TIN TỨC

Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-05-19 17:46:37
mail facebook google pos stwis
599 lượt xem

NINH GIANG THU CÚC

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - ​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...

 

Nữ sĩ Tuệ Mai

 

Về phía trời xanh nhỏ nhắn về khuôn khổ nhưng hình thức thật trang trọng, cổ điển, tao nhã, không gian bàng bạc khói mây với đôi hoàng hạc đang xoải cánh bay về phía chân trời - nơi có bến mộng “Văn Chương” đang chờ người bút mực...

Phần gấp lại của bìa một - tác giả với ai đây mà đằm thắm thế? Lại có dòng chữ dưới tấm chân dung: Ru mình vào giấc xuân xanh, cho lòng thơ tắm suối lành mẫu thân. Mẫu thân nào mà chụp hình chân dung cùng Tuệ Mai để in lên tác phẩm trân trọng như thế, trong khi cụ bà sinh ra Tuệ Mai qua đời đã mấy mươi năm? Sự tò mò đã khiến người đọc đi tìm đáp số, thì đây: 

Là em chung chí hướng anh

Là con yêu mẹ dòng xanh nhiệm mầu  

(Ví mà mang nặng đẻ đau

Mẹ thương mẹ xót, thì câu: đã đành...)

Ru mình vào giấc xuân xanh

Cho lòng thơ tắm suối lành mẫu thân

Suối ơi, suối mát vô ngần

Tình ơi, hoa suối Quế Lâm ngọt ngào  

Thì ra thế này trời ạ! “Mẫu thân” mà Tuệ Mai âu yếm nép mình vào trong tấm chân dung in ở bìa một tập “Về phía trời xanh” là cụ bà Quế Lâm - bậc sinh thành ra nhà thơ tài hoa Phạm Thiên Thư và cũng là vị tu sĩ bất đắc dĩ đã từng tự giễu mình:  

“Vạc rằng thưa bác Thiên Thư

Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ...”  

Vị “Thiền sư” sẽ được bàn đến trong bài cảm nhận này:

Tuệ Mai sau 2 cuộc tình nửa thực nửa hư - một với người yêu đầu đời đã gãy gánh vì tử biệt và một cuộc hôn nhân nặng nghĩa bạn bầu cùng cư sĩ Nguyễn Văn Nh. Rồi vị cư sĩ chồng hờ độ lượng này cũng phất tay rũ áo tìm về cõi Phật, Tuệ Mai sống âm thầm bầu bạn với trời đất trăng sao cỏ cây hoa lá, dấn thân cho sự nghiệp và dõi mắt tìm chưa thấy khách tương tri...  

Nhưng rồi giờ G đã điểm... Nửa linh hồn của Tuệ Mai bấy lâu thất lạc đã tìm về gõ cửa sau tháng năm phiêu bạt phong trần trong ngục tù sáu nẻo nhân gian:

Bằng nhân duyên tự kiếp nào man mác

Bằng tâm hồn chờ đợi suốt mùa thơ

Bằng tin yêu vô hạn - thực không ngờ

Mình tái ngộ trong cảnh tình rất lạ

(Sợi gió xanh - TM)  

Đó là sự gặp gỡ định mệnh giữa hai tâm hồn đồng điệu, nhưng khổ thay: Rất không thuận của mắt nhìn thiên hạ. Mặc kệ thiên hạ họ cứ: 

Nhưng mùa xanh vẫn nở dưới trời hồng

Nhưng trăm hoa vẫn nở đẹp đôi lòng

Là suối biếc sông lam tình quyến luyến

Trong im lặng nghe muôn vàn trìu mến

Thân xa thân mà tim thực gần tim

Là mảnh đời nhau - là khát khao tìm

Là gặp lại chính mình hai của một

(Sợi gió xanh - TM)  

Sự khẳng định của Tuệ Mai chắc như đinh đóng cột cho dù cả hai đều biết: Rất không thuận của mắt nhìn thiên hạ. Nhưng khi yêu rồi, khi tình yêu đến rồi, thì không có trở ngại nào làm họ chùn bước, huống chi họ đã cùng suy nghĩ:  

“Duyên trời gặp một giai nhân

Cũng dòng thanh khí là Trần Nguyện Mai”

(Đoạn trường vô thanh - PTT)  

Mắt nàng như chiếc nôi êm

Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời

Em là hoa hiện dáng người

Tôi là cánh bướm cung trời về say...

(Động hoa vàng - PTT)  

Họ đến với nhau do “đồng khí tương cầu” cho nên mọi trở ngại về hình tướng của nhà sư kiêm nhà thơ đều vô nghĩa, Tuệ Mai bơi lội trong bầu trời xanh của hai bờ mộng thực:  

Như hoa mãi nở theo người

Dẫu xa thân xác liền đôi tấm lòng

Người về gieo hạt nắng trong

Cho tôi chắp cánh mở vòng chiêm bao

Cho tôi dòng biếc trăng sao

Tin yêu đã tự kiếp nào, thưa anh

(Thưa anh - TTTM)  

Vâng! Tin yêu đã cho Tuệ Mai thấy không gian toàn màu hy vọng - một màu xanh - về phía trời xanh - vào giấc xuân xanh:  

Trưa hồng rực rỡ nắng bay

Hiên văn mái lá bóng cây xanh đùa

Thả mình trên võng vàng tơ

Nghe tôi đang sống phút giờ bình yên

Trong thôn xóm những thời hiền

Tiếng chim gáy rụng bên thềm gợn rêu

(Vào giấc xuân xanh - TM)  

Thì ra cảm giác tìm kiếm đã đến với Tuệ Mai từ lâu lắm, từ khi “Bay nghiêng vòng đời” mà ta thấy cái nao nức chưa định vị một phía trời xanh để nhìn phương hướng cho mấy kiếp bay tìm:  

Hoa sớm đẹp như thơ

Thơ buông từ cánh gió

Gió hiền thương tình ta

Một thuở nào dang dở

  

Một thuở nào mây xanh

Ngậm ngùi xa núi biếc

Một thuở nào chim xanh

Phải lìa đôi tạm biệt 

 

Bây giờ đôi cánh chim

Giữa vòm cao gặp lại

Sau mấy kiếp bay tìm

Nhìn nhau như buổi mới

Anh bước cao biển động

Em gót dài sông mưa

Dâng hoa vào cuộc sống

Tha thiết mấy cho vừa

(Mấy kiếp bay tìm - TM)  

Họ đã tìm và đã gặp. Mừng thay!  

Người về sao nở trên tay

Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ.

(Động hoa vàng - PTT)  

Hát ru dân tộc ta có câu Thương nhau tam tứ núi cũng trèo / Ngũ lục sông cũng lội thất bát đèo cũng qua thì trong cuộc tình của Tuệ Mai, người trong cuộc cũng đã từng thi vị hóa:
          Cho dù thất suối tam đèo

Chút hương hoa cũ ướp theo bấy ngày

Mới về em vội qua đây

Ẩn lan gởi lượng trầm này kính dâng...

(Đoạn trường vô thanh - PTT)

Một mối tình đẹp như cổ tích, mộng mị như liêu trai, nhẹ nhàng thanh thoát như tiên đồng ngọc nữ:  

Sáng nay vẫn cảnh “Văn Chương”

Lưng non đôi mái khói hương phụng thờ...

(Đoạn trường vô thanh - PTT)

... Núi vuông Thiên ấn ngọc lam

Sông nghiêng lụa đậm dấu chàm thiên thư

Rừng tùng thoảng mõ trầm tư

Nổi trôi chuỗi hạt thái hư bềnh bồng

Thảo đường lập phái thi Tông

Trường sơn vẽ một nét cong vách ngời

Mênh mang mây trải gấm phơi

Hoa lay tưởng ngọn bút trời phê văn

(Đoạn trường vô thanh - PTT)

Tuệ Mai trải lòng, trái tim để dâng tặng và đón nhận tấm tình của người mình yêu như mưa đông đón chờ nắng hạ:  

Phòng nhỏ trầm thơm, phòng nhỏ hoa

Bâng khuâng trong đó dáng ai chờ

Bút nghiêng giấy mỏng dòng thơ biếc

Thơ biếc xanh hàng mực biếc pha  

Rất nhẹ... mình trôi theo nắng mai

Qua khuôn cửa mảnh tới bên người

Thướt tha tia sớm vờn trang sách

Dòng chữ tươi trong hạt nắng tươi  

Gác bút, nhìn thơ, anh mỉm cười

Này em, áo lụa bạch reo vui

Có nghe cánh hạc đương băng gió

Cùng ánh xuân về núi đón mai

(Hạt nắng tươi - TM)

Với Tuệ Mai anh là nắng tươi sưởi ấm, là gió mát trưa hè, là nhật nguyệt sáng soi trong màn đêm u tối:  

Ô! Mặt trời có thật

Mầm cây vươn lên rồi

Tôi mỉm cười hôn đất

Chào bóng tối đang lui

(Hôn đất - TM)

Sáng, chiều, trưa, sớm Tuệ Mai luôn mang tâm trạng:  

Ngóng anh, phiền cả dòng mưa

Chim không gọi nắng, mắt chờ lạnh tê

Cổng xanh lá ngả thầm thì

Than mây tiếp nối giọt chia ngăn người

Nghiêng cành lãng đãng ngâu rơi

Mưa buông rèm nước gác mai nhạt nhòa

Tưởng rằng hương thoáng trầm xa

Bút anh mực thắm, ý hoa dâng tràn

Hạt lành chữ nở từng trang

Giữ thơm dân tộc muôn ngàn cánh tơ

Lậu Mai cửa khép, xin chờ

Đón anh, anh với suối tơ mây hồng

(Chim không gọi nắng - TM)

Với nữ sĩ Tuệ Mai từ tuổi dậy thì đến giờ, đây là mối tình đẹp nhất, thơ nhất, lý tưởng nhất chăng?  Đúng thế! Bằng trực giác, Ninh Giang Thu Cúc - trả lời thay cho người thơ khuất núi với tất cả sự thương quý... Thuở sinh thời những tháng ngày đẹp nhất của Tuệ Mai nếu không quá chủ quan, thì Ninh Giang Thu Cúc nghĩ rằng đó là những tháng ngày Tuệ Mai và Phạm Thiên Thư yêu nhau. Bởi vì đây là giai đoạn mà Tuệ Mai sáng tác sung sức nhất và ý thơ tươi mát nhất. Cứ đọc kỹ 23 bài thơ trong “Về phía trời xanh” sẽ thấy bài nào ngôn ngữ cũng như reo cười và tựa đề của bài nào cũng trẻ trung đầy sức sống, mối tình lớn này là lực đẩy, là chất xúc tác cho cường độ làm việc của Tuệ Mai, hình như hai mươi bốn giờ trong ngày Tuệ Mai đều dành cho Phạm Thiên Thư, nhìn đâu Tuệ Mai cũng thấy đẹp, tình yêu ngự trị mọi nơi chốn, mọi thời khắc.  

Hạnh phúc mịn màng như cát nằm lòng suối

Hạnh phúc long lanh như sỏi mới ngâm mình

Vào tình yêu của anh

Em như con chim nhỏ

Bay trong lòng trời xanh

Tung tăng theo nhịp gió

  

Em như làn gió xanh

Trong vườn hương ngây ngất

Em như dòng nước xanh

Tới biển hồng bát ngát 

 

Em bắt đầu những đêm

Mơ về phương trìu mến

Em bắt đầu những đêm

Vào chiêm bao âu yếm  

 

Em xin làm mưa mau

Buông sợi mềm óng ả

Trong những giờ đợi nhau

Trong những ngày mong nhớ  

Em xin làm dây hoa

Nương mình bên đại thụ

(Ôi! Tình yêu tình yêu

từ đây tôi bé nhỏ)

(Chiêm bao âu yếm - TM)

“Trai tham sắc, gái tham tài” - Câu nói dân gian mộc mạc thế mà không sai một tí ti nào... Tình yêu của người phụ nữ bao giờ cũng bắt đầu bằng sự kính phục và ngưỡng mộ bởi thế khi đã gặp được mẫu người như ước vọng, người phụ nữ sẵn lòng hóa thân thành kẻ nô lệ tôi đòi để phục vụ người họ yêu trong sự tự nguyện, trong hạnh phúc được chinh phục bởi tài năng, trí tuệ, đức độ... Ngoại hình của đàn ông chỉ là thứ yếu, họ chỉ cần cao hơn phụ nữ một cái đầu là đủ lắm rồi (?!) lúc ấy họ sẽ biến thành cây tùng cây bách để:  

Em xin làm dây hoa

Nương mình bên đại thụ

(Chiêm bao âu yếm - TM)

Em xin làm dây hoa nhỏ bé yếu ớt bên cây đại thụ vững vàng, em xin làm học trò ngoan bên ông thầy thông minh uyên bác, em xin làm đêm tối để anh là mặt trời soi sáng cõi dân gian, và Phạm Thiên Thư là Mặt Trời của Tuệ Mai: Hoàng hôn đưa Mặt Trời về nhà, Mặt Trời về nhà có tình yêu đợi đón. Tình yêu của Mặt Trời chưa bao giờ phiền muộn. Tình yêu của Mặt Trời trong như ánh mắt trẻ thơ.

Mướt say như làn da thiếu nữ nương tơ xanh áo đợi chờ.

Mặt Trời mang quà về cho Tình yêu đó,

Quà sớm nay rừng xanh góp tiếng chim ca.

Trưa xóm thôn trao tặng những lời ru

Và chiều lên gởi bao lời tình tự.  

Tình yêu Mặt Trời đeo chuỗi âm thanh chim hót

Ngủ ngoan lành trong tiếng hát ru em

Còn cất dành những tình tự chiều êm

Để ấm áp ngày mai khi Mặt Trời đi vắng

(Tình yêu Mặt Trời - TM)

Người ta bảo, khi yêu người già hóa trẻ, người trẻ hóa thành bé con. Khi Tuệ Mai gặp lại một nửa của mình thì người phụ nữ làm thơ này đã ở vào giai đoạn thật viên mãn về nhan sắc, trí tuệ, tuổi tác, vậy mà sao lúc nào ta cũng thấy bà nao nức tươi roi rói:  

Nắng lên rồi nắng lên rồi

Trái tim hồng hào máu mới

Bằng mắt nắng tươi

Tôi nhìn rõ người

Người nhận rõ tôi

Tôi đang yêu người

Người đang yêu tôi

Tôi thực yêu người

Người thực yêu tôi

Hồng hào nắng mới...

(Hồng hào nắng mới - TM)

Tình yêu sao mà dễ thương đến lạ, quyền năng đến lạ, phép mầu đến lạ như phù thủy vung chiếc đũa thần kỳ diệu biến đá thành hoa:  

Nghĩ suốt đời là trẻ tập đi

Chân bước hẫng tay quờ không trúng đích

Nghĩ suốt đời nào có tươi chi

Múi thân thể vắt cho thật bã

Nhưng nay - người đến - bỗng dưng

Vừng dương chào mở nụ hồng

Cánh tôi lướt vào xuân chính

Yêu đời vô thủy vô chung

(Hồng hào nắng mới - TM)

Và đêm bỗng thành mặt nước,

Mặt nước mênh mang của dòng sông ngọt mát.

Nàng khoan khoái ngâm mình,

Những sợi tơ rũ xuống

Thành khuôn mặt anh,

Thành thân thể anh

Và anh thành sóng.  

Sóng cuồn cuộn ôm nàng

Nàng thành hơi thở

Sóng thành sợi tơ

(Xuân đêm hò hẹn - TM)

Mãnh liệt và kỳ diệu, tín ngưỡng và mê hoặc, ai tín đồ và ai giáo chủ trong buổi đăng quang này:  

Đêm hẹn hò ngây ngất trầm hương

Rất trạng nghiêm đêm mở thánh đường

Rồi ánh nến, rồi lời kinh, rồi bàn tay phép lạ

Phù trợ nàng nhập với lá hoa đêm

(Xuân đêm hò hẹn - TM)

Một tình yêu quá đẹp dù có muộn màng cho Tuệ Mai nhưng quan trọng chi chuyện sớm muộn, bởi:  

Một ngày tựa mạn thuyền rồng

Còn hơn chín kiếp nằm trong thuyền chài  

Dẫn cặp ca dao trên kẻ viết bài này chỉ muốn ví von duy nhất chuyện hòa hợp, đồng cảm trong tình yêu của nam nữ. Ngoài ra, không dùng phương pháp so sánh ấy cho các trường hợp khác...  

Dạo ấy, khoảng thập niên 70 (thế kỷ XX) dân văn nghệ và bằng hữu của Tuệ Mai tại Sài Gòn ai cũng biết chuyện yêu đương của Tuệ Mai, rất nhiều người không đồng ý vì cho đó là chuyện trái khoáy.

Một: Tuệ Mai lớn tuổi hơn Phạm Thiên Thư.

Hai: Phạm Thiên Thư là người xuất gia, là tu sĩ Phật giáo.

Nhưng cũng có người thông cảm cho Tuệ Mai bởi biết bà rất thiếu thốn một thứ tình yêu đích thực của hai tâm hồn đồng cảm trong nhiều lãnh vực thuộc phạm trù văn học... mà Phạm Thiên Thư là đối tượng có đủ điều kiện đáp ứng nhu cầu trí tuệ của nữ thi nhân này. Lại nữa, sự đi tu của Phạm Thiên Thư chỉ là biện pháp tình thế (trốn lính).  

Phía gia đình của Phạm Thiên Thư, bà cụ Quế Lâm và hai người chị của nhà thơ cũng khuyến khích cuộc hôn nhân ấy vì cụ Quế Lâm rất thương Tuệ Mai và cụ chỉ có một con trai duy nhất là Phạm Kim Long tức nhà thơ tài hoa Phạm Thiên Thư đi tu với pháp hiệu Tuệ Không. Cụ bà biểu Phạm Thiên Thư hoàn tục để chính thức làm đám cưới với Tuệ Mai. Về phần Phạm Thiên Thư chẳng có chi trở ngại bởi ông đã từng viết:  

Đố ai tát cạn mạch sầu

Thì ta để tóc lên cầu đón ai

(Động hoa vàng - PTT)

Đến lúc gặp “ai” rồi thì ông đã như một bậc đế vương ngày xưa chỉ mong nghe được tiếng em cười dù phải xé cả ngàn mét lụa:  

Từ em hé nụ cười huyền

Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa

(Động hoa vàng - PTT)

Em cười là lá vàng, là gió heo may tan biến chỉ còn mùa xuân về ngự trên miền cỏ lạ hoa thơm. Một tình yêu có yếu tố thuận lợi để đi đến hôn nhân bởi tất cả hầu như đã được chuẩn bị. Có một chi tiết mà lúc khám phá ra Ninh Giang Thu Cúc thật sự ngậm ngùi và thương cảm 2 đương sự quá chừng, chuyện là thế này: Trong toàn bộ tư liệu của nữ sĩ Tuệ Mai gồm có tác phẩm và các bài báo thời ấy viết về bà, cũng như tất cả cái gì liên quan đến văn nghiệp của Tuệ Mai mà Ninh Giang Thu Cúc đang có để tham khảo, bà phát hiện ra 4 tờ giấy lịch loại Agenda năm 1971 (Tân Hợi) dán vào các trang đầu của tập “Về phía trời xanh”. Những dòng thủ bút rất bay bướm trang trọng nhưng đầy chất tài tử của Phạm Thiên Thư (hay của Tuệ Mai), nội dung thủ bút là viết tên họ của 2 người: Tờ số 1 viết - Phạm Trần Thư Mai, tờ lịch ghi ngày 7 viết Thiên Thư Tuệ Mai. Tờ ngày 3 viết Phạm Trần Thiên Khôi mở ngoặc tự chương; tờ mồng 6 viết Phạm Trần Thiên Phương. Thú thật là đọc xong, Ninh Giang Thu Cúc đã khóc vì xúc động với suy nghĩ - đó là bản phác thảo cho một tiểu gia đình lý tưởng của đôi vợ chồng và 2 đứa con ngoan Thiên Khôi và Thiên Chương (những tờ lịch thủ bút này Ninh Giang Thu Cúc đã chụp bản và đưa vào phần phụ lục Nữ sĩ Tuệ Mai)

Nhưng sao những hoàn cảnh thuận lợi, những ý tưởng tốt đẹp cho một tương lai giữa hai người yêu nhau thiết tha như thế lại không thành hiện thực???

Lại một lần nữa bất hạnh đổ xuống cuộc đời người phụ nữ tài hoa, mệnh bạc này... Khi Tuệ Mai gặp được một tình yêu quá đẹp Tuệ Mai quá sung sướng, quá hạnh phúc - cái hạnh phúc của tài tử văn nhân “khi chén rượu khi cuộc cờ khi xem hoa nở khi chờ trăng lên”. Yêu nhau vì nết vì tài tưởng như vậy là quá đủ, nhưng khi tình yêu thơ mộng cao khiết sắp chạm mặt với hôn nhân, để hóa thân người yêu thành người vợ, với thiên chức nặng nề cao quý đang chờ đợi, thì Tuệ Mai mới ngã đạn ra để thấy lại bản thân mình không có khả năng làm mẹ, không còn nét trẻ trung để sống cuộc đời chồng vợ - xứng lứa vừa đôi với người yêu theo định lý thuận của cuộc đời.  

Tuệ Mai phản tỉnh quay ngoắt một trăm tám mươi độ, cho tâm trí rời khỏi động hoa vàng, rời khỏi vương cung tình ái... từ chối cuộc tình trong đoài đoạn xót xa bằng những bài thơ, bức thư trình bày cùng cụ bà thân mẫu nhà thơ Phạm Thiên Thư những lý do bất khả và giới thiệu một cô bạn gái trẻ hơn mình nhiều để cụ Quế Lâm cưới cho Phạm Thiên Thư hầu sinh con nối dõi cho nhà họ Phạm (cô bạn này đã từng yêu thơ Phạm Thiên Thư và có dự nhiều buổi nói chuyện và bình thơ của ông Thư).  

Đối với cụ Quế Lâm thì đây là một trường hợp khá đau lòng và khó xử. Cụ rất thương Tuệ Mai về nết về tài và muốn Tuệ Mai cùng Thiên Thư nên chồng nên vợ. Nhưng còn quyền lợi của dòng tộc, của gia đình bà không thể để con trai của bà mang trọng tội với tổ tiên (bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại). Phần Phạm Thiên Thư - ông không quan trọng lắm về chuyện con cái bởi ông từng là tu sĩ phật giáo, nghiên cứu về duy thức học, về thiền học, về triết lý nhà phật. Ông lại là nhà thơ với nhiều tác phẩm giá trị, là võ sư, là thầy thuốc vì thế ông sống rất thoáng. Ông thường an ủi Tuệ Mai: Sau này chúng ta không có con đẻ nhưng những tác phẩm văn học là những đứa con tinh thần vô giá.   Dạo đó (1971), Phạm Thiên Thư mở cơ sở xuất bản “Văn Chương”, mở trường phái thiền học và võ thuật tên gọi Thi Tông và được mẫu thân là cụ Quế Lâm truyền nghề Đông Nam y dược.

“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...

Nhưng Tuệ Mai vì lòng tự trọng, không muốn làm cái đích cho sự đàm tiếu của mọi người bởi sự chênh lệch về tuổi tác cũng như về đường con cái nên đã kiên quyết chia tay... Hành động đẹp như nữ hiệp sĩ này đã làm các bạn hữu trong thi hội Quỳnh Dao cảm kích - nhà thơ Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền đã gửi cho Tuệ Mai bức tâm thơ ca ngợi việc làm của bà với tựa đề:  

BÀI THƠ KẾT THÚC

(Thương yêu vô vàn trước nghĩa cử

của Tuệ Mai khi rời Động hoa vàng)

…Thuở đó, một dạo xôn xao...

Chuyện thơ phiêu lãng lối vào mù sương

Người thơ thả bước quên đường

Động hoa vàng ngát hương vương cánh vàng

Nhụy hoa quấn quýt mơ màng

Sắc màu mừng đón “Nữ hoàng thi ca”

Ngập ngừng ghé Động thăm hoa

Rụt rè cảm hứng, sa đà thơ duyên

“Về phía trời xanh” mơ tiên

Bút hoa nở thắm “Bay nghiêng vòng đời”

Góp chương nối khúc không lời

Đoạn trường thi tứ tuyệt vời trang thơ

Tình thơ cuộc kết nào ngờ

Động hoa vàng bỗng ngẩn ngơ lá sầu

Tạ tình một khối vì nhau

Cho Mai bóng mát nhiệm mầu bấy nay

Ân tình xếp cuộc chia tay

Dâng tràn tâm nguyện niềm tây Động vàng

Đóa mai khép cánh vô thường

Chiêm bao một giấc hoàng lương thơ đề

(Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền)

Ta có thể dễ dàng hình dung ra cuộc chia tay của hai kẻ thương yêu nhau vì cảnh ngộ éo le đành phải cắn răng nói lời từ tạ, nó vừa buồn như điệu kèn tử biệt, như hồi chuông giáo đường giục giã gọi hồn ai... lại vừa đẹp, vừa thơ, vừa hào hiệp nghĩa khí như tráng sĩ thời cổ sử quên mình cho bình yên, cho hạnh phúc của bao người...

Biết rằng chấm dứt cuộc tình này là làm một việc quá sức chịu đựng, là trở về với sự vây bủa của cô độc, cô đơn, nhưng bằng nghị lực và lòng quả cảm, Tuệ Mai đã chiến thắng được niềm đam mê, sự yếu đuối. Ai là người thân thiết của Tuệ Mai đều hiểu rằng cuộc đời bà rất thiếu thốn tình thương yêu. Lên chín tuổi đã bị tử thần cướp đi người mẹ, đến tuổi vừa chớm yêu với tình đầu vụng dại cũng bị luật vô thường tử sinh chia biệt, rồi bị lấy chồng theo những yêu cầu bức thiết của mọi người chung quanh.  Vậy Tuệ Mai đã thật sự có tí ti nào hạnh phúc chưa? Xin thưa là chưa! Cho nên bà thèm khát một tình cảm đích thực. Vì thế khi gặp được Phạm Thiên Thư - một tâm hồn đồng thanh khí với “văn chương nết đất thông minh tính trời”, với “đề huề lưng túi gió trăng" trong phong vận nhẹ nhàng, hài rơm lần bước ôm pho kinh điển. Chênh vênh đầu trượng thiền sư. Cửa non khép ải sương mù bóng ai. Non xanh ướm hỏi trang đài. Trăm năm còn lại dấu hài động hoa.  

Họ đến với nhau như có sự hẹn hò từ tiền kiếp. Họ kính yêu nhau như con chiên yêu chúa, như tín đồ yêu thần tượng, họ quên hết bao buộc ràng khuôn khổ, khe khắt của cõi nhân sinh. Tới nỗi này ta mới thấy Tuệ Mai là một phụ nữ có cá tính dứt khoát mạnh mẽ. Khi yêu, yêu mãnh liệt, yêu với tất cả sự rung động của trái tim băng giá giữa lòng hỏa tinh nhưng khi sự việc không mang tính hợp lý Tuệ Mai quay đầu ngay - đó là sự mạnh mẽ của lý trí - yêu mà không đắm chìm mê muội, trái tim không lầm chỗ để trên đầu, đó là điều rất đáng trân trọng tấm tình cao thượng của nữ sĩ Tuệ Mai.  

Phạm Thiên Thư khoác áo cà sa vì nguyên nhân nào ta không dám lạm bàn, ta chỉ biết ông có một cái đầu thông tuệ uyên bác và một trái tim cực kỳ đa cảm, có thể nếu không gặp lại “chiếc xương sườn” của ông từ kiếp nảo kiếp nào thì ông đã được “hoa khai kiến phật”:  

Khơi trầm thơm tụng kinh hiền

Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da

Vườn chùa có nụ hàm ca

Sương khuya pháp bảo trăng tà: vô minh  

Nhưng rồi tất cả mọi kiếp nhân sinh đều bị sự chi phối của nghiệp lực, nghiệp lực đã đưa đường dẫn lối cho Thiên Thư và Tuệ Mai gặp nhau trong hoàn cảnh: Rất không thuận trong mắt nhìn thiên hạ. Tuệ Mai có buồn đau nhưng rồi năm tháng sẽ phôi pha bởi tất cả sẽ đi vào kỷ niệm, phía trời xanh đã một lần vẫy gọi Nàng Thơ vào Động hoa vàng bằng dấu hài đẫm nguyệt và đã trả nàng về lại với lầu Mai sương khói thuở cô miên...  

Rồi qua bao dâu bể trầm luân, tháng năm chất chồng hệ lụy, bệnh tật lao lung, tác giả “Về phía trời xanh” đã thật sự thõng tay buông bỏ sự đời làm cuộc hành hương về phía trời xanh vĩnh cửu, để lại niềm thương tiếc cho gia đình máu thịt, cho bằng hữu văn chương, cho bao trái tim ngưỡng mộ, và cho một người đã từng “trăm năm tính cuộc vuông tròn” phải ngậm ngùi:  

Cuối xuân ta lại tìm em

Tiểu thơ chi mộ thềm hoa dại tàn

Sớm thu ta đánh đò sang

Bên đường cổ mộ lại vàng cúc hoa

(Động hoa vàng - PTT)

Nghe tiếng ca nàng run giữa khuya

Tưởng đâu tiền kiếp thoáng em về

Nắm xương tàn lụi nằm trong mộ

Cỏ lạnh trăng vàng rụng xuống bia

(Tiếng cũ - Đoạn trường chủ nhân - PTT)

 

Ninh Giang Thu Cúc mượn ba câu của cụ Nguyễn Du để đóng lại bài cảm nhận “Về phía trời xanh”:  

Rằng hồng nhan tự thuở xưa

Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu

Nỗi niềm tưởng đến mà đau...

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Cũng xin được trình bày cùng Á Nam Lưu Niệm Đường và ông bà Phạm Thiên Thư ít dòng tâm sự: Khi cảm nhận tập “Về phía trời xanh” người đọc - Ninh Giang Thu Cúc tất nhiên phải đề cập đến chuyện tình yêu bởi đấy là tập thơ tình yêu - mà tại sao lại không ca ngợi một tình yêu đẹp và bi tráng như thế? Tại sao không nói tác giả “Về phía trời xanh” là một nữ sĩ đẹp từ tâm hồn đến ngoại hình và nhân cách như thế? Lại nữa, Ninh Giang Thu Cúc tâm niệm nếu mai sau những người làm văn học sử Việt Nam có nhắc đến sự nghiệp của cô con gái cưng của Á Nam Trần Tuấn Khải thì những bài viết thô thiển này biết đâu sẽ được góp phần để họ làm tư liệu cho một giai thoại đẹp về văn học. Bằng ý niệm tôn trọng và vinh danh những nét đẹp trong tình yêu và sự hi sinh của người phụ nữ Việt Nam trong mọi cảnh ngộ, tác giả vô cùng mong ước sự đồng cảm của quý vị như sự đồng cảm của nhà thơ nữ lão làng Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội, trong lời đề bạt cho tập “Về phía trời xanh”.

 “Chàng ung dung đến, bát ngát như những sợi tơ trăng - đến với nàng công chúa đương ngủ ngoan lành, bỏ quên tình ái.

Chàng đến không với bó hoa hồng, mà là với một nếp thiên thư bìa bướm giấy tằm, ấn điểm son tươi, chữ thơm mực xạ...”

(Trích lời bạt của Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội).

(Rút từ tập Nữ sĩ Tuệ Mai - Thân thế và sự nghiệp (NXB Trẻ , 2007)

(Thay lời ai điếu Phạm Thiên Thư.)

N.G.T.C

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm