văng hiện đại Cần Thơ đã nối đôi bờ thỏa lòng mong mong ước bao đời nay:

Cầu Cần Thơ nối hai bờ thắp sáng bình minh
Ngày mai anh dẫn em đi qua đời tôi hò hẹn
Mẹ già vui, cứ tưởng một giấc mơ.

Nỗi buồn, nỗi lo và sự thao thức cứ lặp đi lặp lại ở nhiều bài viết về mùa nước nổi. Đó là cảnh nước cuốn phăng đi nhà cửa ruộng vườn, trâu bò, cá chết:

Nước tràn về cuồn cuộn cuồn cuộn
Cuốn phăng đi nhà cửa rộng vườn
Thương hạt gạo không kịp mùa sinh nở
Con cá chết chìm khóc tiếng bi thương
(Những triền đê vỡ )

Chị thương cảm và ngợi ca những con người lam lũ chống trọi với thiên nhiên quái ác để bảo vệ sự sống: “Tay đan chặn lũ trong mưa/ Mặc đói lạnh thi gan cùng thần nước”. Những lúc khó khăn nhất thì hình ảnh ông bà, ba má lại hiện lên tiếp cho nhân vật trữ tình thêm sức mạnh: “Ba chống chiếc xuồng nước mắt rưng rưng/ Trắng đồng mênh mông”.

Mỗi lần xa cố hương, nỗi nhớ lại đong đầy thì trong tâm tưởng vọng lên một tiếng đờn thật da diết gắn với hình ảnh người mẹ già với con đò, bến nước:

Người xa quê nhớ một tiếng đờn
Câu tài tử vọng miền cố xứ
Nơi có mẹ già có bến sông nắng dội
Có con đò tím ngát cuối hoàng hôn.
… Người xa quê thèm gõ nhịp song lang
Buồn đứt ruột đêm hoa cau ngan ngát
Con vạc thả ngang trời tiếng kêu lưu lạc
Khúc đờn kìm nước mắt bỗng mưa rơi
(Vọng một tiếng đờn)

Đây là sự hoài vọng về quê hương về ba má trong những năm kháng chiến gian khổ:

Tôi lớn lên bên dòng Xà No
Chiều tím biếc cánh hoa lưu lạc
Nơi mẹ tiễn chân ba ra trận
Bằng chiếc xuồng con cơm nắm mo cau.
(Câu chuyện bên dòng Xà No)

Nỗi nhớ cứ dâng đầy trong lòng người xa quê khi mùa xuân về, và những hình ảnh khắc sâu vào tâm khảm từ hồi còn bé. Một ngọn gió bấc, một cơn lũ đầu nguồn hay ngọn khói đốt đồng cùng làm xao xuyến hồn thơ:

Gió bấc tràn về… nhớ quá phương Nam
Cơn lũ đầu nguồn nghe mà thắt ruột
Ngọc khói đốt đồng qua mùa nước ngập
Em có còn nhóm lại nùn rơm?
(Xuân về trên đồng bằng Nam Bộ)

Và dù có đi đâu thì hồn thơ chị vẫn hướng về miệt vườn sông nước mà thương mà nhớ, câu “Dạ cổ hoài lang” cứ khác khoải trong tim:

Có đi đâu? Vẫn thương nhớ đồng bằng
Nơi câu dạ cổ hoài lang vang danh một vùng đất.

Sự thao thức và hoài vọng trong trái tim người thơ giàu nữ tính luôn day dứt về nỗi cô đơn sầu lắng, về “cố nhân”:

Gió thổi ngọn đèn phố đêm
Lẻ loi bóng ai trên phố
Người cũng như ta đang nhớ
Một người đã thành cố nhân.
(Gió)

Khi người yêu xa vắng hoặc khi anh đã về cõi bồng lai, nỗi nhớ dâng tràn trái tim khao khát đam mê trong nhiều đêm không ngủ, rồi biết bao câu hỏi hiện lên chỉ một mình đi tìm ẩn số, nhưng tất cả chỉ còn lại hư vô, một ảo ảnh thoáng hiện trong giấc mơ: “Vòng tay trống không/ Giọt lệ đắng cay vỡ ra thành những mảnh thủy tinh cứa vào trái tim em ứa máu” (Sinh nhật buồn)

Và từ đó, nhà thơ tự trách mình và trách người:

Tơ hồng ai bán chợ đông?
Lỡ mua vôi bạc… em cầm truân chuyên 
(Cúi nhặt nhân duyên )

Hoặc:

Người không từ biệt một lời
Áo xưa mùi cũ em ngồi ngẩn ngơ 
(Em ngồi mơ nắng những ngày sa mưa).

Đọc những vần thơ này ta càng cảm phục biết bao người phụ nữ khát khao yêu thương, chịu nhiều bất hạnh. Song họ vẫn không bị “hóa đá” như những nàng Tô Thị ngày xưa, mà vẫn giấu đi những nghẹn ngào, vượt lên bao nghịch cảnh để sống và hy vọng với cuộc đời. Nó bộc lộ một cái Tôi chân thành, rất đời thường của người phụ nữ Nam Bộ:

Kiếp hường nhan lắm lao đao
Luồn kim se chỉ nghẹn ngào tâm tư.

Biết bao hồi tưởng đẹp và buồn cứ ám ảnh trong tâm tưởng “Người đàn bà ngồi nhặt ký ức”. Nó hiện lên suốt đêm trường vò võ cô đơn suốt “hai mươi mùa xuân trôi”. Nhân vật trữ tình cứ ngồi đếm thơi gian, đếm lá rơi, đếm sương, đếm gió, đếm từng sợi tóc rơi, đếm từng chùm hoa sầu đông “lất phất sợi buồn”, “lất phất sợi hy vọng” mong tìm kiếm một niềm vui an ủi dù nhỏ nhoi: “Cày lên hạt mầm tình yêu/ Ủ trong men nồng/ Ủ trong lửa nóng/ Hãy tan ra/ Trái tim ấm áp một thời để yêu thương, để rung lên những cung bậc ái ân/ Nửa đời người nuối tiếc”. Tôi có cảm giác như nhân vật trữ tình đang muốn phá tung cái ẩn ức lâu nay bị nhốt trong lồng tưởng đã chai sạn, đã đóng băng của những đêm tối mùa đông để vươn mình bước ra ánh sáng mùa xuân, thổi bùng lên ngọn lửa ấm áp của tình yêu, cho dù ngọn lửa ấy đã tắt lâu rồi. Nhưng cuối cùng chỉ thấy “tàn tro” mà vẫn làm bỏng rát bàn tay, bỏng rát trái tim cô đơn yếu đuối. Cái buồn lại dâng cao:

“Những giọt nước mắt,
rơi…
Sợi tóc hoàng hôn,
rơi…
Người đàn bà ngồi nhặt,
Ký ức”.

Biết bao nỗi buồn không tên, cứ ùa về nhưng người thơ cố “gấp lại ký ức”, xếp nỗi buồn, “đặt nụ cười vào hộp , “cất niềm vui nắng mưa”… để lắng nghe một tiếng chuông chùa xa xăm tưởng như một kiếp luân hồi, và trở về thực tại, bừng tỉnh bước tới cõi Thiền, mong “lật từng tràng hạt” để nghe “Một hồi kinh… ngậm ngùi”. Nhưng cuối cùng nỗi buồn cũng “đập cánh” bay đi để người thơ nhận làm người “phu chữ”, làm kẻ “ăn mày văn chương”, “gói kỷ niệm ném vào chùm mây trằng”, “nhắm mắt trong đêm nguyệt thực” và trở về “cõi thực” vui với “mùa chim sáo gọi”, vui với bạn thơ…

Đúng như nhà thơ Phùng Quán đã nói: “Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ và đứng dậy”. Và đôi chân của chị lại “chân cứng đá mềm” cùng bạn văn đi khắp mọi miền đất nước tìm cảm hứng cho thơ, và lao vào công việc để quên đi những nghịch cảnh của cuộc đời.

Những niềm thao thức và hy vọng trong thơ Trúc Linh Lan cứ đan xen như một bức tranh nhiều sắc màu, đôi khi như tranh siêu thực. Càng đọc, càng ngẫm thì tiếng vọng xa xăm của những cung bậc ký ức cứ hiện về văng vẳng bên tai khi da diết như điệu buồn phương Nam, khi chập chờn như đàn cá nhảy mùa nước nổi và neo lại trong tâm trí ta một vẻ buồn và đẹp. Đó là cái buồn không bi lụy, nó luôn thắp sáng niềm tin và hy vọng ở con người và cuộc sống.

Thơ Trúc Linh Lan luôn có sự kết hợp giữa tính hiện thực và cảm hứng lãng mạn, không cầu kỳ đánh bóng hay làm dáng làm duyên mà chỉ bằng những câu chữ đời thường đậm chất dân gian Nam Bộ được chọn lọc, được nâng lên theo cảm xúc để truyền đi thông điệp về tình yêu quê hương, gia đình, bè bạn và trách nhiệm công dân trước nhiều vấn đề của xã hội, con người và đất nước. Thơ chị dung dị như hơi thở, như tiếng nói nhỏ nhẹ, dịu dàng, đôn hậu đầy nữ tính của người con gái vùng đất Chín Rồng.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm