TIN TỨC

Tài hoa tối giản

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-04-04 12:58:37
mail facebook google pos stwis
3050 lượt xem

TRẦM HƯƠNG

Tôi không có ý định viết về cố nhà thơ Đoàn Vị Thượng dù biết anh từ khi mới về Sài Gòn lập nghiệp, cũng hơn 30 năm rồi, đã được đọc nhiều thơ anh, thời báo in còn hoàng kim, số nào cũng đăng thơ nên nhiều nhà thơ khởi nghiệp có đất sống.

Tổ chức sự kiện “Tưởng nhớ nhà thơ Đoàn Vị Thượng - ra mắt tập thơ Thơ tình và những bài áo trắng, Hội nhà văn văn Tp. Hồ Chí Minh nhận được nhiều bài viết công phu, cảm động về cố nhà thơ. Cũng chính vì có nhiều bài viết mà tôi được truyền cảm hứng để viết ra những cảm nhận về thơ anh, qua góc nhìn của một phụ nữ, với hy vọng những cảm xúc về anh không trôi đi, được lưu lại một chân dung trong những đời văn được chạm của mình.


Ngày 19/3/2022. Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh tổ chức buổi tưởng nhớ nhà thơ Đoàn Vị Thượng và ra mắt tập thơ Thơ tình và những những bài áo trắng. Đồng đảo bạn văn và độc giả đã có mặt tham dự.

Đoàn Vị Thượng đa tình, đa cảm

Những năm 1990, khi mới về Sài Gòn công tác, tôi đôi lần gặp anh ở quán văn nghệ Trần Quốc Thảo, có khi ở một quán cóc ven đường Tú Xương... Tôi thật có ấn tượng về nụ cười hiền của anh. Anh không nhiều lời, không hứng khởi đọc thơ tràn theo những ly bia, đúng mực và dịu dàng với một phụ nữ trẻ dấn thân vào “trường văn trận bút”... Rồi công việc cuốn tôi đi, không có nhiều thời gian cho những cuộc gặp bù khú thơ ca, những cuộc trà dư tửu hậu giới văn nhân Sài thành. Nhớ lại, đó mới thật là thời hồn nhiên, thật hạnh phúc, vui vẻ. Dù vậy, tôi vẫn thường “thấy” anh trên những trang báo. Thơ anh thường mang đến cho tôi những cảm xúc trong trẻo, ngọt ngào, đằm sâu. Mãi đến năm 2019, nhà thơ Bùi Đức Ánh nhiệt tình động viên tôi: “Em gởi cho Thượng đi. Những bài em viết rất hợp gu của báo đó”. Khi đến báo Giáo dục lãnh nhuận bút, gặp nhà thơ Đoàn Vị Thượng, tôi không khỏi kinh ngạc vì anh thay đổi nhiều quá. Đâu rồi nhà thơ trẻ măng như cậu học trò, với vẻ đẹp trong trẻo, tinh khôi sở hữu nụ cười hiền! Lúc ấy, tôi cứ nghĩ, Ừ, thì quy luật thời gian khắc nghiệt. Đâu ai trẻ mãi. Cũng 30 năm rồi, bản thân mình cũng đã thay đổi biết bao... Tôi vô tâm không biết anh đang vướng vào một căn bệnh hiểm nghèo, đang điều trị. Tôi vô tâm không nghĩ rằng anh đọc nhiều về tôi, dõi theo những bước chân tôi trong nghề nghiệp, đánh giá công tâm những bài viết của tôi với những bạn văn có mặt hôm ấy. Anh thoáng buồn, bày tỏ: “Báo nghèo, nhuận bút báo không nhiều em nhé!”. Tôi trả lời anh bằng một nụ cười, chắc cũng rất hiền nên thấy gương mặt anh dãn ra cũng bằng một nụ cười. Rồi tôi lại cuốn vào những dự án, những chuyến đi..., miệt mài kiếm tiền nuôi con, đâu hay đó là lần cuối được gặp anh. Đầu năm 2020, bất ngờ khi hay tin anh mất, tại nhà riêng sau thời gian dài chống chọi với bạo bệnh. Lúc ấy dịch bệnh covid đang bắt đầu quét qua Sài Gòn. Chúng tôi đến tiễn biệt anh trong lặng lẽ...

Trong lặng lẽ, tôi đọc lại thơ anh, chợt nhận ra anh đa tình quá đỗi. Tôi nghĩ tài hoa thơ của anh khởi nguồn từ trái tim đa cảm. Giải thưởng cống hiến của Hội nhà văn Tp. Hồ Chí Minh năm 2021 vinh dự được trao cho cố nhà văn Đoàn Vị Thượng. Công việc tổng kết giải thưởng văn học hàng năm, từ năm 2020, tôi càng có điều kiện đọc kỹ và được ngấm những vi diệu, những cảm xúc được truyền dẫn từ thơ anh. Anh người gốc Huế, thời niên thiếu ở Quảng Ngãi, lập nghiệp ở Sài Gòn. Anh có thơ in trước năm 1975. Anh đã rời thế gian này nhưng thơ thì ở lại. Cố nhà thơ Đoàn Vị Thượng đã tạo nên một trời thương nhớ trong lòng độc giả. Chỉ với Ngôi trường, hoa phượng và tôi (tập thơ in chung với Lê Minh Quốc, Phan Thị Nguyệt Hồng năm 1986), Chuyện tình chim hót, Môi thơm, Tóc em còn thả mùa đi học, Đoàn Vị Thượng thơ, khi rời xa thành phố thân yêu này, anh vẫn còn được sống trong nhiều ký ức thế hệ độc giả. Không in nhiều tập thơ nhưng đủ thấy thơ anh tài hoa, tinh tế, dung dị. Với lòng đa cảm, anh đã dự báo về một ngành giáo dục với bao bất cập, trăn trở; thật tàn nhẫn, là tội ác để vùi dập những giấc mơ, vấy bẩn những tâm hồn trong sáng:

Viên phấn tự mài mình chết đi

để đâm chồi sự thật

Nhẹ nhàng ơi cái chết vô tư

Chúng tôi gìn giữ trái tim chân thực hàng giờ

Các em hồn nhiên mà ánh mắt

long lanh soi rọi thế

Cái bục giảng không cao nhưng đã có

bao người vấp té

Viên phấn của lòng mình không giữ nổi trên tay

Buông thả đấy rồi, những ngón loay hoay

Sẽ mỏi mòn đi và rơi rụng

Như người lính không tự cầm lấy súng

Vách chiến hào đây dễ ấm lưng...

Lòng đa cảm đã cho anh nhìn thấy hạt bụi li ti từ viên phấn rơi ra trên bục giảng, hạt bụi làm nên ánh sáng tri thức truyền dẫn đến nhiều thế hệ và hạt bụi dự cảm về sự huỷ hoại, cái chết. Anh đa cảm nên tinh tế nhận ra viên phấn hằn lên dấu tay mình, viên phần nhỏ và gầy: “như một ngón tay trong bàn tay tôi đấy/ Nào ai nở đánh rơi giữa chừng hay tính toan bẻ gãy/ Sợ năm ngón tay kia thôi sẽ hết hồng.../ Có thể nào khác hơn? Khi tôi đưa ngón tay mình lên môi và cắn. Biết rằng viên phấn cũng đau....

Bài thơ Bụi phấn nổi tiếng những năm 1980, được phổ nhạc, lan truyền trên sóng truyền hình, truyền thanh, tạo dấu ấn cuộc đời sáng tác của anh. Thơ chấp cánh cho nhạc nhưng nhạc không thể chuyển nổi ý tưởng của thơ. Đọc lại nguyên bản Bụi phấn mới thấy bài thơ sâu lắng, gợi mở hơn biết bao. Tôi cảm nhận mình đang được đọc tâm hồn anh. Một tâm hồn đa cảm, giàu lòng trắc ẩn mà cũng thật mong manh, dễ bị thương tổn. Giờ đây, anh đã là hạt bụi, “tan mình trong gió” nhưng anh đã sống và được chết như mình ao ước: “Nơi trăm miền sẽ có dấu tay tôi”.

Nhà thơ Từ Nguyên Thạch đã có được tình tri kỷ văn chương với người em của mình. Trong nhiều năm, anh lặng lẽ nâng niu, cất giữ những thi phẩm Đoàn Vị Thượng, gom góp, sưu tầm từng bài thơ anh trai mình bỏ quên trong túi áo, trong những ngóc ngách cuộc đời, kịp in thành tập Thơ tình và những bài áo trắng gởi đến độc giả, sau một năm ngày Đoàn Vị Thượng mất… Tôi gượng nhẹ mở từng trang và một lần nữa, được chạm đến tâm hồn đa cảm của anh. Tiểu tiết từng ngón tay, từng cái Cầm tay quấn quýt, sâu thẳm, lặn vào bên trong: “Ngón nào cũng thịt cũng da/ Có nghe máu chảy thấm qua lòng mình” (Cầm tay, 1986). Trong bài thơ Ơn mẹ, Đoàn Vị Thượng thật thấu đáo với lòng biết ơn sâu thẳm: “Yêu em là cũng đã đành/ Sao anh thương mẹ ngọn ngành xa sâu/ Mẹ và em khác gì nhau/ Hôn môi em đỏ nhớ trầu mẹ tươi... Anh đa tình, anh rung động với nhiều cô gái... nhưng khi soi vào lòng mình, anh nhận ra một xác tín từ Gương trong mắt: “Đến lúc này tôi mới biết và tin/ Chiếc gương em - Ấy hồn tôi đọng lại/ Chỉ có thể yêu một người con gái/ Và một người, chỉ có thể là em!...”.

Tài hoa đến tối giản

Trong lặng lẽ, đọc thơ Đoàn Vị Thượng, tôi bắt gặp những câu thơ tài hoa đến tối giản của anh. Thật giản dị để găm vào trái tim người với câu hỏi:

Có hiểu điều ấy chăng, bụi phấn biết nghiêng mình lễ độ/ Không rơi vào lồng ngực, trái tim trong.../ Các em mở ra những trang sách ruộng đồng/ Tôi cúi xuống gieo vào hạt chữ/
Có giọt mồ hôi và cả dấu tay mình ấp ủ/ Lặng thầm nói với mai sau...

(Bụi phấn, 1980)

Thơ anh chạm đến trái tim con người bằng ngôn từ trong sáng, giản dị; mở lối đi tắt, rất riêng để người đọc ngấm và cảm nhận một cách tự nhiên, như được uống ly nước mát trong lành. Những câu thơ tài hoa của anh xuất phát từ một tâm hồn đa cảm. Vì yêu mà bật lên triết lý: “Em xa/ Đêm ngủ nằm co quắp/ Ấy là tôi đang ôm vòng quả đất!” (Em xa). Vì yêu mà tâm hồn rộng mở: “Tôi thấy sáng nay mặt trời khi mọc/ Đem hồng tươi sơn thắm mọi ngôi nhà/ Không phân biệt đá hoa hay vách đất” (Như tôi, người thích ngắm mọi màu da). Vì yêu mà tận hiến: “Tôi thấy sớm nay con chim sơn ca/ Lanh lảnh hót làm rung vòm lá/ Hiến dâng cho bất cứ ai qua/ Có thể nghe được nhiều ý lạ. Vì yêu mà tự vấn, sợ tổn thương, sợ sự vô cảm: “Tôi thấy sáng nay nhựa dồn lên quả / Hoá hương thơm sực nức cây cành/ Trái chín vội sợ ta chờ lâu quá? Hỡi những lòng ai đó mãi còn xanh...” (Mùa vui báo trước, 1986).

Tài hoa đến tối giản trong một cái “Cầm tay”: “Khó là ta dắt nhau sang/ Phía bên bên kia mỗi gian nan đời mình...”. Sự thấu hiểu khiến tâm hồn nhà thơ bật lên thơ, chân thành bộc bạch bản ngã của mình: “Tôi cầm những ngón lặng im/ Ngón dài, ngón vắn, ngón xinh, ngón hiền/ Ngón nào em giữ làm duyên/ Ngón nào đỡ lấy luỵ phiền vì tôi...”.

“Đa tình, đa cảm nên thơ anh đầy dự cảm chia ly: “Vì tôi không biết đợi/ Nên em không biết chờ/ Ta cười vui như hội/ Nhưng cõi lòng trống trơ (Bi kịch). Anh không ảo tưởng tài năng, không cho mình là nhà thơ đẳng cấp, nên nhiều bài thơ viết ra được đăng đã vui, nhiều bài thơ trong túi áo đã nhàu nát, bị thất lạc. Thơ với anh như là hơi thở. Anh nhìn thẳng vào sự thật: “Câu thơ viết hôm qua nay đã hoá cũ mèm/ Viện bảo tàng ngày mỗi đầy di tích/ Cả ánh sao trong mắt em tinh nghịch/ Sợ ngày kia cũng chẳng nhận ra tôi.... (Thơ gởi tuổi thanh xuân, 1984)

Tâm hồn trong sáng, đa cảm, tinh tế, dung dị; bật lên những câu thơ tài hoa, hồn hậu, giản dị đến tối giản. Anh đi rồi, thơ ở lại. Bạn bè, nhiều thế hệ độc giả vẫn nhận ra anh. Tôi tin nơi thế giới bên kia anh đang nở nụ cười hiền với mọi người. Anh vẫn rất hạnh phúc khi được “tắm mình trong bè bạn, anh em”, được hoá vào cỏ biếc.

Nguồn Văn nghệ số 14/2022.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm