TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-03-08 19:34:53
mail facebook google pos stwis
451 lượt xem

NGUYỄN NGỌC TRÍ

Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.

Nhan đề của cuốn sách đã gợi ra một nghịch lí đầy ám ảnh. Trăng vốn là thứ ánh sáng dịu dàng nhất trong trí tưởng tượng Á Đông, nhưng ở đây, ánh trăng ấy không tạo ra bóng. Một thế giới như thế sẽ ra sao. Khi không còn bóng tối để che giấu, con người buộc phải đối diện trực tiếp với chính mình. Chính ý niệm ấy âm thầm dẫn dắt toàn bộ cuốn tiểu thuyết.

Tác phẩm của Tô Giang không chạy theo nhịp kể gấp gáp của dòng tiểu thuyết hình sự quen thuộc. Nó chậm rãi, kiên nhẫn, gần như một cuộc lần dò vào tâm địa con người. Điều khiến người đọc bị cuốn vào cuốn sách này không phải là sự hồi hộp của cốt truyện, mà là sự mê hoặc của ngôn từ và những lớp ý tứ được cài đặt khéo léo trong từng chuyển động của câu chuyện.

 

Tiểu thuyết "Nơi trăng không hắt bóng" đoạt giải C cuộc thi tiểu thuyết, truyện và kí về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống lần thứ 5 do Bộ Công an và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp tổ chức.

 

Ở trung tâm của tiểu thuyết là những con người phải sống và lựa chọn trong những vùng xám của đạo đức. Nhân vật Hà An một nữ sĩ quan công an, không được xây dựng như biểu tượng anh hùng quen thuộc. Cô hiện ra trước người đọc với đầy đủ những rung động, những do dự và những nỗi cô độc mà bất cứ con người nào cũng có thể trải qua. Chính sự mong manh đó khiến nhân vật trở nên thật.

Nhưng điều đáng nói hơn nằm ở cách tác giả triển khai mạng lưới nhân vật phụ. Trong nhiều tiểu thuyết, nhân vật phụ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Ở Nơi trăng không hắt bóng, họ giống như những chiếc gương phản chiếu nhiều chiều của thế giới đạo đức mà cuốn sách đang đặt ra. Nhân vật Thục là một ví dụ tiêu biểu. Xuất hiện không quá nhiều, nhưng mỗi lần hiện diện, Thục lại mở ra một góc nhìn khác về thân phận con người trong hệ thống quyền lực và luật lệ. Ở Thục có một sự mềm yếu rất đời, nhưng cũng có một thứ bền bỉ âm thầm thứ bền bỉ của những con người buộc phải tồn tại trong những hoàn cảnh không do mình lựa chọn. Bên cạnh đó là hình ảnh ông Giám thị và Phó Giám thị Văn Đức. Nếu nhìn từ bên ngoài, họ là những nhân vật đại diện cho trật tự và kỉ luật. Nhưng dưới ngòi bút của Tô Giang, họ không bị giản lược thành những biểu tượng cứng nhắc. Trái lại, mỗi người đều mang trong mình những lớp tâm trạng riêng. Ông Giám thị hiện ra với dáng vẻ của một người đã đi qua nhiều năm tháng của nghề nghiệp nơi công lí không phải lúc nào cũng sáng rõ như những điều ghi trong văn bản pháp luật. Trong khi đó, Phó Giám thị Văn Đức lại mang một sắc thái khác: thực tế hơn, đôi khi lạnh lùng hơn, nhưng chính sự lạnh lùng ấy lại khiến nhân vật trở nên đáng tin trong logic của câu chuyện.

Tuy nhiên, nếu nói đến yếu tố tạo nên chiều sâu huyền thoại cho cuốn tiểu thuyết, không thể không nhắc đến già làng Ama Krông.

Ama Krông bước vào câu chuyện như một bóng dáng của núi rừng Tây Nguyên. Ở ông có sự uy nghi của một người gìn giữ kí ức của bản làng Ê đê. Mỗi lần nhân vật này xuất hiện, giọng kể của cuốn tiểu thuyết dường như chậm lại, trầm xuống, như thể đang bước vào một không gian linh thiêng. Bản làng Ê đê trong tác phẩm không chỉ là bối cảnh địa lí. Nó mang một màu sắc huyền bí, gần như huyền thoại. Những nghi lễ, những câu chuyện truyền đời, những niềm tin cổ xưa tất cả tạo nên một lớp nền văn hóa dày đặc. Và ở trung tâm của lớp nền đó là ngôi đền cổ nơi cất giữ bí mật của "Moonlight". Ngôi đền ấy giống như một biểu tượng thẩm mĩ của cuốn sách. Nó không được giải thích tường tận, cũng không bị biến thành một chi tiết kịch tính đơn thuần. Tác giả để cho nó tồn tại như một điểm mờ đầy ám ảnh. Người đọc có thể cảm nhận rằng nơi ấy không chỉ lưu giữ một bí mật cụ thể, mà còn lưu giữ những tầng sâu của kí ức và niềm tin. Chính sự tiết chế này khiến cuốn tiểu thuyết mang một sức hút đặc biệt. Tô Giang không vội vàng giải thích. Anh để lại những khoảng trống và chính những khoảng trống ấy khiến trí tưởng tượng của người đọc hoạt động.

Một điểm đáng chú ý khác là cách tác giả sử dụng ngôn ngữ.

Ngôn từ trong Nơi trăng không hắt bóng không phô trương. Nó mềm, chậm, và nhiều khi mang sắc thái của một dòng suy tưởng. Nhưng chính sự mềm mại đó lại tạo nên sức nặng. Như nhà văn Sương Nguyệt Minh đánh giá "Tác phẩm còn dẫn dụ người đọc bằng chất văn tươi xanh, giàu ẩn dụ, đậm triết luận và có chiều sâu suy tư. Đây là những trang viết khác biệt, rất ấn tượng và mạnh mẽ đột sáng." Có những đoạn văn đọc lên giống như một khúc độc thoại nội tâm. Ở đó, câu chuyện tạm lùi lại phía sau, nhường chỗ cho những suy nghĩ về thân phận con người, về công lí, về sự cô độc của những người phải sống giữa những quy tắc cứng rắn.

Đó là lúc cuốn tiểu thuyết vượt ra khỏi khuôn khổ của một câu chuyện điều tra. Nó trở thành một cuộc suy tư về con người.

 

Tác giả Tô Giang.

 

Vì thế, đọc Nơi trăng không hắt bóng, người ta có cảm giác đang đi trong một không gian nửa hiện thực, nửa huyền tưởng. Những nhân vật rất đời thường, nhưng bối cảnh và biểu tượng lại mang sắc thái gần với huyền thoại. Sự kết hợp này tạo nên một chất văn hiếm gặp trong dòng tiểu thuyết viết về lực lượng công an. Ở đây không có những chiến công được kể bằng giọng điệu hùng tráng. Thay vào đó là những con người phải đối diện với chính mình, đôi khi trong im lặng. Có lẽ chính vì vậy mà nhan đề Nơi trăng không hắt bóng trở nên đặc biệt phù hợp. Đó là một thứ ánh sáng không phô trương nhưng nó chiếu thẳng vào nội tâm. Và khi ánh sáng ấy xuất hiện, mọi điều giấu kín trong con người đều hiện ra. Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ nhận xét: "Cuốn tiểu thuyết hấp dẫn người đọc từ trang đầu tiên đến dòng cuối cùng. Giống như ta vừa được gió trong sách cuốn trôi, hương trong chữ giữ lại - hoá vào từng thân phận để đắm chìm trong khổ đau và tan chảy cùng tình yêu của họ. Đây như một quả cầu nhiều mặt - trọn vẹn về nhiều nghĩa. Một cuốn sách có thể đọc nhiều lần, dù mình biết câu chuyện với những nhân vật đó, nhưng mỗi lần đọc, lại thêm một lần mở cửa đi vào lối mới."

Trong bối cảnh văn học Việt Nam hiện nay, nơi nhiều tiểu thuyết vẫn còn bị ràng buộc bởi những công thức quen thuộc, cuốn sách này mang lại một cảm giác khác. Nó cho thấy tiểu thuyết về đề tài công an hoàn toàn có thể bước sang một địa hạt rộng hơn địa hạt của triết học về thân phận.

Nơi trăng không hắt bóng vì thế không chỉ là câu chuyện về những con người cụ thể. Nó là câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người. Và ở nơi ánh trăng không hắt bóng ấy, người đọc buộc phải tự hỏi: điều gì trong chúng ta sẽ còn lại khi mọi bóng tối biến mất?

N.N.T

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm