TIN TỨC

Thêm một Nguyễn Trường viết phê bình văn học

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-06-03 05:55:33
mail facebook google pos stwis
763 lượt xem

Nhà văn Nguyễn Trường vốn đã nổi tiếng với những tác phẩm sáng tác, như tiểu thuyết "Mộng đế vương" và tập truyện ngắn "Khai khẩu". Nhưng ít ai biết rằng, ông còn là một cây bút phê bình văn học "không chuyên nhưng rất có nghề", với những "Cảm nhận văn học" sắc sảo, công phu. Trong bài viết "Thêm một Nguyễn Trường viết phê bình văn học", nhà phê bình Vũ Nho đã đi sâu phân tích tập sách "Gặp gỡ những vùng văn học" của Nguyễn Trường, làm nổi bật tài năng, sự am hiểu sâu rộng và bản lĩnh thẳng thắn của một người làm phê bình văn học. Với kinh nghiệm sáng tác dày dặn, Nguyễn Trường đã mang đến những góc nhìn mới mẻ, thuyết phục về nhiều vấn đề và tác phẩm trong văn chương, dù đôi khi "thái quá" một cách hồn nhiên. Văn chương TP. HCM mời quý vị cùng khám phá để thấy được một "Nguyễn Trường" khác, chín chắn và chững chạc trong lĩnh vực phê bình, một đóng góp quý giá cho đội ngũ người viết phê bình vốn là "số ít trong đội ngũ trùng điệp các nhà văn"!
 

VŨ NHO

(Đọc "Gặp gỡ những vùng văn học" của Nguyễn Trường, Nxb Thanh Niên, 2024)

Nhà văn Nguyễn Trường là người sáng tác. Tuy nhiên, do công việc, nhà văn còn làm “người điểm sách”, “bình sách” (chữ trong Lời giới thiệu của Nhà xuất bản). Tác giả khiêm tốn gọi những bài viết của mình là “Cảm nhận văn học” chứ không ghi là tiểu luận, phê bình như những người làm chuyên việc phê bình. Song đọc 41 bài viết được tập hợp trong cuốn sách này gồm trả lời phỏng vấn, nhận xét đánh giá tập thơ, tập truyện, tập tiểu thuyết, tuyển tập thơ, kỉ niệm với nhà văn đàn anh,… hoàn toàn có thể coi đây là một tập phê bình, tiểu luận của một cây bút phê bình không chuyên nhưng rất có nghề vì người viết giàu kinh nghiệm sáng tác, kinh nghiệm đọc và luôn học hỏi, nghiền ngẫm.

Hầu hết các bài viết đều đã được công bố trên các tờ báo viết, báo mạng có uy tín văn chương. Chỉ có 6 bài, không in nguồn công bố, có lẽ do tác giả chưa gửi đăng. Đó là "Cần một hội nghị Diên Hồng cho giáo dục", "Nét vẽ tươi tắn bằng thơ", "Một giọng văn độc đáo", "Giải mã thơ Nguyễn Văn Hiếu", “Chấm phá” – Cảm nhận từ tâm hồn thơ", "Tiếng thở dài của một kiếp người". Tuy nhiên, các bài này đều chất lượng và thống nhất với cách cảm nhận của tác giả.

Chúng tôi cho rằng bài trả lời phỏng vấn do nhà thơ Vũ Thanh Hoa thực hiện “Phê bình văn học cần những gì” đã cho thấy người sáng tác, nhà văn Nguyễn Trường đã hiểu rất rõ bản chất của công việc phê bình. Vì hiểu rõ như thế, nên các bài viết của Nguyễn Trường về nhiều vấn đề, nhiều tác phẩm của đồng nghiệp vừa chi tiết, vừa khái quát, vừa sinh động, dễ hiểu, dễ tiếp nhận, vừa làm nổi bật đối tượng mà người viết đề cập. Khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Văn nghệ, Nguyễn Trường đã khẳng định: “Nhà văn tồn tại nhờ tác phẩm, do đó phải học hỏi, tích lũy vốn sống, vốn kinh nghiệm, khổ công sáng tác mới có tác phẩm có giá trị” (tr. 18). Điều này cũng rất đúng với việc viết phê bình văn học của tác giả. Nhà văn do đọc nhiều, tích lũy kiến thức lí luận văn học, nghiền ngẫm những gì đã tiếp nhận một cách kĩ lưỡng nên có thể bàn về nhiều vấn đề của văn chương. "Trường ca cần những gì?", "Quan hệ của người viết và người đọc", "Sức mạnh của nghệ thuật", "Nguyên mẫu và nhân vật", "Triết luận từ những ẩn dụ", "Truyền thống và cách tân", "Sự thật và hư cấu", "Tình huống trong truyện ngắn", "Giọng điệu trong tác phẩm", "Sự hồn nhiên trong thơ"… Bài viết nào không ít thì nhiều cũng có những phát hiện mới mẻ, thú vị, giúp người đọc hiểu sâu hơn về tác phẩm, tác giả, hoặc vấn đề được xem xét.

Nhà văn viết phê bình đã thẳng thắn chỉ ra việc tác giả của bộ "Kim Bình Mai" đã sao chép 3 hồi, gần 100 trang của bộ "Thủy Hử" (Tứ đại kì thư cũng giống nhau). Những bài viết về các nhà văn như Trúc Phương, Đỗ Viết Nghiệm, Nguyễn Vũ Tiềm, Nguyễn Khoa Đăng, Triệu Xuân, Nguyễn Đắc Xuân, đều công phu, chi tiết về tư liệu, cộng với quan hệ thân thiết, quý trọng, đem đến những thông tin mới mẻ, hữu ích về đóng góp của mỗi nhà văn. Riêng với nhà văn Nguyễn Khải, một đàn anh, một bậc thầy mà Nguyễn Trường “học được ở ông những chỉ bảo vô cùng quý báu về nghề viết văn”, tác giả đã dành cho ông bài “Lưu lại một chút tình”. Bài viết đã kể lại bài học về thâm nhập thực tế - “chịu khó tìm hiểu, chịu khó lắng nghe và ghi chép lại” và “phát hiện ra vấn đề từ gợi ý thực tế đời sống, đó chính là tư tưởng”. Nhờ đọc kĩ 8 tác phẩm tiểu thuyết của Nguyễn Khải để tái bản, Nguyễn Trường phát hiện “Văn ông ông thông minh bởi hay triết lí, triết lí từng câu, từng đoạn, từng chương khá sâu sắc. Văn Nguyễn Khải hay ở tầm tư tưởng”. Trong bài viết này cũng cho thấy tình cảm đẹp giữa hai người bạn viết vong niên “Mà hơn cả bạn vong niên, ông là người anh lớn, người thầy đầu tiên”.

Với tinh thần khiêm tốn, trước một tác phẩm đã từng được chọn đưa vào sách giáo khoa, Nguyễn Trường thẳng thắn chê những điều chưa thuyết phục. “Phần mở đầu của truyện kể về anh chàng trưởng phòng là thừa, phần kết thúc gần như lặp lại những gì đã kể ở giữa truyện”; “Ngoài ra còn một số tình tiết chưa thuyết phục”, “Tác giả không hiểu tâm lí vợ chồng, thường chồng đánh vợ xảy ra những lúc giận lắm, nóng lắm, bộc phát, bất ngờ, không ai đánh vợ chờ đến lúc lên bờ mới đánh” (Đọc lại “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu). Phải tự tin và bản lĩnh mới có thể chê một cách thuyết phục như thế!

Bàn về tình huống trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình Nguyễn Trường chọn phân tích kĩ truyện “Sang sông”, “Tướng về hưu” và “Muối của rừng” rồi chỉ kể tên 5 truyện khác là “Tâm hồn mẹ”, “Chảy đi sông ơi”, “Con gái thủy thần, “Phẩm tiết”, “Bài học nông thôn”… Có lẽ tác giả muốn dành cho bạn đọc tự chiêm nghiệm tình huống của các truyện đó, chứ không nói hết…

Nguyễn Trường là người viết truyện ngắn và tiểu thuyết thành công, có thương hiệu. Đó là một điểm thuận lợi cho tác giả khi phê bình mảng văn xuôi. Các tập truyện ngắn, tiểu thuyết, các nhà văn viết văn xuôi được tác giả đề cập khá chi tiết. Từ tiểu thuyết Lịch sử đến tiểu thuyết tư liệu, từ tiểu thuyết ngắn đến tiểu thuyết trường thiên 8 tập gần 2000 trang khổ lớn…Bài viết nào tác giả cũng đưa ra những nhận xét đánh giá tin cậy, thuyết phục người đọc. Về tiểu thuyết “Cõi nhân gian” của Nguyễn Phúc Lộc Thành, Nguyễn Trường đánh giá “vô cùng hấp dẫn”, “Cuốn hút người đọc say mê đến quên ăn quên ngủ. Cứ thế kéo dài đến hết 8 tập”. (Có lẽ “quên ăn quên ngủ” là một cách nói ví von để gây ấn tượng, song tôi đã từng đọc và viết bài về tiểu thuyết này, tôi xác quyết rằng đó là một cuốn sách rất hấp dẫn và cuốn hút!). Cũng có ý kiến này khác tiêu cực về tiểu thuyết “Cõi nhân gian”, nhưng Nguyễn Trường khẳng định: “Kì lạ thay tác giả mô tả nó như nó vốn thế, không lên gân, không bới móc, không hằn học, tất cả cũng vì cái tâm trong sáng, muốn xã hội ta thay đổi để đất nước tốt lên, tươi sáng lên của một người nặng lòng vì quê hương đất nước. Đó cũng là cái tài nâng lên tầm nghệ thuật của tác giả “Cõi nhân gian”.

Không thấy thống kê tập thơ nào của Nguyễn Trường đã in. Nhưng tác giả viết khá nhiều về các tập thơ. Các bài đó chứng tỏ tác giả cũng rất am hiểu về nghệ thuật thơ ca, có con mắt xanh khi đánh giá. Viết phê bình tập thơ, cái khó nhất là chỉ ra nét khác biệt về giọng điệu, thi tứ, thi ảnh… và phải chỉ ra được những câu thơ hay, những câu thơ ấn tượng. Chắc chắn việc nghiền ngẫm các tác phẩm lí luận về thơ của nhà thơ tài hoa Nguyễn Vũ Tiềm: "Đi tìm mật mã thơ", "Tiếp cận mật mã thơ", đã cho Nguyễn Trường tự tin khi đánh giá các tập thơ. Người viết chỉ ra giọng điệu mới mẻ, cách diễn đạt khác lạ, nhất là các câu thơ hay khá thuyết phục.

Tuy vậy, hình như trong sự cảm nhận, có đôi khi Nguyễn Trường “thái quá” một cách hồn nhiên, khiến người đọc phân vân. Đó là khi viết về Nguyên Hùng, Nguyễn Trường phóng bút khen “một rừng câu thơ hay”, (Cũng có thể tác giả dựa vào triết lý của chữ Hán, hai chữ “mộc” thành chữ “lâm”, chỉ hai cây thành rừng, rừng câu thơ hay có khi chỉ là hai câu thơ hay?) (tr. 123). Thơ Trần Mạnh Hảo nhiều bài hay và ấn tượng, nhưng đánh giá: “Tập thơ gần 600 bài, từ thơ tứ tuyệt đến trường ca, bài nào cũng tuyệt đỉnh” ( tr. 219) thì thật là dễ dãi cũng “tuyệt đỉnh” luôn. Một ví dụ khác về thơ của Nguyễn Thị Hồng. Người viết có ấn tượng mạnh như lời thuật “không bỏ sách xuống được, bởi lòng dạt dào cảm xúc”. Nhưng có lẽ vì “quá cảm xúc” nên khi đánh giá bài thơ “Lá cỏ” người viết đã hào phóng khen tặng “Ôi tận cùng tinh tế!”. Rồi bài thơ “Lời tượng nhà mồ” mà được vinh danh “Một trong những bài thơ hiếm hoi hay nhất về Tây Nguyên”. (trang 286). Đã hiếm hoi (không nhiều, rất ít), lại còn hay nhất (đỉnh của chóp)! Khó mà đồng ý với người đánh giá!

Trong bài trả lời phỏng vấn do Thu Lam thực hiện, nhà văn Nguyễn Trường bộc bạch: "Chính quá trình đi lên, học hỏi, tích lũy kiến thức, đã cho tôi bản lĩnh, viết kỹ càng hơn, sâu sắc hơn hồi tôi còn trẻ". (trang 68). Đó là nói về công việc sáng tác nói chung. Riêng về lĩnh vực phê bình văn học, do chịu khó đọc, chịu khó tích lũy, chịu khó viết, nên ngòi bút phê bình của Nguyễn Trường ngày càng chín chắn, chững chạc. Bên cạnh nhà văn Nguyễn Trường giàu thành tựu, chúng ta có thêm một Nguyễn Trường phê bình văn học. Thật đáng quý vì người viết phê bình văn học luôn là số ít trong đội ngũ trùng điệp các nhà văn!

V.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm