TIN TỨC

Phan Thị Thanh Nhàn nửa thế kỷ vấn vương “Hương Thầm”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-06-23 10:39:47
mail facebook google pos stwis
2801 lượt xem

Lê Thiếu Nhơn

 Tên tuổi thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn gắn liền với bài thơ “Hương thầm” phổ nhạc thành một ca khúc nổi tiếng. Bài thơ “Hương thầm” được thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn sáng tác năm 1969, đến nay đã tròn nửa thế kỷ. Nhiều thế hệ đã hát “Hương thầm” với niềm mến mộ dành cho thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn. Thế nhưng, công bằng mà nói, thơ Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ có “Hương thầm”!

Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn

Bây giờ, gặp thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn ngoài đời, ít ai nghĩ rằng chị đã qua tuổi “cổ lai hy” từ lâu. Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn có nét vui vẻ, hòa đồng, trẻ trung và điệu đà của riêng chị. Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn sinh năm 1943 tại mảnh đất Thăng Long ngàn năm văn hiến, nơi mà tuổi 30 chị đã viết bài thơ dài “Thành phố tôi yêu” với những nghẹn ngào về cuộc sống thơ ấu bên Đê La Thành “Lá cải già mẹ không nỡ bỏ đi/ Vại dưa mặn suốt thời thơ bé/ Guốc không có, chân lau vào chổi rễ/ Chị lớn rồi, áo chật vá nhường em” và những câu hăng say cổ vũ phát triển đô thị “Tay Hà Nội vươn dài theo quy hoạch/ Nao nức nghĩ về thành phố tương lai”. Sau khi tốt nghiệp Khoa Báo chí – Trường Tuyên giáo Trung ương, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn từng làm phóng viên báo Hà Nội Mới rồi chuyển sang làm Phó Tổng Biên tập báo Người Hà Nội. Nói chung, về sự cống hiến và sự thành đạt giữa đời thường, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn không hề thua kém ai. Thế nhưng, điều tạo ra đột phá trong số phận của chị, vừa nâng đỡ lại vừa bất trắc, chính là thơ.

Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn bắt đầu xuất hiện trong làng thơ bằng ấn tượng ở cuộc thi thơ năm 1969 – 1970 của báo Văn Nghệ. Với hai bài “Hương thầm” và “Xóm đê”, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn đã giành được giải nhì cùng với Vương Anh và Bế Kiến Quốc (giải nhất thuộc về Phạm Tiến Duật). Cùng sánh vai nhau thuở khởi nghiệp của thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn, nhưng những câu thơ trong bài thơ “Xóm đê” như “Chuyện cũ xóm đê để lại nếp nhăn trên trán mẹ/ Nhưng chúng tôi lớp trẻ vô tư/ Cứ lớn lên rộn rã ước mơ/ Có lúc quên ngoái nhìn quá khứ” không được mấy ai nhớ như bài thơ “Hương thầm”. Mang bóng dáng một câu chuyện lãng mạn, bài thơ “Hương thầm” miên man kỷ niệm: “Cửa sổ hai nhà cuối phố/ Không hiểu vì sao không khép bao giờ/ Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp/ Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa/ Giấu một chùm hoa sau chiếc khăn tay/ Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm/ Bên ấy có người ngày mai ra trận/ Họ ngồi im không biết nói năng chi/ Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi/ Nào ai đã một lần dám nói/ Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối/ Anh không dám xin/ Cô gái chẳng dám trao/ Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao/ Không dấu được cứ bay dịu nhẹ/ Cô gái như chùm hoa lặng lẽ/ Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu/ (Anh vô tình anh chẳng biết điều/ Tôi đã đến với anh rồi đấy…)/ Rồi theo từng hơi thở của anh/ Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực/ Anh lên đường/ Hương thơm sẽ theo đi khắp/ Họ chia tay/ Vẫn chẳng nói điều gì/ Mà hương thầm thơm mãi bước người đi”.

Tuyển tập Phan Thị Thanh Nhàn

Năm 1984, tức là 15 năm sau khi bài thơ “Hương thầm” ra mắt, nhạc sĩ Vũ Hoàng đã phổ nhạc thành một ca khúc cùng tên. Phải thừa nhận, nhạc sĩ Vũ Hoàng đã sử dụng hầu hết những câu thơ quan trọng của bài thơ để làm ca khúc, nhưng lại vô tình tạo nên một…sự lệch lạc so với nguyên tác. Bài thơ “Hương thầm” viết “cửa số hai nhà cuối phố, không hiểu vì sao không khép bao giờ”, còn ca khúc thì “khung cửa sổ hai nhà cuối phố, chẳng hiểu vì sao không khép bao giờ”. Có thể do phục vụ giai điệu và tiết tấu, phải thêm chữ “khung”, nhưng ngẫm nghĩ thì thấy rất buồn cười. Cửa sổ mới có khả năng khép hoặc mở, còn cái khung của cửa sổ thì phải cố định. Đã là “khung cửa sổ” thì vĩnh viễn “không khép bao giờ”, chứ đừng thắc mắc “vì sao”. Vậy mà, kỳ lạ thay, “khung cửa sổ” vẫn hát véo von suốt 35 năm qua.
Dù muốn dù không, vẫn có thể khẳng định, chỉ cần bài thơ “Hương thầm” cũng đủ lưu danh thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn vào lòng công chúng. Thế nhưng, thơ cũng có duyên có kiếp như người, có những bài thơ hay nhưng không thể vang dội bằng bài thơ được phổ nhạc. Ở trường hợp thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn xin lấy ví dụ bài thơ “Con đường” mà chị viết năm 20 tuổi: “Nếu anh đi với người yêu/ Chỉ mong anh nhớ một điều nhỏ thôi/ Con đường ta đã dạo chơi/ Xin đừng đi với một người khác em/ Hàng cây nay đã lớn lên/ Vươn cành để lá êm đềm chạm nhau/ Hai ta không biết vì đâu/ Hai con đường rẽ ra xa nhau hoài/ Nếu cùng người mới dạo chơi/ Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu”. Thần thái của bài thơ “Con đường” nằm hết ở bốn câu đầu, nhưng nếu không có sự bâng quơ lý giải ở sáu câu sau thì lại mất đi cái tính ương gàn nhiễu sự của tuổi trẻ và tính đa đoan nũng nịu của thiếu nữ. Cũng với kiểu suy tư bất trắc ấy, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn cũng có hai câu thơ khiến nhiều người vội vàng hẹn hò và sốt ruột kết hôn bỗng dưng giật mình: “Người tôi yêu đã đi xa/ Người yêu tôi lại ở nhà, chán ghê!”.

Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn từng có những ngày vợ chồng ấm áp trong căn hộ tập thể trên cao mỗi ngày mơ màng nhìn xuống hồ Hoàn Kiếm với thi sĩ Thi Nhị. Đáng tiếc, hạnh phúc ngắn chẳng tày gang. Năm 1979, khi thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn đi thực tế sáng tác ở Nha Trang thì thi sĩ Thi Nhị mất đột ngột ở Hà Nội. Thời ấy, máy bay đâu có dễ dàng như hôm nay, khi người vợ trở về nhà thì thân nhân đã đưa người chồng ra nghĩa trang. Nỗi đau giống như một vết thương trong lòng thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn, thỉnh thoảng lại cồn cào trên trang thơ: “Ước gì gặp lại anh/ Dù chỉ trong phút cuối/ Để nói một lời thôi/ Em đã yêu anh nhất/ Ước gì giọt nước mắt/ Thấm được vào môi anh/ Để trong giờ phút cuối/ Anh biết em ở gần”. Sự bơ vơ ở thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ qua cảm nhận “Bữa ăn vắng một người/ Tìm đâu ra mùi vị/ Khói cơm cay mắt thế/ Bây giờ em mới hay/ Hun hút hai hàng cây/ Gió thổi dài ngơ ngác/ Thành phố vắng một người/ Đường không ai dạo chơi” mà còn qua hành động “Một mình tìm đến cùng anh/ Nghĩa trang chiều muộn lặng thinh gót giày/ Khói nhang nhè nhẹ thẳng bay/ Nối em vào cõi khói mây nhạt nhòa”.

Mất chồng, một mình nuôi con, một mình dựng nhà, một mình làm thơ, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn dựa vào trái tim yếu mềm mà đi qua những ngày âm u. Góa bụa ở tuổi 36 là một cảm giác kinh khủng, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn hiểu như vậy, và không khép cửa bao nhiêu tơ vương đến với mình tình cờ hoặc toan tính: “Bất ngờ ai bỗng gọi em/ Cho tôi bối rối lặng im mỉm cười”. Thậm chí, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn bẽ bàng “Rồi có thể vợ và con ríu rít/ Anh nhẹ nhàng quên hết chuyện đôi ta/ Anh hối hả đón cuộc đời hạnh phúc/ Tôi bàng hoàng mãi chẳng hiểu ra” rồi chấp nhận “Và bây giờ người ấy đã ra đi/ Tôi bỗng thấy đàn ông xa lạ quá/ Hình như họ có chút gì hoang dã/ Có chút gì tàn nhẫn vô tâm”. Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn lấy sự hồn nhiên để an ủi sự cam chịu. Chị dùng đôi mắt độ lượng để tạm biệt những cái cũ, từ tạm biệt “Người yêu cũ” quay lưng: “Như giếng cạn giấu sao trời dưới đáy/ Anh mãi là kỷ niệm thuở ngây thơ/ Hãy thơm phức như trái cây chờ hái/ Đừng bắt em uống cạn chén trà thô”, đến tạm biệt “Những bài thơ cũ” ngậm ngùi: “Với tôi thuở ấy thiêng liêng/ Câu thơ đập giữa nhịp tim bất ngờ/ Nay còn ai được như xưa/ Còn ai xứng với bài thơ tôi cầm” và tạm biệt cả “Nhà cũ” bồi hồi ký ức: “Căn nhà đã nhốt/ Những ngày trong veo/ Mùa xuân còn mãi/ Nơi mình buông neo”. Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn bộc bạch: “Tôi là người chỉ nhìn cái đẹp, cái đáng yêu của đời sống và mỗi con người. Trong tình yêu, tôi thường nói là tôi làm thơ thất tình là chính. Nhưng chính những người mà tôi đã từng yêu và đã từng thất vọng, tôi vẫn giữ những kỷ niệm đẹp khi họ chưa bị lộ những điểm yếu mà sau này mình mới biết, đã khiến mình chán nản và từ bỏ. Nhưng cái gì đẹp thì tôi còn lưu giữ mãi. Tôi cảm ơn tất cả các chàng đã có lúc khiến tôi xúc động làm được thơ ghi lại tình cảm chân thành của tôi dành cho họ. Tôi đã có những bài thơ được bạn bè và người đọc chia sẻ, yêu thích. Đó là nhờ tôi đã… yêu nhầm khi nghĩ là họ đáng yêu. Thế là quá “lãi” với tôi rồi!”.

Tuy nhiên, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ có thơ tình. Thơ về sản xuất hoặc thơ về thời sự cũng được chị viết khá khéo léo. Chị nhờ hai câu lục bát cứu bài thơ “Hội cấy mùa xuân” khỏi không khí thơ phong trào “Đừng khen làm cuống chân em/ Đừng khen kẻo mạ cắm nghiêng bây giờ”. Chị nhờ bốn câu kết mà cứu bài thơ “Chân dung người chiến thắng” viết về ngày 30-4-1975 khỏi không khí minh họa “Tôi trở về nhà với ngọn đèn con/ Viết lại xóa bài thơ không đủ ý/ Đành ghi chép vào sổ tay thầm nghĩ/ Những ngày này tự nó đã là thơ”. Do đó, khi day dứt, thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn cũng có những câu thơ nhức nhối: “Có đôi lúc buồ/ Tôi đã định tự tử/ Sống làm chi khi bè bạn bon chen/ Cơ quan quanh năm đấu đá/ Sống làm chi khi người yêu thành người lạ/ Ngày như đêm một mình/ Sống làm chi lương ba cọc ba đồng/ Viết báo làm thơ kiếm từng xu vẫn loay hoay không đủ/ Sống làm chi khi mọi tượng thần đều sụp đổ/ Người ta tin yêu lại hóa tầm thường/ Vậy mà tôi vẫn sống nhơn nhơn/ Vẫn cười nói họp hành trưng diện/ Vẫn hy vọng kiếm được một ông chồng đáng mến (một người đã thông minh lại giàu)/ Và tôi hiểu ra trong thăm thẳm niềm đau/ Tôi vẫn còn yêu đời quá”.

Thi sĩ Phan Thị Thanh Nhàn được trao Giải thưởng Nhà nước năm 2007. Chị được độc giả chào đón khắp nơi với bài thơ “Hương thầm”, nhưng chị cũng gửi cho họ những băn khoăn của một người làm thơ biết đắn đo ân nghĩa, khi đến “Lam Kinh” nhìn ngắm di tích: “Thăm đất cũ một lần thôi, chợt thức/ Ai bây giờ xứng đáng với vua Lê?” và khi viết hộ người xa xứ về ấn tượng “Tổ quốc” sâu bền: “Mẹ Việt Nam gầy bé/ Mẹ Việt Nam kiên cường/ Suốt một đời lận đận/ Mà con giờ tha hương”./.

L.T.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm