TIN TỨC

Sự nhập cuộc của một nhà thơ lão thành qua trường ca Corona

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-10-05 23:57:30
mail facebook google pos stwis
1608 lượt xem

Nguyễn Thanh Mừng

Từ những năm bản lề thế kỷ XX vắt qua XXI đến nay, Xuân Trường chứng tỏ bằng sự nhiệt thành và sung sức của một cây bút với bản lĩnh nói theo ngôn ngữ dân gian là "gừng càng già càng cay". Từ Chùm thương nhớ (1999), Tìm xưa (2000), Không gian em (2005), Nắng trầm tư (2008), Chiếc cằm nũng đôi (3013), Hai vệt nắng chiều (2018), Trường ca Đếm lại bước chân mình (2020), đến Trường ca Corona (2022), Xuân Trường có một hành trình thơ mà sự nồng đượm với tình yêu thơ ca, tình yêu con người và cuộc sống  tỉ lệ thuận với bước chân tăng tốc.

Bây giờ, nhìn lại các thời điểm từ đại dịch Covid 19 khởi phát qua các thời đoạn tập trung chống dịch, nới lỏng giãn cách xã hội, bùng phát trở lại, những tháng ngày đỉnh điểm trước khi trở lại trạng thái bình thường mới, nhiều người không khỏi rùng mình. Đại dịch Covid- 19 là đại dịch toàn cầu, đã đưa Việt Nam và cả thế giới vào những thay đổi ứng biến từ ý thức đến hành động, từ cách thức tổ chức đến lối sống tương thích, đầy gian nan thương khó để đương đầu và vượt qua. Trên các phương tiện truyền thông đại chúng, hằng ngày, hằng giờ cập nhật các tin tức về đại dịch từ thôn bản đến xã phường, từ quận huyện đến tỉnh thành, trong nước và quốc tế. Đối với TP. Hồ Chí Minh- xứ sở đặc thù của sự hội tụ cư dân tứ chiếng học tập, làm ăn, giao hảo, lại thường là nơi đi đầu trong công việc thiện nguyện với các vùng khó khăn của cả nước- trong hoàn cảnh này, cả nước cũng đồng lòng thể hiện sự quan tâm đặc biệt. Quãng thời gian đó của của những người đồng hành với cuộc chiến chống dịch trên nhiều vai trò khác nhau từ khu vực hành chính công đến các doanh nghiệp, từ y bác sĩ đến tình nguyện viên, từ lực lượng vũ trang đến dân sự, từ cán bộ đến nhân dân qua các làn sóng đương đầu đại dịch, đến lần thứ 4, biến chủng Delta với tốc độ lây lan nhanh khiến thành phố phải liên tục thay đổi chiến lược phòng chống dịch, hẳn chưa phai trong ký ức.  Hình ảnh, bóng dáng của các đợt cách ly, giăng dây, tem phiếu, đi chợ hộ, hành trình chở F0 đi điều trị ; tang lễ lặng lẽ diễn ra trong đại dịch; cuộc tầm soát Covid-19 quy mô lớn nhất; đêm trực căng thẳng tại bệnh viện dã chiến; những lương tâm đặt cao cùng trách nhiệm, những cưu mang của tình người...vẫn còn in đậm trong những con chữ, những khuôn hình, những thước phim, những bức tranh, nét nhạc…

Nhà thơ Xuân Trường đã trải qua những tháng ngày dữ dội ấy ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, và điều đáng trân trọng ở ngòi bút này là trên cương vị tuổi lão thành mà vẫn luôn nhiệt tâm và năng động hết mình, như tính cách của thành phố ông cư ngụ. Ông ý thức một cách sâu sắc trách nhiệm của người cầm bút và thực hiện như một sứ mệnh tiên phong: "Ẩn số không lời giải/ Không viết gì cho hôm nay/ Là thiếu sót cho mai sau, vì thơ văn có tính thời sự riêng của nó/ Những ý này xuất hiện trên tờ Think China. Và lan tỏa sang Hồng Kông, văn chương đã vào cuộc, mạnh miệng nhanh tay…bao lần". Trong cảnh huống điểm mặt gốc gác của con virus gây ra "Những cái chết nhanh gây nhiều hoang mang ở Vũ Hán/ Thế giới báo hiệu- bắt đầu thêm một cuộc lầm than", ông không thể không thốt lời kêu gọi những đồng nghiệp: "Những ngòi bút thế giới các bạn đang ở đâu/ Hãy vẽ bức tranh đau thương trên mặt địa cầu/ Từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc trên quê hương các bạn/ Bởi vì đại dịch rồi đây còn biết bao điều phải nói cho mai sau/ Và nhân loại sẽ còn vượt qua bao nhiêu nỗi đau". Ý thức nhập cuộc luôn thường trực trong tư duy Xuân Trường với những câu hỏi mang tầm khái quát: "Thế giới mỗi ngày, mỗi ngày/ Thêm bao hiểm họa/ Trái đất nóng lên môi trường nghiệt ngã/ Sự tồn tại của loài người tính đến mong manh/ Bao giờ trời lại xanh".  Nhiều hình ảnh vì cộng đồng rất đẹp qua Trường ca Corona của Xuân Trường là hình ảnh những từ "thiên thần áo trắng": " Thương những bác sĩ thần tốc ba lô lên đường từ Hải Phòng- Hà Nội- Sài Gòn/ Sẽ cứu nguy cho Đà Nẵng thân yêu/ Cho Bắc Giang cho Hải Dương những nơi dịch bùng phát/ Ơi ngành Y Việt Nam hôm nay những đôi vai nặng trĩu" đến những anh bộ đội: "Bộ đội lăn xả giúp dân tiếp tế thực phẩm vào các khu phong tỏa/ Ôi tình thương diệu kỳ/ Những gian truân thử thách/ Cũng vô cùng thập tử nhất sinh". Nhà thơ Xuân Trường đặc biệt ý thức và dành tình cảm cho người lính, qua tình cảm với người lính ngày đêm canh giữ biển trời, ông cảnh báo những hiểm họa cố hữu và tàn khốc hơn cả đại dịch: " Thương những chiến sĩ ở đảo xa mắt chong chừng/ Virus xâm lấn chủ quyền còn nguy hiểm hơn Corona/ Với đôi tay dài từng ngày vươn tới mộng xa/ Giấc mộng hoang đường lưỡi bò chín đoạn". Giữa cuộc quyết liệt chống dịch, ông lắng lòng tìm thấy những chi tiết cảm động lung linh của đời sống thường nhật: " Thương nhân dân tôi không còn những tháng ngày yên ả/ Cũng có tiền tuyến, hậu phương thâm tình đến lạ/ Có một anh xe thồ từ chối không nhận tiền công/ Khi biết người mình chở đi là một bác sĩ".

Trường ca Corona có tầm vóc phản ánh trên diện rộng,  nhưng hình ảnh thành phố nơi cư ngụ hiện thời của tác giả, ông đã gửi lại những tâm tình thống thiết của một thi sĩ lão thành: " Ôi Sài Gòn thành phố Hồ Chí Minh đã gồng mình lên trong những ngày chống dịch/ Lịch sử ba trăm năm có lẽ đây là đỉnh điểm những thăng trầm/ ...Tôi sẽ không bỏ Sài Gòn mà đi, bởi Sài Gòn đã nuôi tôi từ những ngày tay trắng/ Dẫu có chết ở nơi đây vì dịch, tôi cũng chẳng trách móc gì". Với tư cách một công dân thường trú, hơn nữa, một trái tim thi sĩ giàu nghĩa tình và dạt dào cảm xúc, ông nói lời "tri ân của trái tim Sài Gòn": " Sài Gòn xin cúi đầu tri ân những dũng sĩ những thiên thần/ Xin thắt lòng trước phút giây tưởng niệm/ Những trái tim đã hy sinh trọn vẹn cho Sài Gòn... Có giấy bút nào viết cho hết công lao/ Mỗi phút lại đầy thêm tấm lòng bác ái". Trong một trường ca 9 chương với trăm trang, mục đích phản ánh những khốc liệt và thăng trầm của đại dịch "Viết lên trời xuống đất những thét gào của nhân gian" để tìm tới không khí thanh thản của đời sông bình thường, Xuân Trường không ngại lặn lội giữa một rừng tin tức, bình luận thông tấn hằng ngày và chắt lọc từ đó những "hồng cầu thời sự" để tăng mạch đập cho ngôn ngữ thơ dồn dập khẩn trương băng qua một hiện thực nước sôi lửa bỏng, những câu hỏi dường như ẩn chứa trong đó câu trả lời. Tinh thần nhập cuộc và dấn thân là tinh thần xã hội đặt ra và đòi hỏi giới văn học nghệ thuật, trên những vấn đề trọng đại và nóng bỏng của đời sống dân tộc, đất nước. Nhà thơ Xuân Trường đã tự nguyện hướng thế giới quan của mình vào đề tài Corona với chủ điểm cảnh báo những mưu toan quốc tế, những bành trướng, tham vọng bá chủ, tàn sát môi sinh, gieo rắc những tai ương cho nhân loại. Với quyết tâm ấy, nhà thơ tỏ rõ thái độ, từ việc chỉ tên xuất xứ virus đến những nhân danh khác trên chính trường các cường quốc trong các cuộc giành giật lợi ích bè phái cục bộ, hoặc cuộc lợi dụng xương máu của nhân dân và sản nghiệp của quốc gia để trục lợi, nấp sau những lời lẽ mị dân hào nhoáng nhằm đi ngược giá trị chân thiện mỹ của loài người... Với tâm thế đó, ông được sự đồng cảm và khích lệ của nhiều đồng nghiệp, đầu tiên là những nhà thơ đang đảm đương những trọng trách ở tổ chức Hội Nhà văn, từ lúc Trường ca Corona còn ở dạng bản thảo: "Nhà thơ Xuân Trường dựng lên cuộc truy tìm nguồn gốc Covid-19 nhưng là để truy tìm nguồn gốc của sự phát sinh ra cái Ác của con người" (Vaccine của lòng nhân ái- Nguyễn Quang Thiều); "Nhà thơ Xuân Trường biết cách gieo cấy suy tư nóng bỏng vào dặm dài hoang mang dịch bệnh" (Viết lên trời lời nguyện cầu thế kỷ- Lê Thiếu Nhơn).

Nhà thơ Xuân Trường

Từ những năm bản lề thế kỷ XX vắt qua XXI đến nay, Xuân Trường chứng tỏ bằng sự nhiệt thành và sung sức của một cây bút với bản lĩnh nói theo ngôn ngữ dân gian là "gừng càng già càng cay". Từ Chùm thương nhớ (1999), Tìm xưa (2000), Không gian em (2005), Nắng trầm tư (2008), Chiếc cằm nũng đôi (3013), Hai vệt nắng chiều (2018), Trường ca Đếm lại bước chân mình (2020), đến Trường ca Corona (2002), Xuân Trường có một hành trình thơ mà sự nồng đượm với tình yêu thơ ca, tình yêu con người và cuộc sống  tỉ lệ thuận với bước chân tăng tốc. Ông giao thiệp với các thế hệ, các khu vực sinh hoạt thơ ca như một người không có tuổi. Có lẽ điều đó sẽ góp chút hưng phấn, tương thích với khí chất của một nhà thơ không ngừng lặn lội vạn nẻo muôn màu của cõi trần ai, với tâm thế nhập cuộc.

N.T.M      

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm