TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 19:34:53
mail facebook google pos stwis
335 lượt xem

NGUYỄN NGỌC TRÍ

Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.

Nhan đề của cuốn sách đã gợi ra một nghịch lí đầy ám ảnh. Trăng vốn là thứ ánh sáng dịu dàng nhất trong trí tưởng tượng Á Đông, nhưng ở đây, ánh trăng ấy không tạo ra bóng. Một thế giới như thế sẽ ra sao. Khi không còn bóng tối để che giấu, con người buộc phải đối diện trực tiếp với chính mình. Chính ý niệm ấy âm thầm dẫn dắt toàn bộ cuốn tiểu thuyết.

Tác phẩm của Tô Giang không chạy theo nhịp kể gấp gáp của dòng tiểu thuyết hình sự quen thuộc. Nó chậm rãi, kiên nhẫn, gần như một cuộc lần dò vào tâm địa con người. Điều khiến người đọc bị cuốn vào cuốn sách này không phải là sự hồi hộp của cốt truyện, mà là sự mê hoặc của ngôn từ và những lớp ý tứ được cài đặt khéo léo trong từng chuyển động của câu chuyện.

 

Tiểu thuyết "Nơi trăng không hắt bóng" đoạt giải C cuộc thi tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống lần thứ 5 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức.

 

Ở trung tâm của tiểu thuyết là những con người phải sống và lựa chọn trong những vùng xám của đạo đức. Nhân vật Hà An một nữ sĩ quan công an, không được xây dựng như biểu tượng anh hùng quen thuộc. Cô hiện ra trước người đọc với đầy đủ những rung động, những do dự và những nỗi cô độc mà bất cứ con người nào cũng có thể trải qua. Chính sự mong manh đó khiến nhân vật trở nên thật.

Nhưng điều đáng nói hơn nằm ở cách tác giả triển khai mạng lưới nhân vật phụ. Trong nhiều tiểu thuyết, nhân vật phụ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Ở Nơi trăng không hắt bóng, họ giống như những chiếc gương phản chiếu nhiều chiều của thế giới đạo đức mà cuốn sách đang đặt ra. Nhân vật Thục là một ví dụ tiêu biểu. Xuất hiện không quá nhiều, nhưng mỗi lần hiện diện, Thục lại mở ra một góc nhìn khác về thân phận con người trong hệ thống quyền lực và luật lệ. Ở Thục có một sự mềm yếu rất đời, nhưng cũng có một thứ bền bỉ âm thầm thứ bền bỉ của những con người buộc phải tồn tại trong những hoàn cảnh không do mình lựa chọn. Bên cạnh đó là hình ảnh ông Giám thị và Phó Giám thị Văn Đức. Nếu nhìn từ bên ngoài, họ là những nhân vật đại diện cho trật tự và kỉ luật. Nhưng dưới ngòi bút của Tô Giang, họ không bị giản lược thành những biểu tượng cứng nhắc. Trái lại, mỗi người đều mang trong mình những lớp tâm trạng riêng. Ông Giám thị hiện ra với dáng vẻ của một người đã đi qua nhiều năm tháng của nghề nghiệp nơi công lí không phải lúc nào cũng sáng rõ như những điều ghi trong văn bản pháp luật. Trong khi đó, Phó Giám thị Văn Đức lại mang một sắc thái khác: thực tế hơn, đôi khi lạnh lùng hơn, nhưng chính sự lạnh lùng ấy lại khiến nhân vật trở nên đáng tin trong logic của câu chuyện.

Tuy nhiên, nếu nói đến yếu tố tạo nên chiều sâu huyền thoại cho cuốn tiểu thuyết, không thể không nhắc đến già làng Ama Krông.

Ama Krông bước vào câu chuyện như một bóng dáng của núi rừng Tây Nguyên. Ở ông có sự uy nghi của một người gìn giữ kí ức của bản làng Ê đê. Mỗi lần nhân vật này xuất hiện, giọng kể của cuốn tiểu thuyết dường như chậm lại, trầm xuống, như thể đang bước vào một không gian linh thiêng. Bản làng Ê đê trong tác phẩm không chỉ là bối cảnh địa lí. Nó mang một màu sắc huyền bí, gần như huyền thoại. Những nghi lễ, những câu chuyện truyền đời, những niềm tin cổ xưa tất cả tạo nên một lớp nền văn hóa dày đặc. Và ở trung tâm của lớp nền đó là ngôi đền cổ nơi cất giữ bí mật của "Moonlight". Ngôi đền ấy giống như một biểu tượng thẩm mĩ của cuốn sách. Nó không được giải thích tường tận, cũng không bị biến thành một chi tiết kịch tính đơn thuần. Tác giả để cho nó tồn tại như một điểm mờ đầy ám ảnh. Người đọc có thể cảm nhận rằng nơi ấy không chỉ lưu giữ một bí mật cụ thể, mà còn lưu giữ những tầng sâu của kí ức và niềm tin. Chính sự tiết chế này khiến cuốn tiểu thuyết mang một sức hút đặc biệt. Tô Giang không vội vàng giải thích. Anh để lại những khoảng trống và chính những khoảng trống ấy khiến trí tưởng tượng của người đọc hoạt động.

Một điểm đáng chú ý khác là cách tác giả sử dụng ngôn ngữ.

Ngôn từ trong Nơi trăng không hắt bóng không phô trương. Nó mềm, chậm, và nhiều khi mang sắc thái của một dòng suy tưởng. Nhưng chính sự mềm mại đó lại tạo nên sức nặng. Như nhà văn Sương Nguyệt Minh đánh giá "Tác phẩm còn dẫn dụ người đọc bằng chất văn tươi xanh, giàu ẩn dụ, đậm triết luận và có chiều sâu suy tư. Đây là những trang viết khác biệt, rất ấn tượng và mạnh mẽ đột sáng." Có những đoạn văn đọc lên giống như một khúc độc thoại nội tâm. Ở đó, câu chuyện tạm lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những suy nghĩ về thân phận con người, về công lí, về sự cô độc của những người phải sống giữa những quy tắc cứng rắn.

Đó là lúc cuốn tiểu thuyết vượt ra khỏi khuôn khổ của một câu chuyện điều tra. Nó trở thành một cuộc suy tư về con người.

 

Tác giả Tô Giang.

 

Vì thế, đọc Nơi trăng không hắt bóng, người ta có cảm giác đang đi trong một không gian nửa hiện thực, nửa huyền tưởng. Những nhân vật rất đời thường, nhưng bối cảnh và biểu tượng lại mang sắc thái gần với huyền thoại. Sự kết hợp này tạo nên một chất văn hiếm gặp trong dòng tiểu thuyết viết về lực lượng công an. Ở đây không có những chiến công được kể bằng giọng điệu hùng tráng. Thay vào đó là những con người phải đối diện với chính mình, đôi khi trong im lặng. Có lẽ chính vì vậy mà nhan đề Nơi trăng không hắt bóng trở nên đặc biệt phù hợp. Đó là một thứ ánh sáng không phô trương nhưng nó chiếu thẳng vào nội tâm. Và khi ánh sáng ấy xuất hiện, mọi điều giấu kín trong con người đều hiện ra. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ nhận xét: "Cuốn tiểu thuyết hấp dẫn người đọc từ trang đầu tiên đến dòng cuối cùng. Giống như ta vừa được gió trong sách cuốn trôi, hương trong chữ giữ lại - hoá vào từng thân phận để đắm chìm trong khổ đau và tan chảy cùng tình yêu của họ. Đây như một quả cầu nhiều mặt - trọn vẹn về nhiều nghĩa. Một cuốn sách có thể đọc nhiều lần, dù mình biết câu chuyện với những nhân vật đó, nhưng mỗi lần đọc, lại thêm một lần mở cửa đi vào lối mới."

Trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện nay, nơi nhiều tiểu thuyết vẫn còn bị ràng buộc bởi những công thức quen thuộc, cuốn sách này mang lại một cảm giác khác. Nó cho thấy tiểu thuyết về đề tài công an hoàn toàn có thể bước sang một địa hạt rộng hơn địa hạt của triết học về thân phận.

Nơi trăng không hắt bóng vì thế không chỉ là câu chuyện về những con người cụ thể. Nó là câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người. Và ở nơi ánh trăng không hắt bóng ấy, người đọc buộc phải tự hỏi: điều gì trong chúng ta sẽ còn lại khi mọi bóng tối biến mất?

N.N.T

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm