TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 19:34:53
mail facebook google pos stwis
569 lượt xem

NGUYỄN NGỌC TRÍ

Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.

Nhan đề của cuốn sách đã gợi ra một nghịch lí đầy ám ảnh. Trăng vốn là thứ ánh sáng dịu dàng nhất trong trí tưởng tượng Á Đông, nhưng ở đây, ánh trăng ấy không tạo ra bóng. Một thế giới như thế sẽ ra sao. Khi không còn bóng tối để che giấu, con người buộc phải đối diện trực tiếp với chính mình. Chính ý niệm ấy âm thầm dẫn dắt toàn bộ cuốn tiểu thuyết.

Tác phẩm của Tô Giang không chạy theo nhịp kể gấp gáp của dòng tiểu thuyết hình sự quen thuộc. Nó chậm rãi, kiên nhẫn, gần như một cuộc lần dò vào tâm địa con người. Điều khiến người đọc bị cuốn vào cuốn sách này không phải là sự hồi hộp của cốt truyện, mà là sự mê hoặc của ngôn từ và những lớp ý tứ được cài đặt khéo léo trong từng chuyển động của câu chuyện.

 

Tiểu thuyết "Nơi trăng không hắt bóng" đoạt giải C cuộc thi tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống lần thứ 5 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức.

 

Ở trung tâm của tiểu thuyết là những con người phải sống và lựa chọn trong những vùng xám của đạo đức. Nhân vật Hà An một nữ sĩ quan công an, không được xây dựng như biểu tượng anh hùng quen thuộc. Cô hiện ra trước người đọc với đầy đủ những rung động, những do dự và những nỗi cô độc mà bất cứ con người nào cũng có thể trải qua. Chính sự mong manh đó khiến nhân vật trở nên thật.

Nhưng điều đáng nói hơn nằm ở cách tác giả triển khai mạng lưới nhân vật phụ. Trong nhiều tiểu thuyết, nhân vật phụ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Ở Nơi trăng không hắt bóng, họ giống như những chiếc gương phản chiếu nhiều chiều của thế giới đạo đức mà cuốn sách đang đặt ra. Nhân vật Thục là một ví dụ tiêu biểu. Xuất hiện không quá nhiều, nhưng mỗi lần hiện diện, Thục lại mở ra một góc nhìn khác về thân phận con người trong hệ thống quyền lực và luật lệ. Ở Thục có một sự mềm yếu rất đời, nhưng cũng có một thứ bền bỉ âm thầm thứ bền bỉ của những con người buộc phải tồn tại trong những hoàn cảnh không do mình lựa chọn. Bên cạnh đó là hình ảnh ông Giám thị và Phó Giám thị Văn Đức. Nếu nhìn từ bên ngoài, họ là những nhân vật đại diện cho trật tự và kỉ luật. Nhưng dưới ngòi bút của Tô Giang, họ không bị giản lược thành những biểu tượng cứng nhắc. Trái lại, mỗi người đều mang trong mình những lớp tâm trạng riêng. Ông Giám thị hiện ra với dáng vẻ của một người đã đi qua nhiều năm tháng của nghề nghiệp nơi công lí không phải lúc nào cũng sáng rõ như những điều ghi trong văn bản pháp luật. Trong khi đó, Phó Giám thị Văn Đức lại mang một sắc thái khác: thực tế hơn, đôi khi lạnh lùng hơn, nhưng chính sự lạnh lùng ấy lại khiến nhân vật trở nên đáng tin trong logic của câu chuyện.

Tuy nhiên, nếu nói đến yếu tố tạo nên chiều sâu huyền thoại cho cuốn tiểu thuyết, không thể không nhắc đến già làng Ama Krông.

Ama Krông bước vào câu chuyện như một bóng dáng của núi rừng Tây Nguyên. Ở ông có sự uy nghi của một người gìn giữ kí ức của bản làng Ê đê. Mỗi lần nhân vật này xuất hiện, giọng kể của cuốn tiểu thuyết dường như chậm lại, trầm xuống, như thể đang bước vào một không gian linh thiêng. Bản làng Ê đê trong tác phẩm không chỉ là bối cảnh địa lí. Nó mang một màu sắc huyền bí, gần như huyền thoại. Những nghi lễ, những câu chuyện truyền đời, những niềm tin cổ xưa tất cả tạo nên một lớp nền văn hóa dày đặc. Và ở trung tâm của lớp nền đó là ngôi đền cổ nơi cất giữ bí mật của "Moonlight". Ngôi đền ấy giống như một biểu tượng thẩm mĩ của cuốn sách. Nó không được giải thích tường tận, cũng không bị biến thành một chi tiết kịch tính đơn thuần. Tác giả để cho nó tồn tại như một điểm mờ đầy ám ảnh. Người đọc có thể cảm nhận rằng nơi ấy không chỉ lưu giữ một bí mật cụ thể, mà còn lưu giữ những tầng sâu của kí ức và niềm tin. Chính sự tiết chế này khiến cuốn tiểu thuyết mang một sức hút đặc biệt. Tô Giang không vội vàng giải thích. Anh để lại những khoảng trống và chính những khoảng trống ấy khiến trí tưởng tượng của người đọc hoạt động.

Một điểm đáng chú ý khác là cách tác giả sử dụng ngôn ngữ.

Ngôn từ trong Nơi trăng không hắt bóng không phô trương. Nó mềm, chậm, và nhiều khi mang sắc thái của một dòng suy tưởng. Nhưng chính sự mềm mại đó lại tạo nên sức nặng. Như nhà văn Sương Nguyệt Minh đánh giá "Tác phẩm còn dẫn dụ người đọc bằng chất văn tươi xanh, giàu ẩn dụ, đậm triết luận và có chiều sâu suy tư. Đây là những trang viết khác biệt, rất ấn tượng và mạnh mẽ đột sáng." Có những đoạn văn đọc lên giống như một khúc độc thoại nội tâm. Ở đó, câu chuyện tạm lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những suy nghĩ về thân phận con người, về công lí, về sự cô độc của những người phải sống giữa những quy tắc cứng rắn.

Đó là lúc cuốn tiểu thuyết vượt ra khỏi khuôn khổ của một câu chuyện điều tra. Nó trở thành một cuộc suy tư về con người.

 

Tác giả Tô Giang.

 

Vì thế, đọc Nơi trăng không hắt bóng, người ta có cảm giác đang đi trong một không gian nửa hiện thực, nửa huyền tưởng. Những nhân vật rất đời thường, nhưng bối cảnh và biểu tượng lại mang sắc thái gần với huyền thoại. Sự kết hợp này tạo nên một chất văn hiếm gặp trong dòng tiểu thuyết viết về lực lượng công an. Ở đây không có những chiến công được kể bằng giọng điệu hùng tráng. Thay vào đó là những con người phải đối diện với chính mình, đôi khi trong im lặng. Có lẽ chính vì vậy mà nhan đề Nơi trăng không hắt bóng trở nên đặc biệt phù hợp. Đó là một thứ ánh sáng không phô trương nhưng nó chiếu thẳng vào nội tâm. Và khi ánh sáng ấy xuất hiện, mọi điều giấu kín trong con người đều hiện ra. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ nhận xét: "Cuốn tiểu thuyết hấp dẫn người đọc từ trang đầu tiên đến dòng cuối cùng. Giống như ta vừa được gió trong sách cuốn trôi, hương trong chữ giữ lại - hoá vào từng thân phận để đắm chìm trong khổ đau và tan chảy cùng tình yêu của họ. Đây như một quả cầu nhiều mặt - trọn vẹn về nhiều nghĩa. Một cuốn sách có thể đọc nhiều lần, dù mình biết câu chuyện với những nhân vật đó, nhưng mỗi lần đọc, lại thêm một lần mở cửa đi vào lối mới."

Trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện nay, nơi nhiều tiểu thuyết vẫn còn bị ràng buộc bởi những công thức quen thuộc, cuốn sách này mang lại một cảm giác khác. Nó cho thấy tiểu thuyết về đề tài công an hoàn toàn có thể bước sang một địa hạt rộng hơn địa hạt của triết học về thân phận.

Nơi trăng không hắt bóng vì thế không chỉ là câu chuyện về những con người cụ thể. Nó là câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người. Và ở nơi ánh trăng không hắt bóng ấy, người đọc buộc phải tự hỏi: điều gì trong chúng ta sẽ còn lại khi mọi bóng tối biến mất?

N.N.T

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm