TIN TỨC

Rung ngân khát vọng sống của con người

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-12-24 08:24:01
mail facebook google pos stwis
1744 lượt xem

TRẦN MAI HƯỜNG

(Đọc Những ngọn khói về trời của Bùi Phan Thảo, NXB Đà Nẵng 2022)

Thật khó khi viết một trường ca về đại dịch COVID -19, khó nữa là viết về con người, đất nước và nhân loại đã vượt qua đại dịch ấy ra sao, trên đường đi sai đúng thế nào? Đây có lẽ là sự dấn thân của nhà thơ Bùi Phan Thảo trước trách nhiệm của một người cầm bút và cao hơn hết là trách nhiệm của một công dân TP HCM trong những ngày đất nước gian nan ấy…

Trong “Những ngọn khói về trời”, nhà thơ Bùi Phan Thảo kể về những ngày tháng không thể nào quên của nhân loại và của mỗi người. Trường ca “Những ngọn khói về trời” chất chứa những cảnh ngộ bi ca trong tráng ca về lòng nhân, về đất nước, về nhân loại, về những điều không tưởng giữa địa ngục và thiên đường mà loài người đã vượt qua...

“Còn nhiều góc khuất tối tăm trên địa cầu này/ người nghèo không có quyền lựa chọn/ quyền sống bình đẳng cũng là hàng xa xỉ phẩm/ nhưng con virus dã man là thứ vô tri/chúng tấn công con người bất kể giàu nghèo/ bất kể màu da/ chúng nhấn chìm nhân loại xuống đáy đau thương/ những xác thân đã mất linh hồn/ lạnh lẽo nằm bên nhau chờ đưa đi siêu thoát”… (chương “Nhân loại bàng hoàng”)

Phải chăng sự khái quát đó làm cho con người thêm bi quan, mất phương hướng để rồi buông xuôi? Không! Ta hãy lắng nghe:

“Chỉ một đêm thôi/ mà đêm nay cũng không phải là đêm/ chỉ là ngày nối dài qua trong chập chờn giấc ngủ/ bao người như tôi không ngủ/ ngày mai, lệnh phong tỏa đầu tiên.../ điều ước lệ trở nên hữu dụng/ sợi dây như bức tường để giữ chân nhau (Chương “Đêm trước ngày phong tỏa”)

Có thể thấy Bùi Phan Thảo viết “Những ngọn khói về trời” như một thôi thúc, không thể không viết với cảm xúc tuôn trào. Đại dịch COVID-19 như một “đại hồng thủy” tràn qua đời sống nhân loại thời hiện đại, gây ra những thảm họa đau thương. Không ai có thể dửng dưng trước biến cố lớn lao này khi đại dịch tràn vào từng nhà, ai cũng có thể là nạn nhân của nó và từng ngày từng giờ, giữa lằn ranh tử sinh mỏng manh, ai cũng nhận ra lẽ vô thường của cuộc sống.

Trong cuộc chiến này, lúc dịch khởi phát, hoành hành, chưa biết kết cục ra sao nhưng vẫn phải kiên cường, phải có lòng tin, phải đoàn kết, vững tâm mới có thể chiến thắng đại dịch. Trăm triệu người dân Việt đã thấy được quyết tâm của chính quyền, của đất nước luôn đặt sinh mạng của con người, của tất cả mọi người lên trên hết. Lúc này không phải là lúc hô khẩu hiệu, mà là lúc phải ra tay hành động... Dù đâu đó vẫn bất ngờ, bị động, lúng túng… Bùi Phan Thảo đã đặc tả về Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh trong những ngày tháng phong tỏa gian nan ấy:

“Thành phố vắng hoe/ như giấc ngủ kéo dài của người dậy muộn/ tiếng rao đêm đã chìm sâu sau những bức tường/ Đã mấy tháng rồi dịch giã leo thang/ những đồng tiền còm cõi bay đi theo bàn tay trắng (Chương “Đêm trước ngày phong tỏa”)

Rõ ràng trong sự bi ai của rất nhiều số phận, của rất nhiều cảnh ngộ đáng thương, ta vẫn thấy những nỗ lực phòng chống dịch, cả hệ thống chính trị vào cuộc. TP HCM là nơi đại dịch lan nhanh nhất, rộng nhất cả nước, người dân TP HCM gồng mình, kiên cường chống dịch:

 “Sài Gòn chưa bao giờ lặng im như thế/ Sài Gòn đau một phần thân thể/ oằn mình chống chọi tang thương/ đã từng là thành phố 24 giờ không ngủ/ nay im lìm quạnh quẽ giữa đêm rơi”…

“Sài Gòn đau trời đất cũng đau/ những chùm ca bệnh dồn vào hẻm nhỏ/ khăn tang trắng từ đầu con phố/ nước mắt vòng quanh ra đến bờ kinh/ Biết mỏng mảnh lằn ranh tử sinh/ mà vẫn nhói lòng con số mỗi ngày trên báo/ tôi ngồi lặng trước tin bài từng đêm giông bão/ ngoài kia gió quật mưa gào/ nước mắt khô lại đầy như biển/ sóng dâng lên trôi hết những vì sao… (Chương “Sài Gòn đau một phần thân thể”)

Nhà thơ cũng như bao người dân nước Việt cũng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc trong những tháng ngày đó. Lúc hoang mang, lo lắng, chưa biết diễn biến dịch ra sao, tác hại thế nào lên cuộc sống, sinh mạng cá nhân, gia đình và cộng đồng; lúc vui mừng, lạc quan trước những diễn biến khả quan hơn, dịch bệnh từng bước được đẩy lùi, cuộc sống từng ngày trở lại bình thường… Mỗi ngày ai cũng nhìn ra, nhìn quanh, mong những con số ca bệnh, số người lìa đời giảm đi; mong những bữa cơm không còn nghẹn lại khi hay tin một người thân đã không thể vượt qua, thương những em bé thơ dại phải chịu cảnh mồ côi.

Trong gian khó, khổ đau luôn xuất hiện những tấm lòng, mà trước nhất là những y bác sĩ trên tuyến đầu chống dịch:

Những đứa con của chúng tôi/ mai này sẽ nói về ngày chúng lớn lên vắng vòng tay cha mẹ/ với niềm tự hào rạng rỡ/ không có lựa chọn hay chối từ/ không còn thời gian để lo âu có thể mình nhiễm bệnh/ khi vào cuộc đua giành mạng sống cho người/ những toan tính thiệt hơn là chuyện xa xôi/ sau chiếc áo blouse là con tim ấm lời thề Hippocrates/ những chuyến lên đường vì bình yên đất nước/ luôn có bóng thiên thần trong nỗi nhớ thương/ các con cho mẹ cha chân cứng đá mềm/ để về hôn má phính tóc tơ tột cùng hạnh phúc…(Chương “Sài Gòn đau một phần thân thể”)

Cảm xúc lắng sâu, cuộn chảy thành câu chữ. Những dòng thơ thể hiện sự kiên cường của người dân TP HCM chống chọi, vượt qua đại dịch. Nhiều người, nhiều ngành và cả nhiều văn nghệ sĩ cùng chung tay:

“Chị nhà văn vét gạo nhà cho em và bà con lối xóm/ lên mạng gọi bạn bè người quen góp sức góp công/ các nữ nhà văn kết nối xin gạo đem cho dân/ đến từng nhà từng hẻm/ thấy người nghèo mừng mà mình tủi vì thương/ chỉ tấm thẻ nhà văn đi xuyên qua thành phố/ các trạm cũng cho qua vì hiểu tấm lòng lành/ Cũng biết xông pha thì sẽ nguy nan/ lỡ có mệnh hệ gì ai lo khi nhiễm bệnh/ nhưng nằm nhà lại cồn cào nghĩ từng cảnh ngộ/ thôi dấn bước ra đường quên cả hiểm nguy... (Chương “Thơm mãi những bàn tay”)

Tất cả đều thể hiện những tấm lòng vì mọi người, vì cộng đồng, vì thành phố thân yêu, vì cả nước để vượt qua đại nạn này. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, câu thành ngữ ấy mãi đúng với con người và cảnh ngộ xưa nay. Vượt lên tất cả, đó là tình người, tình đồng loại, đồng hương... cùng ý chí và nghị lực sống. Bùi Phan Thảo đã trộn mình vào mọi người, mọi hoàn cảnh để quan sát, để cảm nhận mà hóa thành thi ca. Ý thức nghề nghiệp đã tạo ra những ngân rung vươn mình:

“Những bàn tay của triệu người dân Việt/ qua những cách ly đợi phút sum vầy/ nhận ra nhau sau khẩu trang nói lời bằng đôi mắt/ và nụ cười tỏa sáng giữa hồn nhau/... sẽ có ngày hân hoan nụ cười nước mắt/ đất nước yên bình thơm mãi những bàn tay”…

Tất cả đã gói gọn, đã đọng lại một điều như là chân lý: “Cây kết trái cùng bóng râm tỏa rộng/ thành phố phương Nam bừng sáng nghĩa nhân… (Chương: “Thơm mãi những bàn tay”)

Cuối cùng tiếng nói đanh thép cất lên như một lời tuyên chiến của lương tri với những tội ác do chính con người gây ra:

“Đại dịch đặt loài người trước sự lựa chọn/ sống hay chết/ chết ra sao và sống ra sao/ lương tâm không thét gào/ không lên giọng nói điều răn dạy/ song lũ gian manh đừng hòng bỏ chạy/ các người không né tránh được đâu/ làm điều ác phải trả bằng chuyện ác/ đi ngược dòng đời làm trái nghĩa nhân/ đừng hòng mơ giấc ngủ ngon không mộng mị/ đối diện những mặt người nhàu nhĩ/ những khổ đau chất ngất của nhân quần/ các người không thể sống bình yên/ dân đau khổ tang thương/ các người táng tận làm giàu/ tiền chảy vào từng túi tham như suối/ các người có thấy màu tiền đỏ như máu/ đỏ như mặt trời/ sẽ nhấn chìm các người/ cùng tội lỗi không bao giờ gột được… (Chương “Đối diện”).

Qua tập trường ca, người đọc cả nhận rõ hơn về khí chất, tình cảm của người Việt. Đau thương nhưng không bi lụy, vẫn lạc quan, mạnh mẽ, kiên cường làm lại cuộc sống sau những mất mát. Biết bao sinh linh đã từ giã cõi đời một cách không ngờ khi đại dịch tràn qua, những ngọn khói đưa linh hồn họ bay đi. Qua đại dịch, toàn nhân loại và mỗi con người cũng sáng rõ thêm nhiều điều. Ai cũng có câu chuyện về COVID-19 cùng những cảm nhận về COVID-19 của riêng mình. Song không khó nhận ra rằng, đại dịch đã thay đổi lối sống, nếp nghĩ của con người. Ai cũng thấy không gì tốt đẹp hơn đời sống; không gì quý giá như mạng sống. Hãy sống với nhau cho thật đúng nghĩa làm người.

“Những ngọn khói về trời” cũng chuyển tải thông điệp về tình người, niềm tin, ý chí kiên cường, về nhân nghĩa truyền đời sâu sắc. Chọn thể loại trường ca, Bùi Phan Thảo đã chuyển tải được những tâm tư, ước nguyện, những giãi bày về cuộc sống và sẻ chia tình cảm của đồng loại, đồng bào; rung ngân những khát vọng sống của con người…

(Bài đăng Văn nghệ số 52, ngày 24/12/2022).

Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin nồng nhiệt chúc mừng nhà thơ Bùi Phan Thảo với trường ca "Những ngọn khói về trời" vừa được trao Giải thưởng Văn học năm 2022 của Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minhheart

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm