TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 19:34:53
mail facebook google pos stwis
213 lượt xem

NGUYỄN NGỌC TRÍ

Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.

Nhan đề của cuốn sách đã gợi ra một nghịch lí đầy ám ảnh. Trăng vốn là thứ ánh sáng dịu dàng nhất trong trí tưởng tượng Á Đông, nhưng ở đây, ánh trăng ấy không tạo ra bóng. Một thế giới như thế sẽ ra sao. Khi không còn bóng tối để che giấu, con người buộc phải đối diện trực tiếp với chính mình. Chính ý niệm ấy âm thầm dẫn dắt toàn bộ cuốn tiểu thuyết.

Tác phẩm của Tô Giang không chạy theo nhịp kể gấp gáp của dòng tiểu thuyết hình sự quen thuộc. Nó chậm rãi, kiên nhẫn, gần như một cuộc lần dò vào tâm địa con người. Điều khiến người đọc bị cuốn vào cuốn sách này không phải là sự hồi hộp của cốt truyện, mà là sự mê hoặc của ngôn từ và những lớp ý tứ được cài đặt khéo léo trong từng chuyển động của câu chuyện.

 

Tiểu thuyết "Nơi trăng không hắt bóng" đoạt giải C cuộc thi tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống lần thứ 5 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức.

 

Ở trung tâm của tiểu thuyết là những con người phải sống và lựa chọn trong những vùng xám của đạo đức. Nhân vật Hà An một nữ sĩ quan công an, không được xây dựng như biểu tượng anh hùng quen thuộc. Cô hiện ra trước người đọc với đầy đủ những rung động, những do dự và những nỗi cô độc mà bất cứ con người nào cũng có thể trải qua. Chính sự mong manh đó khiến nhân vật trở nên thật.

Nhưng điều đáng nói hơn nằm ở cách tác giả triển khai mạng lưới nhân vật phụ. Trong nhiều tiểu thuyết, nhân vật phụ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Ở Nơi trăng không hắt bóng, họ giống như những chiếc gương phản chiếu nhiều chiều của thế giới đạo đức mà cuốn sách đang đặt ra. Nhân vật Thục là một ví dụ tiêu biểu. Xuất hiện không quá nhiều, nhưng mỗi lần hiện diện, Thục lại mở ra một góc nhìn khác về thân phận con người trong hệ thống quyền lực và luật lệ. Ở Thục có một sự mềm yếu rất đời, nhưng cũng có một thứ bền bỉ âm thầm thứ bền bỉ của những con người buộc phải tồn tại trong những hoàn cảnh không do mình lựa chọn. Bên cạnh đó là hình ảnh ông Giám thị và Phó Giám thị Văn Đức. Nếu nhìn từ bên ngoài, họ là những nhân vật đại diện cho trật tự và kỉ luật. Nhưng dưới ngòi bút của Tô Giang, họ không bị giản lược thành những biểu tượng cứng nhắc. Trái lại, mỗi người đều mang trong mình những lớp tâm trạng riêng. Ông Giám thị hiện ra với dáng vẻ của một người đã đi qua nhiều năm tháng của nghề nghiệp nơi công lí không phải lúc nào cũng sáng rõ như những điều ghi trong văn bản pháp luật. Trong khi đó, Phó Giám thị Văn Đức lại mang một sắc thái khác: thực tế hơn, đôi khi lạnh lùng hơn, nhưng chính sự lạnh lùng ấy lại khiến nhân vật trở nên đáng tin trong logic của câu chuyện.

Tuy nhiên, nếu nói đến yếu tố tạo nên chiều sâu huyền thoại cho cuốn tiểu thuyết, không thể không nhắc đến già làng Ama Krông.

Ama Krông bước vào câu chuyện như một bóng dáng của núi rừng Tây Nguyên. Ở ông có sự uy nghi của một người gìn giữ kí ức của bản làng Ê đê. Mỗi lần nhân vật này xuất hiện, giọng kể của cuốn tiểu thuyết dường như chậm lại, trầm xuống, như thể đang bước vào một không gian linh thiêng. Bản làng Ê đê trong tác phẩm không chỉ là bối cảnh địa lí. Nó mang một màu sắc huyền bí, gần như huyền thoại. Những nghi lễ, những câu chuyện truyền đời, những niềm tin cổ xưa tất cả tạo nên một lớp nền văn hóa dày đặc. Và ở trung tâm của lớp nền đó là ngôi đền cổ nơi cất giữ bí mật của "Moonlight". Ngôi đền ấy giống như một biểu tượng thẩm mĩ của cuốn sách. Nó không được giải thích tường tận, cũng không bị biến thành một chi tiết kịch tính đơn thuần. Tác giả để cho nó tồn tại như một điểm mờ đầy ám ảnh. Người đọc có thể cảm nhận rằng nơi ấy không chỉ lưu giữ một bí mật cụ thể, mà còn lưu giữ những tầng sâu của kí ức và niềm tin. Chính sự tiết chế này khiến cuốn tiểu thuyết mang một sức hút đặc biệt. Tô Giang không vội vàng giải thích. Anh để lại những khoảng trống và chính những khoảng trống ấy khiến trí tưởng tượng của người đọc hoạt động.

Một điểm đáng chú ý khác là cách tác giả sử dụng ngôn ngữ.

Ngôn từ trong Nơi trăng không hắt bóng không phô trương. Nó mềm, chậm, và nhiều khi mang sắc thái của một dòng suy tưởng. Nhưng chính sự mềm mại đó lại tạo nên sức nặng. Như nhà văn Sương Nguyệt Minh đánh giá "Tác phẩm còn dẫn dụ người đọc bằng chất văn tươi xanh, giàu ẩn dụ, đậm triết luận và có chiều sâu suy tư. Đây là những trang viết khác biệt, rất ấn tượng và mạnh mẽ đột sáng." Có những đoạn văn đọc lên giống như một khúc độc thoại nội tâm. Ở đó, câu chuyện tạm lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những suy nghĩ về thân phận con người, về công lí, về sự cô độc của những người phải sống giữa những quy tắc cứng rắn.

Đó là lúc cuốn tiểu thuyết vượt ra khỏi khuôn khổ của một câu chuyện điều tra. Nó trở thành một cuộc suy tư về con người.

 

Tác giả Tô Giang.

 

Vì thế, đọc Nơi trăng không hắt bóng, người ta có cảm giác đang đi trong một không gian nửa hiện thực, nửa huyền tưởng. Những nhân vật rất đời thường, nhưng bối cảnh và biểu tượng lại mang sắc thái gần với huyền thoại. Sự kết hợp này tạo nên một chất văn hiếm gặp trong dòng tiểu thuyết viết về lực lượng công an. Ở đây không có những chiến công được kể bằng giọng điệu hùng tráng. Thay vào đó là những con người phải đối diện với chính mình, đôi khi trong im lặng. Có lẽ chính vì vậy mà nhan đề Nơi trăng không hắt bóng trở nên đặc biệt phù hợp. Đó là một thứ ánh sáng không phô trương nhưng nó chiếu thẳng vào nội tâm. Và khi ánh sáng ấy xuất hiện, mọi điều giấu kín trong con người đều hiện ra. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ nhận xét: "Cuốn tiểu thuyết hấp dẫn người đọc từ trang đầu tiên đến dòng cuối cùng. Giống như ta vừa được gió trong sách cuốn trôi, hương trong chữ giữ lại - hoá vào từng thân phận để đắm chìm trong khổ đau và tan chảy cùng tình yêu của họ. Đây như một quả cầu nhiều mặt - trọn vẹn về nhiều nghĩa. Một cuốn sách có thể đọc nhiều lần, dù mình biết câu chuyện với những nhân vật đó, nhưng mỗi lần đọc, lại thêm một lần mở cửa đi vào lối mới."

Trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện nay, nơi nhiều tiểu thuyết vẫn còn bị ràng buộc bởi những công thức quen thuộc, cuốn sách này mang lại một cảm giác khác. Nó cho thấy tiểu thuyết về đề tài công an hoàn toàn có thể bước sang một địa hạt rộng hơn địa hạt của triết học về thân phận.

Nơi trăng không hắt bóng vì thế không chỉ là câu chuyện về những con người cụ thể. Nó là câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người. Và ở nơi ánh trăng không hắt bóng ấy, người đọc buộc phải tự hỏi: điều gì trong chúng ta sẽ còn lại khi mọi bóng tối biến mất?

N.N.T

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm