TIN TỨC

Nồng ấm tình quê | Đỗ Xuân Thu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-07-02 08:05:32
mail facebook google pos stwis
2557 lượt xem

Mục SỔ TAY THƠ trên báo Văn nghệ số hôm nay, 02/7/2022.

XUÂN THU

Có một bài thơ trong tập thơ BAY VỀ PHÍA BÃO (Nhà xuất bản Văn học - 2013) của Nguyên Hùng khiến tôi bị ám ảnh mãi. Đọc đi rồi đọc lại, đọc và ngẫm, nhắm mắt lại và tưởng tượng, mở mắt ra để nhìn vào vô định cho rõ hơn cái mà mình tưởng tượng thì bỗng thấy khóe mắt mình ươn ướt, cay cay. Hóa ra, tôi cũng nhỏ lệ cùng tác giả tự lúc nào mà vẫn không hay. Nguyên văn bài thơ đó như sau:

TẾT NÀY EM CÓ LẠNH KHÔNG?

Tết này em có lạnh không
Hai mươi năm vẫn mùa đông xứ người
Tuyết rơi phủ trắng đất trời
Gốc quê còn nhựa bật chồi xanh non?

Tiệc xuân chẳng thiếu thức ngon
Dưa cà xứ Nghệ mặn giòn có chăng
Nhớ chăng những lát cá
măng
Những khoanh cá thửng cháy vàng tuổi thơ?

Em giờ nửa tỉnh nửa mơ
Khi mong biển đến, lúc chờ thu sang
Nhớ thương lệ ngấn hai hàng
Ướt năm dòng kẻ mênh mang nỗi niềm

Thương em ngày lẫn vào đêm
Thương mình từng cũng lấm lem đất người
Bảy mùa đi dưới tuyết rơi
Đủ cho ta nhớ một thời xa quê.

Bài thơ ghi tặng nhạc sỹ Lê An Tuyên, ngày 05/02/2010.

Mở đầu bài thơ và cũng là tiêu đề của bài thơ này là một câu hỏi, khiến cho bài thơ gây trí tò mò của độc giả. Câu hỏi đúp từ tiêu đề đến câu mở đầu xoáy ngay vào lòng độc giả, khiến độc giả phải đi tìm câu trả lời cùng với người thơ.

Cặp lục bát mở đầu là thời gian, kể cả thời điểm và khoảng thời gian để có bài thơ này. “Tết này” (thời điểm), “hai mươi năm”, “mùa đông” (khoảng thời gian) và cuối câu tám thứ nhất hé lộ cái không gian của nhân vật trong thơ: “xứ người”. Chọn thời điểm Tết, khi mà theo truyền thống dân tộc Việt Nam thì mọi người sum họp, đoàn tụ gia đình, kể từ kẻ tứ chiếng, ăn xin ăn mày, đến người làm thuê, ở mướn phiêu bạt xa quê đều về nhà ăn Tết để viết về người bạn gái xa xứ thì không còn gì đắc địa hơn. Trong cái rét mùa đông xứ người, với thời gian 20 năm đằng đẵng xa xứ, Tết đến xuân về hẳn nỗi nhớ quê cha đất Tổ, nhớ nước, nhớ nhà mãnh liệt hơn bao giờ hết.

Cặp lục bát thứ hai là không gian cụ thể của cái xứ người này - không gian “tuyết rơi phủ trắng đất trời”. Câu lục này đọc xong nghe lạnh toát cả người. Được biết em gái đồng hương của Nguyên Hùng là nhạc sỹ Lê An Tuyên đang sinh sống và làm việc ở Đức và anh cũng đã từng 7 năm học tập tu nghiệp tại Nga nên mới viết được câu thơ lạnh người như thế. Tôi chưa được đến xứ này nhưng qua phim ảnh, sách báo thấy cảnh tuyết phủ trắng đất trời cũng đã rùng mình, tự nhiên so vai rụt cổ vì rét. Tết ở mình là “mưa xuân phơi phới bay”, là nắng ấm, trong khi đó tết Ta ở trời Tây nó lại rét như thế đó. Xa người thân, gia đình, nhất là xa khung cảnh quê hương trong những ngày Tết đến xuân về đã buồn, đã lạnh rồi mà trời đất lại trắng tuyết thế kia thì hỏi có nỗi buồn, nỗi lạnh nào hơn nữa? Thế nên “Gốc quê còn nhựa bật chồi xanh non?”. Nguyên Hùng hỏi một câu hỏi xoáy như thế, đau như thế càng cứa thêm nỗi nhớ quê của người thơ.

Khổ 2, Nguyên Hùng tưởng tượng ra bữa cỗ Tết, tiệc xuân của người thơ. Chắc hẳn ở xứ người, để đón Tết, em gái đồng hương của anh cũng chuẩn bị bữa tiệc chẳng thiếu thứ gì. Thì cố tạo ra khung cảnh Tết quê nhà ở nơi đó chứ. Tuy nhiên, cà xứ Nghệ có đấy nhưng liệu có mặn và giòn như ở quê ta không? Có “lát cá măng”, “khoanh cá thửng” không? Cá măngcá thu, cá thửngcá mối. Nguyên Hùng dùng từ chính quê xứ Nghệ để hỏi thì không còn gì thân thiết bằng. Đặc biệt, anh dùng hình ảnh rất gợi: “khoanh cá thửng cháy vàng tuổi thơ” thì thật là tuyệt bút. Chính những “đặc sản” quê nhà đó làm nên bản sắc truyền thống của vùng miền, không cho ta bị hòa tan trộn lẫn vào ai khác, quê khác.

Khổ 3, Nguyên Hùng viết về người thơ. “Em giờ nửa tỉnh nửa mơ/ Khi mong biển đến lúc chờ thu sang/ Nhớ thương lệ ngấn hai hàng/ Ướt năm dòng kẻ mêng mang nỗi niềm”. “Nửa tỉnh nửa mơ”, đã đành là thế rồi. Tỉnh mơ cả về không gian và thời gian. Câu tám tiếp theo đã diễn tả điều đó. Đang “biển” lại sang “thu”. Đúng là “mênh mang nỗi niềm”. Lê An Tuyên đã sáng tác 2 ca khúc “Biển và Em” (Nguyên Hùng đã đổi tên bài này thành Sóng không từ biển) và Mùa Thu sang rất da diết, đau đáu nỗi nhớ thương này. Bởi thế chăng mà “nhớ thương ngấn lệ hai hàng, ướt năm dòng kẻ”? Tôi cứ hình dung nhạc sỹ Lê An Tuyên đang vừa viết nhạc vừa khóc, vừa hát, hát và khóc nhòe nhoẹt cả trang bản thảo. Những nốt nhạc kia hay là những giọt lệ nhớ quê hương nơi xứ người của chị đang lã chã rơi để cho năm dòng kẻ cũng chơi vơi như người nhạc sĩ?

Khổ cuối cùng Nguyên Hùng đã hòa cảm giữa người thơ và tác giả. “Thương em ngày lẫn vào đêm” - đêm trắng chăng, không còn khái niệm ngày đêm chăng? Tùy cảm nhận của người đọc. Với tôi, cũng đã từng “ngày ngơ ngẩn nhớ, đêm vời vợi mong” thì rất hiểu nỗi nhớ thương này. Hơn nữa, anh đã từng “lấm lem đất người” “bảy mùa đi dưới tuyết rơi” thì càng da diết, day dứt nhớ thương hơn. Tôi tin rằng nhạc sỹ Lê An Tuyên - người em gái đồng hương của anh khi đọc được bài thơ này chắc sẽ khóc mất. Người bình thường còn khóc nữa là chị - một nhạc sỹ có rất nhiều tác phẩm rất hay về quê hương miền Trung thương yêu viết từ xứ người mà không khóc mới là lạ. Khóc mà ấm ở trong lòng, ấm trong cái lạnh của Tết xứ người.

Lục bát Nguyên Hùng nhuyễn, hay và khá ám ảnh. Đặc biệt “Tết này em có lạnh không?” rất ấn tượng. Trong tập BAY VỀ PHÍA BÃO có nhiều bài như thế. Xin chúc mừng anh và chia sẻ nỗi niềm yêu thương cùng tác giả.

X.T
Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Phú Thọ (Đ.T: 0912. 940. 316).

Ảnh 1: Nhà thơ nhà văn Đỗ Xuân Thu, tác giả bài viết và Nguyên Hùng, tác giả bài thơ "Tết này...";
Ảnh 2: Bìa tập thơ "Bay về phía bão" do nhạc sĩ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo thiết kế.

Nguồn: Văn nghệ số 27 (ngày 02/7/2022).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm