TIN TỨC

Niềm thao thức và hy vọng trong thơ Trúc Linh Lan

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-04 09:22:14
mail facebook google pos stwis
3199 lượt xem

Lê Xuân

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Trúc Linh Lan và nhiều nhà thơ nữ khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là lớp nhà thơ thành danh sau 1975, như: Song Hảo, Đinh Thị Thu Vân, Thanh Nguyên, Thu Nguyệt, Ngọc Phượng, Lê Thanh My, Nguyễn Lập Em, Huỳnh Thúy Kiều, Thái Hồng… Các chị mỗi người mang một vẻ đẹp trong thơ và in đậm dấu ấn của miệt vườn sông nước giàu hoa trái và tình người đôn hậu.

Trúc Linh Lan hầu như suốt đời luôn trăn trở với những mảnh đời cơ cực khốn khó, luôn thao thức và hy vọng về cái đẹp, cái thiện lương ở mỗi con người. Tấm lòng chị lộng gió bốn phương với bạn bè và những con người, những vùng đất đã đặt chân tới từ đồng bằng sông Cửu Long tới Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc, và sang tận nước bạn Cam-pu-chia. Tất cả sự từng trãi đó được phổ vào thơ, vào tiểu thuyết và phê bình văn học.


Nhà thơ Trúc Linh Lan.

Trúc Linh Lan là bút danh (tên thật là Thạch Thị Liễu – người dân tộc Khmer), chị còn có bút danh khác là Nguyễn Thị Đồng Bằng. Là một giáo viên dạy Văn giỏi, đam mê văn chương và lúc nào cũng tận tâm tận lực với học sinh. Sau khi nghỉ hưu, người bạn đời của chị – nhà thơ Võ Minh Đường rời “cõi tạm” về miền cực lạc, chị dồn hết tâm trí làm việc thiện nguyện. Chị là “người mẹ” của mấy chục trẻ mồ côi ở nhà “Nuôi dạy trẻ Hoa Mai”, Tp. Cần Thơ. Hiện nay chị là Chủ tịch Hội nhà văn Cần Thơ, đồng thời là Chủ nhiệm Chi hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Cần Thơ, và là ủy viên Ban nhà văn nữ của Hội nhà văn Việt Nam.

Trúc Linh Lan như “con tằm rút ruột nhả tơ” cho ra đời nhiều tác phẩm với đủ thể loại: thơ, tản văn, truyện ngắn, tiểu thuyết, phê bình văn học… Có thể kể đến: hai tập tiểu thuyết Cuối đường tình yêu và Phượng tím (Văn nghệ Châu Đốc, 1989), hai tập biên soạn Nói với tuổi mới lớn và Người phụ nữ thanh lịch, 3 tập thơ Khoảnh khắc chiêm bao (NXB Văn nghệ, 2004), Đêm trầm tích (NXB Văn nghệ, 2005), Người đàn bà ngồi nhặt ký ức (NXB Hội Nhà văn, 2014) và 2 tập Tiểu luận và Phê bình văn học Lời tự tình của những trái tim thao thức (NXB Hội Nhà văn – Tập I, 2019 và Tập II, 2020)…

Nhưng theo tôi, chị thành công hơn cả vẫn là ở mảng Thơ. Với chị thơ luôn là hơi thở, là máu thịt, là điệu tâm hồn thổi vào câu chữ để vẽ nên những bức tranh nhiều gam màu về cuộc sống miền sông nước vùng đất Chín Rồng. Chị đã đạt nhiều giải thưởng thơ: Giải Ba thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 4 năm 2010, giải Khuyến khích cuộc thi thơ An Giang, giải Khuyến khích tập thơ Người đàn bà ngồi nhặt ký ức của Hội Văn Nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2015…

Đọc bài thơ đạt giải “Thương nhớ đồng bằng” nhà văn Nguyễn Ngọc Tuyết có những nhận xét rất chí lý: Bằng tấm lòng người con của đồng bằng, tác giả đã đưa người đọc đến với một thời “mở cõi” đầy gian khổ, hào hùng của người xưa, những người đi qua những thử thách khắc nghiệt và dữ dội của vùng đất mới để làm nên “khí phách người đồng bằng”.

Niềm thao thức, nỗi băn khoăn về cuộc sống nhọc nhằn của những người xa xứ vẫn không làm mất đi tâm hồn cao đẹp của con người. Vẫn là “nụ cười bể trời thật thà chân chất”, vẫn là nỗi nhớ, nỗi thương những cảnh đời phiêu bạt. Chị đã đưa người đọc đi từ lịch sử khẩn hoang, mở đất của Đồng bằng sông Cửu Long đến đời sống hiện thực đương đại với những câu thơ hào sảng thể hiện tính cách đặc trưng của người dân vùng châu thổ:

Đùm bọc bạn bè không nói chuyện nghĩa ơn
Trải hết lòng cùng nhau cạn chai rượu đế…
Người đồng bằng đâu cũng gọi anh em…

Bài Tâm sự với dòng sông là những lời tự sự giãi bày về cuộc đời của ba má và của chính mình.

Tôi sinh ra từ cuối thượng nguồn
Con sông mẹ oặn mình sinh nở
Tôi chào đời giữa bên bồi bên lở
Con đò khuya chếch bóng khách thương hồ.

Chị sinh ra và lớn lên ở vùng đất mang vẻ đẹp hào sảng của cha ông lắng đọng trong từng điệu lý, trong câu vọng cổ đậm điệu buồn ly hương:

Con trâu cõng tiếng sáo trên lưng
Điệu buồn ly hương của người đi mở đất
Câu thơ hóa thành câu vọng cổ,
Một miền quê để lại sau lưng
(Đêm trầm tích)

Và hình ảnh người cha ra đi kháng chiến không bao giờ trở về nữa cứ ám ảnh người mẹ, người con:

Cha qua sông rồi không về sau đêm giông bão
Mẹ ngồi chờ lõm khuyết bóng trăng khuya.

Nhưng niềm hy vọng thao thức của mẹ đã được bù lấp khi quê hương có nhiều đổi mới, chiếc cầu dây văng hiện đại Cần Thơ đã nối đôi bờ thỏa lòng mong mong ước bao đời nay:

Cầu Cần Thơ nối hai bờ thắp sáng bình minh
Ngày mai anh dẫn em đi qua đời tôi hò hẹn
Mẹ già vui, cứ tưởng một giấc mơ.

Nỗi buồn, nỗi lo và sự thao thức cứ lặp đi lặp lại ở nhiều bài viết về mùa nước nổi. Đó là cảnh nước cuốn phăng đi nhà cửa ruộng vườn, trâu bò, cá chết:

Nước tràn về cuồn cuộn cuồn cuộn
Cuốn phăng đi nhà cửa rộng vườn
Thương hạt gạo không kịp mùa sinh nở
Con cá chết chìm khóc tiếng bi thương
(Những triền đê vỡ )

Chị thương cảm và ngợi ca những con người lam lũ chống trọi với thiên nhiên quái ác để bảo vệ sự sống: “Tay đan chặn lũ trong mưa/ Mặc đói lạnh thi gan cùng thần nước”. Những lúc khó khăn nhất thì hình ảnh ông bà, ba má lại hiện lên tiếp cho nhân vật trữ tình thêm sức mạnh: “Ba chống chiếc xuồng nước mắt rưng rưng/ Trắng đồng mênh mông”.

Mỗi lần xa cố hương, nỗi nhớ lại đong đầy thì trong tâm tưởng vọng lên một tiếng đờn thật da diết gắn với hình ảnh người mẹ già với con đò, bến nước:

Người xa quê nhớ một tiếng đờn
Câu tài tử vọng miền cố xứ
Nơi có mẹ già có bến sông nắng dội
Có con đò tím ngát cuối hoàng hôn.
… Người xa quê thèm gõ nhịp song lang
Buồn đứt ruột đêm hoa cau ngan ngát
Con vạc thả ngang trời tiếng kêu lưu lạc
Khúc đờn kìm nước mắt bỗng mưa rơi
(Vọng một tiếng đờn)

Đây là sự hoài vọng về quê hương về ba má trong những năm kháng chiến gian khổ:

Tôi lớn lên bên dòng Xà No
Chiều tím biếc cánh hoa lưu lạc
Nơi mẹ tiễn chân ba ra trận
Bằng chiếc xuồng con cơm nắm mo cau.
(Câu chuyện bên dòng Xà No)

Nỗi nhớ cứ dâng đầy trong lòng người xa quê khi mùa xuân về, và những hình ảnh khắc sâu vào tâm khảm từ hồi còn bé. Một ngọn gió bấc, một cơn lũ đầu nguồn hay ngọn khói đốt đồng cùng làm xao xuyến hồn thơ:

Gió bấc tràn về… nhớ quá phương Nam
Cơn lũ đầu nguồn nghe mà thắt ruột
Ngọc khói đốt đồng qua mùa nước ngập
Em có còn nhóm lại nùn rơm?
(Xuân về trên đồng bằng Nam Bộ)

Và dù có đi đâu thì hồn thơ chị vẫn hướng về miệt vườn sông nước mà thương mà nhớ, câu “Dạ cổ hoài lang” cứ khác khoải trong tim:

Có đi đâu? Vẫn thương nhớ đồng bằng
Nơi câu dạ cổ hoài lang vang danh một vùng đất.

Sự thao thức và hoài vọng trong trái tim người thơ giàu nữ tính luôn day dứt về nỗi cô đơn sầu lắng, về “cố nhân”:

Gió thổi ngọn đèn phố đêm
Lẻ loi bóng ai trên phố
Người cũng như ta đang nhớ
Một người đã thành cố nhân.
(Gió)

Khi người yêu xa vắng hoặc khi anh đã về cõi bồng lai, nỗi nhớ dâng tràn trái tim khao khát đam mê trong nhiều đêm không ngủ, rồi biết bao câu hỏi hiện lên chỉ một mình đi tìm ẩn số, nhưng tất cả chỉ còn lại hư vô, một ảo ảnh thoáng hiện trong giấc mơ: “Vòng tay trống không/ Giọt lệ đắng cay vỡ ra thành những mảnh thủy tinh cứa vào trái tim em ứa máu” (Sinh nhật buồn)

Và từ đó, nhà thơ tự trách mình và trách người:

Tơ hồng ai bán chợ đông?
Lỡ mua vôi bạc… em cầm truân chuyên 
(Cúi nhặt nhân duyên )

Hoặc:

Người không từ biệt một lời
Áo xưa mùi cũ em ngồi ngẩn ngơ 
(Em ngồi mơ nắng những ngày sa mưa).

Đọc những vần thơ này ta càng cảm phục biết bao người phụ nữ khát khao yêu thương, chịu nhiều bất hạnh. Song họ vẫn không bị “hóa đá” như những nàng Tô Thị ngày xưa, mà vẫn giấu đi những nghẹn ngào, vượt lên bao nghịch cảnh để sống và hy vọng với cuộc đời. Nó bộc lộ một cái Tôi chân thành, rất đời thường của người phụ nữ Nam Bộ:

Kiếp hường nhan lắm lao đao
Luồn kim se chỉ nghẹn ngào tâm tư.

Biết bao hồi tưởng đẹp và buồn cứ ám ảnh trong tâm tưởng “Người đàn bà ngồi nhặt ký ức”. Nó hiện lên suốt đêm trường vò võ cô đơn suốt “hai mươi mùa xuân trôi”. Nhân vật trữ tình cứ ngồi đếm thơi gian, đếm lá rơi, đếm sương, đếm gió, đếm từng sợi tóc rơi, đếm từng chùm hoa sầu đông “lất phất sợi buồn”, “lất phất sợi hy vọng” mong tìm kiếm một niềm vui an ủi dù nhỏ nhoi: “Cày lên hạt mầm tình yêu/ Ủ trong men nồng/ Ủ trong lửa nóng/ Hãy tan ra/ Trái tim ấm áp một thời để yêu thương, để rung lên những cung bậc ái ân/ Nửa đời người nuối tiếc”. Tôi có cảm giác như nhân vật trữ tình đang muốn phá tung cái ẩn ức lâu nay bị nhốt trong lồng tưởng đã chai sạn, đã đóng băng của những đêm tối mùa đông để vươn mình bước ra ánh sáng mùa xuân, thổi bùng lên ngọn lửa ấm áp của tình yêu, cho dù ngọn lửa ấy đã tắt lâu rồi. Nhưng cuối cùng chỉ thấy “tàn tro” mà vẫn làm bỏng rát bàn tay, bỏng rát trái tim cô đơn yếu đuối. Cái buồn lại dâng cao:

“Những giọt nước mắt,
rơi…
Sợi tóc hoàng hôn,
rơi…
Người đàn bà ngồi nhặt,
Ký ức”.

Biết bao nỗi buồn không tên, cứ ùa về nhưng người thơ cố “gấp lại ký ức”, xếp nỗi buồn, “đặt nụ cười vào hộp , “cất niềm vui nắng mưa”… để lắng nghe một tiếng chuông chùa xa xăm tưởng như một kiếp luân hồi, và trở về thực tại, bừng tỉnh bước tới cõi Thiền, mong “lật từng tràng hạt” để nghe “Một hồi kinh… ngậm ngùi”. Nhưng cuối cùng nỗi buồn cũng “đập cánh” bay đi để người thơ nhận làm người “phu chữ”, làm kẻ “ăn mày văn chương”, “gói kỷ niệm ném vào chùm mây trằng”, “nhắm mắt trong đêm nguyệt thực” và trở về “cõi thực” vui với “mùa chim sáo gọi”, vui với bạn thơ…

Đúng như nhà thơ Phùng Quán đã nói: “Có những phút ngã lòng/ Tôi vịn câu thơ và đứng dậy”. Và đôi chân của chị lại “chân cứng đá mềm” cùng bạn văn đi khắp mọi miền đất nước tìm cảm hứng cho thơ, và lao vào công việc để quên đi những nghịch cảnh của cuộc đời.

Những niềm thao thức và hy vọng trong thơ Trúc Linh Lan cứ đan xen như một bức tranh nhiều sắc màu, đôi khi như tranh siêu thực. Càng đọc, càng ngẫm thì tiếng vọng xa xăm của những cung bậc ký ức cứ hiện về văng vẳng bên tai khi da diết như điệu buồn phương Nam, khi chập chờn như đàn cá nhảy mùa nước nổi và neo lại trong tâm trí ta một vẻ buồn và đẹp. Đó là cái buồn không bi lụy, nó luôn thắp sáng niềm tin và hy vọng ở con người và cuộc sống.

Thơ Trúc Linh Lan luôn có sự kết hợp giữa tính hiện thực và cảm hứng lãng mạn, không cầu kỳ đánh bóng hay làm dáng làm duyên mà chỉ bằng những câu chữ đời thường đậm chất dân gian Nam Bộ được chọn lọc, được nâng lên theo cảm xúc để truyền đi thông điệp về tình yêu quê hương, gia đình, bè bạn và trách nhiệm công dân trước nhiều vấn đề của xã hội, con người và đất nước. Thơ chị dung dị như hơi thở, như tiếng nói nhỏ nhẹ, dịu dàng, đôn hậu đầy nữ tính của người con gái vùng đất Chín Rồng.

L.X

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm