TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người

Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-24 15:56:13
mail facebook google pos stwis
682 lượt xem

Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Từ khóa: căn tính tộc người; thơ ca Khmer đương đại; tự sự tập thể.

Abstract: Composed mainly in the Khmer language, and has been widely disseminated through local Khmer literary and art magazines and published poetry collections, contemporary not only reflects the personal emotions, feelings, and thoughts of individual poets but also serves as a collective narrative space that preserves memory, expresses ethnic identity, affirms the cultural distinctiveness of the Southern Khmer people. By employing survey and analytical methods to examine selected works by contemporary Khmer poets such as Sang Set, Thach Phach, and Thach Do Ni, and drawing upon theories of ethnic identity and collective narrative, this study reveals that Khmer poetry functions both as a repository of communal memory and as a cultural discourse through which the Khmer community affirms their position within the multi-ethnic society of Southern Vietnam. The research contributes to a deeper recognition of the significance of contemporary Khmer poetry in preserving and promoting ethnic cultural identity in the current context.

Keywords: ethnic identity; contemporary Khmer poetry; collective narrative

 

1. Đặt vấn đề

Vấn đề bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc luôn được quan tâm nghiên cứu từ trước đến nay. Trong dòng chảy chung ấy, văn hóa của các tộc người thiểu số luôn được xem là một phần quan trọng. Ý thức vai trò của cá nhân trong việc bảo tồn vốn văn hóa của cộng đồng, nhiều trí thức, học giả người Khmer luôn bằng các hành động thiết thực để thể hiện trách nhiệm của bản thân. Trong số đó, có thể nhận thấy sự đóng góp của các tác giả thơ ca Khmer thông qua các sáng tác bằng chính ngôn ngữ của dân tộc mình.

Thơ ca Khmer đương đại nổi lên như một hiện tượng văn học đặc biệt, trở thành không gian chung để các tác giả thể hiện tâm tư, tình cảm của mình, hòa tiếng nói cá nhân và tiếng nói chung của dân tộc để góp phần định vị bản sắc văn hóa tộc người Khmer trong không gian văn hóa đa tộc người ở Nam Bộ. Đây không chỉ là sự vận động của thi pháp thơ, mà còn là quá trình khẳng định căn tính tộc người thông qua diễn ngôn nghệ thuật. Tuy nhiên, so với số lượng lớn tác phẩm hiện có, thơ Khmer vẫn chưa được quan tâm đúng mức cả ở góc độ phê bình văn học lẫn nghiên cứu khoa học. Thực tế ấy cho thấy khoảng trống học thuật, từ đó đặt ra nhu cầu cấp thiết cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn.

 

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê và phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ ca Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni nhằm làm rõ vai trò của thơ ca như không gian tự sự tập thể - nơi ký ức, ngôn ngữ và bản sắc văn hóa Khmer được lưu giữ, biểu đạt và khẳng định. Cách tiếp cận của nghiên cứu dựa trên lý thuyết căn tính tộc người (ethnic identity) và tự sự tập thể (collective narratives), nhằm góp phần nhận diện sâu sắc hơn vai trò của văn học dân tộc thiểu số trong đời sống văn hóa đương đại ở Nam Bộ.

 

3. Kết quả và thảo luận

Tiếp cận lý thuyết tự sự tập thể và căn tính tộc người trong nghiên cứu văn học

Tự sự tập thể (collective narrative)

Tự sự tập thể là một khái niệm được hình thành từ sự giao thoa giữa nghiên cứu về tự sự học (narratology) và lý thuyết ký ức tập thể (collective memory). Đó là một kiểu kể chuyện bằng tiếng nói chung của một nhóm người chứ không phải giọng riêng lẻ của một cá nhân, tiếng nói ấy đại diện cho một tập thể có chung trải nghiệm và ký ức. Natalya Bekhta (2020) nhấn mạnh rằng, tiếng nói cộng đồng có một vị thế đặc biệt với tư cách là người phát ngôn cho tập thể và tác giả gọi đó là tự sự tập thể. Theo các tư duy ấy, ta có thể hiểu tự sự tập thể là một hình thức diễn ngôn giúp cộng đồng có thể khẳng định bản sắc của mình chứ không chỉ đơn thuần là một phép cộng dồn của các ý kiến cá nhân. Tự sự tập thể là chiếc chìa khóa quan trọng duy trì sự kết nối cộng đồng trong đó những câu chuyện mang tính tập thể ấy chính là chiếc cầu nối cho sự hợp tác xã hội (S.Gokhale, Bulbulia, & Frean, 2022). Tự sự không chỉ là phương tiện lưu giữ ký ức, mà còn giúp lựa chọn, thiết lập lại ký ức cộng đồng theo nhu cầu, giá trị và thực tiễn cuộc sống đương thời. Kết quả nghiên cứu góp phần lý giải tính “tập thể” của văn học nghệ thuật như một kho lưu trữ biểu tượng cho bản sắc và căn tính cộng đồng trong các nền văn hóa (López, Alphen & Carmona, 2025). Có thể nói, tự sự tập thể là khái niệm công cụ có chức năng giải mã cách thức văn bản văn học kiến tạo bản sắc cộng đồng, đồng thời cũng khẳng định vai trò xã hội của văn học như một “kho lưu trữ ký ức tập thể” và một “diễn ngôn khẳng định căn tính”.

Căn tính tộc người (ethnic identity)

Michael Bamberg (2009, tr.132) cho rằng, căn tính “biểu thị nỗ lực khu biệt và tích hợp ý nghĩa của bản thể theo các chiều kích xã hội và cá nhân khác nhau về giới tính, tuổi tác, chủng tộc, nghề nghiệp, băng nhóm, tình trạng kinh tế xã hội, dân tộc, giai cấp, quốc gia hoặc lãnh thổ khu vực”. Định nghĩa này cho phép nhận diện căn tính là bản chất, là cái riêng của một cộng đồng. “Căn tính dân tộc chính là giá trị căn bản làm nên bản sắc riêng của mỗi tác giả trong sáng tạo văn học. Nó cũng chính là căn nguyên cho sự khác biệt, làm giàu có thêm đời sống tinh thần của con người. Căn tính dân tộc nằm trong mỗi cá thể của cộng đồng, được hình thành và phát triển từ trong lòng mẹ, trong quá trình lớn lên và nhận thức về thế giới xung quanh, trong sự rèn luyện và tích lũy để hình thành tư duy, lối sống, lý tưởng thẩm mỹ…” (Mai Văn Phấn, 2019). Trong suốt chiều dài lịch sử với những chuyển biến không ngừng của mọi mặt xã hội, căn tính cũng không ổn định mà diễn ra quá trình kiến tạo liên tục (Hall, 1990). Mỗi tác phẩm văn học là một sản phẩm tinh thần của mỗi tác giả tạo nên một không gian đủ để người sáng tác và độc giả có thể kiến tạo và nhận diện câu chuyện theo cách riêng của mình. Cũng chính vì thế nên văn học được cho là có lợi thế lớn trong việc khai thác căn tính tộc người (Nguyễn Hồng Anh, 2024). Bởi lẽ “Các nhà văn sáng tạo là những đồng minh quý báu của chúng ta, và các bằng chứng của họ được đánh giá cao, bởi lẽ giữa lưng chừng trời họ biết được nhiều điều mà những triết lý của chúng ta không dám mơ tới” (Freud, 1908). Căn tính dân tộc trong nhà văn đã được hình thành, trải nghiệm và tích lũy qua quá trình lâu dài tạo nên nền tảng văn hóa vững chắc được thể hiện qua những màu sắc đặc trưng trong sáng tác khác với những dân tộc khác. Chính vì thế, căn tính dân tộc cho phép chúng ta nhận diện bản sắc văn hóa, tầm vóc của từng dân tộc, nhận ra diện mạo của từng nhà văn trong hành trình sáng tạo (Mai Văn Phấn, 2019). Tác phẩm văn học như một không gian biểu đạt căn tính, đó chính là những bản tuyên ngôn văn hóa, nơi căn tính tộc người được tái khẳng định (King, 2000). Như vậy, căn tính tộc người trong thơ ca Khmer Nam Bộ cũng không chỉ dừng ở việc bảo lưu các yếu tố truyền thống, mà còn là một tiến trình kiến tạo mang tính liên tục và đối thoại. Thơ ca trở thành phương tiện để cộng đồng vừa khẳng định sự khác biệt, vừa định vị mình trong bối cảnh văn hóa đa tộc người ở Nam Bộ.

Khái quát về thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ

Thơ ca Khmer phản ánh phong phú nhiều phương diện trong bức tranh đời sống con người với khoảng 68 thể thơ khác nhau. Nhạc tính trong thơ Khmer được tạo nên từ quy luật gieo vần trong một khổ thơ và liên khổ thơ cùng sự kết hợp của hiệp vần và hiệp âm.

Hiện nay, lực lượng sáng tác thơ ca Khmer khá đông đảo, các tác giả là hội viên Hội Văn học Nghệ thuật địa phương và cộng tác viên ở các báo, tạp chí. Đáng chú ý, có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu gồm: Châu Ôn, Trần Thanh Pôn, Sang Sết, Thạch Phách, Đào Chuông, Chau Mu Ni Sok Kha, Thạch Đờ Ni, Thạch Sok Khă Phép, Trần Văn Đài…

Tính đến nay, đã có hơn 1.000 bài thơ Khmer công bố trên các đặc san, báo, tạp chí tiếng Khmer ở các tỉnh vùng Nam Bộ. Bên cạnh đó, còn có các tập thơ song ngữ Khmer - Việt được xuất bản như: Nợ quê (2014) - Thạch Đờ Ni; Bước đến thành công (2019), Hoa hướng dương (2023), Ao Bà có bông, ao ông có quả (2023) - Sang Sết; và tập thơ tiếng Khmer Gặp em đêm Đôn Ta (2019) - Thạch Phách. Số lượng công bố phong phú cho thấy niềm đam mê, sự dày công chuẩn bị và sự tích cực vào cuộc của các tác giả Khmer trong lĩnh vực này. Trong phạm vi nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn các tập thơ của tác giả Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni với số lượng 190 bài để thực hiện khảo sát và phân tích.

Biểu hiện của không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người trong thơ ca Khmer Nam Bộ

Tiếng nói tập thể trong thơ ca Khmer Nam Bộ

Xuất phát từ đặc trưng tính cộng đồng của cư dân nông nghiệp lúa nước, những sáng tác thơ ca Khmer mặc dù bắt nguồn từ cảm xúc cá nhân nhưng vẫn mang tinh thần của cộng đồng, tập thể. Vì thế, trong thơ ca Khmer đương đại, ngôn ngữ và giọng điệu tập thể như một sự biểu đạt của tiếng nói cộng đồng được thể hiện rất rõ. Điều này thể hiện qua việc sử dụng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều​và các từ ngữ chỉ tập thể: Trong một nghiên cứu của mình về tự sự tập thể (we-narratives), Fludernik nhấn mạnh rằng đại từ ngôi thứ nhất số nhiều đã tạo nên “giọng kể tập thể”, điều đó đã xóa nhòa ranh giới giữa cái “tôi” và cái “ta” chỉ còn lại dáng dấp của một chủ thể cộng đồng. Bằng cách đó, qua thơ ca các cộng đồng khác nhau có thể khẳng định sự hiện diện tập thể và bản sắc của mình (2017). Trong nghiên cứu về tự sự tập thể, Gokhale và cộng sự (2022) cũng nhấn mạnh rằng các câu chuyện chung (collective narratives) có khả năng củng cố sự gắn kết xã hội và thúc đẩy hành động tập thể. Khi khảo sát 190 bài thơ Khmer của các tác giả Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni chúng tôi ghi nhận sự xuất hiện của đại từ số ngôi thứ nhất số nhiều​​và các từ ngữ chỉ tập thể xuất hiện nhiều lần như bảng sau:

Bảng 1: Tần suất xuất hiện các đại từ/ ngữ chỉ tập thể trong thơ Khmer 
Nguồn: tác giả thống kê

Bảng thống kê cho thấy, trong thơ ca Khmer việc sử dụng nhiều đại từ ngôi thứ nhất số nhiều 134 lần với 79,8% và các từ ngữ chỉ tập thể 34 lần với 20,2% thể hiện diễn ngôn tập thể. Mỗi tác giả khi sáng tác thơ không chỉ thể hiện tiếng nói cá nhân mà còn đại diện cho cả tộc người tạo nên giọng kể chung mang ý thức cộng đồng. Sự xuất hiện rất nhiều lần của những đại từ như “chúng ta” không chỉ mang ý nghĩa nói về con người của hiện tại mà còn để nói đến những thế hệ đi trước và thế hệ tương lai, thể hiện tính liên tục của truyền thống và ký ức cộng đồng. Tự sự tập thể ở đây chính là sự lên tiếng của cộng đồng về chính mình để thơ ca Khmer trở thành một “nơi lưu giữa ký ức tập thể”, một diễn đàn tự sự tập thể, nơi căn tính tộc người được khẳng định qua ký ức chung, ngôn ngữ chung. Đặc trưng này thể hiện sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái chung chúng ta, gợi lên cảm nhận rằng thơ ca Khmer luôn hướng đến cái chúng ta cộng sinh. Đó cũng chính là đặc trưng trong quan niệm văn hóa truyền thống của người Khmer Nam Bộ - nơi con người không tách khỏi tập thể mà luôn gắn với gia đình, cộng đồng và phum sóc.

Biểu tượng văn hóa - không gian chung của cộng đồng người Khmer Nam Bộ trong thơ ca

Trong thơ ca Khmer Nam Bộ, không gian không chỉ được hiểu là giới hạn địa lý mà còn là trường tự sự của căn tính tộc người. Đó là nơi những sinh hoạt cộng đồng được kiến tạo và tái hiện qua tiếng nói tập thể. Các biểu tượng quen thuộc như phum sóc, ngôi chùa, cánh đồng, dòng sông, lễ hội... không đơn thuần là hình ảnh dân gian, mà trở thành tọa độ văn hóa xác lập ranh giới giữa “chúng ta” - cộng đồng Khmer - với các tộc người khác trong không gian văn hóa Nam Bộ đa tộc người. Ký ức tập thể được lưu giữ thông qua các biểu tượng và nghi thức xã hội. Khi đi vào văn học, những biểu tượng này trở thành “mã văn hóa” giúp cộng đồng vừa lưu giữ ký ức, vừa khẳng định sự hiện diện của mình trong hiện tại (Halbwachs, 1950). Tự sự tập thể được kiến tạo qua các biểu tượng đặc thù, nhờ đó duy trì sự liên tục của văn hóa và tái tạo bản sắc trong bối cảnh biến đổi của xã hội (López, Alphen & Carmona, 2025).

Đọc thơ của các tác giả Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni ta sẽ thấy hình ảnh ngôi chùa xuất hiện trong thơ ca Khmer rất chân thật như một trung tâm văn hóa tinh thần của cộng đồng, đó không chỉ là nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn là nơi kết nối cộng đồng trong các dịp lễ hội, là trường học, là nơi gặp gỡ của con dân phum sóc trong những dịp quan trọng. Qua khảo sát 190 bài thơ của các tác giả, biểu tượng ngôi chùa xuất hiện rất nhiều (47 lần). Điều đó khẳng định mạnh mẽ hơn vai trò của ngôi chùa trong đời sống văn hóa, đời sống tinh thần của người Khmer và cũng giải thích được lý do tại sao nhiều người cho rằng ngôi chùa chính là ngôi nhà thứ hai của người Khmer. Với tư duy ấy, ngôi chùa Khmer từ một “điểm quy chiếu linh thiêng” lại trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Cho nên đọc thơ ca Khmer ta sẽ thấy ngôi chùa còn là nơi hẹn ước, nơi chứng nhân cho tình yêu đôi lứa - một điều mà có lẽ ít được đề cập trong thơ của các tộc người khác.

ថ្ងៃ​នេះ​បុណ្យ​ភ្ជុំ​ម៉ុម​អុំ​ទៅ​ណា/ ទៅ​វត្ត​ទៅ​ផ្សារ​ប្រាប់​បងព្រលឹង/ បើ​អូន​ទៅ​វត្ត​បង​សូម​ទូក​ពឹង/ ខ្លាច​អី​ថ្ងៃ​ហ្នឹង​អុំ​ជា​មួយ​បង។ - Hôm nay Phchum Ben, em đi đâu thế/ Đi chợ, đi chùa cho anh hay nhé/ Anh xin đi ké nếu em đến chùa/ Đừng ngại chi em, ta cùng chèo xuồng (Trích Nếu em đến chùa, tập thơ Gặp em đêm Đôn Ta của Thạch Phách).

Có thể nói, các lễ hội truyền thống cũng chính là nét văn hóa mang đậm bản sắc của người Khmer. Mỗi bài thơ về lễ hội như Ok Om Bok, Chôl Chnăm Thmây hay Sen Đôn Ta và nhiều lễ hội khác là một bức tranh với sắc thái vui tươi mang nhiều hy vọng đã trở thành biểu tượng mang tính gắn kết cộng đồng. Trong thơ ca Khmer, không gian lễ hội truyền thống chính là không gian tự sự được vận hành như một hệ mã văn hóa đa tầng. Ở nơi đó chứa đựng các biểu tượng, nghi thức và các trò chơi dân gian tạo thành một thể thống nhất nhằm xác lập và tái sản xuất căn tính tộc người. Không dừng lại ở nhiều hình ảnh về lễ vật, ẩm thực, trang phục, điệu múa mà những bài thơ về lễ hội còn thể hiện tính biểu tượng qua những hình ảnh và ngôn ngữ như một kho tư liệu cảm thức: Sự đủ đầy về các lễ vật cúng không chỉ biểu trưng cho sự no đủ, phồn thịnh mà còn là sự kết nối giữa cái tục và cái thiêng. Hay hình ảnh điệu múa Romvong dưới ánh trăng tròn tượng trưng cho sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên vạn vật và với vũ trụ. Đơn cử như bài thơ Hẹn mùa Ok Om Bok sau của tác giả Sang Sết: គោម​ហោះ​បោះ​ពួយ​ឡើង​ខ្ពស់/.../ ប្រទីប​ជ្វា​លា​ភ្លឺ​ដូច​ថ្ងៃ/.../ ទាញ​ព្រ័ត្រ ​រុញ​ឈើ ​រត់-ត/ ក្បួន​ហែ​ដ៏​ល្អ​ប្រជាំ​រាត្រី/ ចូល​លេង​សិល្បៈរាំ​ច្រៀង​សប្បាយ/.../ បុណ្យ​អក​ឆ្នាំ​ក្រោយ​សន្យា​ជួប​គ្នា/ រាំ​ក្រោម​ច័ន្ទ​ថ្លា​នៅ​ស្រះ​គូ​ស្រី។

(Đèn gió tung bay lên cao vút/ Hoa đăng lấp ánh tựa ban mai/ Kéo co, đẩy gậy, chạy tiếp sức/ Diễu hành tạ lễ dưới trăng đầy/ Điệu múa uyển chuyển cùng nhịp hát/ Hẹn mùa Ok tới lại gặp nhau/ Ao Bà Om có trăng ngà nghênh đón) (Trích tập thơ Hoa hướng dương (Sang Sết).

Những hình ảnh quen thuộc ấy một lần nữa đi vào thơ khiến cho những bài thơ về lễ hội trở thành “neo ký ức” liên thế hệ, không chỉ với ý nghĩa nhắc nhớ về không gian quen thuộc với không khí trang trọng của những nghi thức và nhộn nhịp, nô nức của những lúc vui chơi mà đó cũng chính là lúc kết nối các thế hệ với nhau để sợi dây tình thân, sợi dây trao truyền văn hóa sẽ luôn liền mạch không dứt. Mỗi dịp lễ hội là mỗi dịp con cháu nhớ về tổ tiên, ông bà như nhớ về nguồn cội của chính mình. Đó chính là giá trị của lòng biết ơn, tình yêu thương đồng thời cũng là sự tự ý thức trong giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc: តា​អើយ​ប្របួយ​ផ្លែ​ច្រើន​/ ចូល​ឆ្នាំ​ចម្រើន​ផ្កា​រីក​ជា​ថ្មី/ ចៅ​មក​ដោយ​ចិត្ត​រីង​រៃ/ ក្ដុក​ក្តួល​ពេក​ក្រៃ​ព្រោះ​អាល័យ​តា។ - Nội ơi! Trái mắn oằn cành/ Xuân về hé nụ hoa lành đầu năm/ Cháu về với quả tim bầm/ Nghẹn buồn bên gối. Nội nằm… giấc thu! Trích bài thơ Nội ơi, tập thơ Nợ quê (Thạch Đờ Ni).

Văn hóa phum sóc là nét đặc trưng mang tính biểu tượng trong văn hóa tổ chức đời sống xã hội của người Khmer. Trong không gian văn hóa phum sóc mọi sinh hoạt của cộng đồng từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần được tiếp diễn qua nhiều thế hệ. Hình ảnh phum sóc hiện lên đa sắc màu trong thơ của tác giả Sang Sết và Thạch Đờ Ni với không gian làng quê yên bình có cánh đồng, dòng sông với hàng dừa, thốt nốt rồi hoa sen, hoa súng. Trong không gian ấy các tác giả đã thể hiện một cách sống động các hoạt động của con người diễn ra nhộn nhịp từ đời sống hằng ngày đến mùa lễ hội. Đặc biệt là hình ảnh thay da đổi thịt của phum sóc với những mái ngói đỏ tươi, những con đường mới chạy dài làm đẹp thêm hình ảnh quê hương. Trong thơ của tác giả Thạch Phách, phum sóc thường gắn với những ký ức về tuổi thơ với hình ảnh tuổi thơ đi chăn bò dưới chân núi, hình ảnh những ruộng rau, ruộng bí trổ hoa vàng, những bóng cây cổ thụ che rợp khoảng sân hay hình ảnh căn nhà mái lá có mẹ ngồi nấu cơm:

ឱកំពង់​ជ្រៃ​ភូមិ​កំណើត​ខ្ញុំ/ ដើម​ឈើ​ធំៗ​កាច់​​រាង​រេ​រាំ/ ស្គរ​យាម​រ​សៀល​កូន​ធ្លាប់​ចំណាំ/ ឆ្នាំង​បាយ​ម៉ែ​ដាំរង់​ចាំ​បុត្រ​ថ្លៃ។ Kom Pong Chrei quê hương tôi đó/ Có hàng đại thụ gió đong đưa/ Trống chiều vang xa, lòng vẫn nhớ/ Nồi cơm mẹ nấu đón chờ con. Trích Nhớ quê, tập thơ Gặp em đêm Đôn Ta (Thạch Phách)

Khẳng định ngôn ngữ Khmer như một công cụ duy trì bản sắc

Ngôn ngữ chính là chiếc chìa khóa quan trọng để duy trì và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc. Vấn đề sáng tác văn học bằng tiếng dân tộc thiểu số đã nhận được nhiều sự quan tâm từ trước đến nay. Nhà ngôn ngữ học B.Worf từng nhấn mạnh rằng “ngôn ngữ không chỉ là phương tiện để diễn đạt tư tưởng mà còn là một hình thức chi phối phương thức của những tư tưởng của chúng ta” (A.A.Belik, 2000). Trước làn sóng hội nhập văn hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc giữ gìn ngôn ngữ dân tộc lại càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết như tục ngữ Khmer có câu “Chữ viết mất, dân tộc tan/ Chữ viết phát triển, dân tộc vẻ vang”. Chính vì thế, việc sử dụng ngôn ngữ Khmer trong sáng tác thơ ca chính là một hành động văn hóa cụ thể nhằm góp phần khẳng định căn tính tộc người. Bàn về vấn đề này nhà thơ Thạch Đờ Ni (2024) đã có chia sẻ rằng: “Trong tổ chức định hướng sáng tạo, các hoạt động sáng tác đặc thù này đã được các nhà quản lý chú trọng nên việc sáng tác văn học nghệ thuật bằng tiếng Khmer đang dần dần được quan tâm nhiều hơn. Từ đó, nhiều văn nghệ sĩ Khmer đã nhiệt tình tham gia hoạt động sáng tác văn học nghệ thuật, tạo cho văn nghệ sĩ Khmer nói riêng văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số nói chung có một không gian thuận lợi để gởi gắm đứa con tinh thần, và bạn đọc cũng như khán giả có thể tiếp cận, tìm hiểu văn hóa, văn nghệ của dân tộc mình thông qua sáng tác văn học nghệ thuật. Từ đó, sáng tác văn học nghệ thuật Khmer vùng Tây Nam Bộ có một diện mạo mới, ấn tượng hơn, đặc sắc hơn. Đặc biệt là văn nghệ sĩ có vốn văn hóa, tiếng nói, chữ viết của dân tộc Khmer thỏa sức thể hiện bản lĩnh, tài năng của mình, nhằm góp phần tạo nên sự phong phú cho nền văn học Việt Nam”.

Việc các tác giả như Thạch Phách, Sang Sết hay Thạch Đờ Ni cùng rất nhiều tác giả khác đã lựa chọn sáng tác thơ bằng tiếng Khmer, hoặc song ngữ Khmer - Việt cho thấy sự tự ý thức sâu sắc về bản sắc văn hóa và vai trò của ngôn ngữ trong sáng tạo nghệ thuật của mình. Sự lựa chọn ấy cho người sáng tác sự tự tin trong thể hiện phong cách cá nhân và tư duy cảm xúc, thẫm mỹ và đó cũng chính là một cách để khẳng định căn tính tộc người Khmer trong không gian văn hóa đa tộc người ở Nam Bộ nói riêng và Việt Nam nói chung. Ý thức ấy, tinh thần ấy không chỉ dừng lại ở việc lựa chọn ngôn ngữ khi sáng tác mà cũng được các tác giả chuyển tải qua không ít bài thơ nhằm giáo dục thế hệ sau về việc học chữ dân tộc mình: អក្សរ​ខ្មែរ​ជា​ទ្រព្យ​ប្រាដក/ ត​នៅ​អនាគត​នឹង​បាន​ថ្លៃ​ថ្លា/ អក្សរ​ទាំង​នេះ​លក់​ទិញ​ពុំ​បាន/ មាន​តែ​សូធ្យ​រៀន​បង្កើន​បញ្ញា/ យើង​ខំ​សិក្សា​ចេះ​ចាំ​អក្ខា/ ទើប​បាន​ថ្លៃ​ថ្លា​សម្បូណ៌​រុង​រឿង។ (Chữ Khmer là di sản quý/ Đưa tương lai đến sáng ngời/ Chữ viết không mua bán được/ Chỉ học mới biết, mới khôn/ Con cháu cố gắng học/ Đưa dân tộc đến vinh quang) (Trích Chữ Khmer, tập thơ Bước đến thành công (Sang Sết).

Thơ ca Khmer như diễn ngôn văn hóa và phương tiện bảo tồn căn tính tộc người

Diễn ngôn văn hóa trong văn học thể hiện ở việc chọn lọc ngôn từ, hình ảnh mang nét đặc trưng của người Khmer. Những hình ảnh ấy như mã văn hóa thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan của cộng đồng trong bối cảnh xã hội đa tộc người được tái hiện bằng một giọng kể chung về chính bản thân mình từ những hình ảnh gần gũi như con cá, con cua, cây sen cây súng bờ kênh, ao nước, đồng ruộng, vườn rau hay ngôi chùa, ngôi miếu Neak Ta trong phum sóc… Bằng cách đó, thơ của các tác giả Sang Sết, Thạch Phách, Thạch Đờ Ni luôn thể hiện một niềm tự hào, một khát khao mãnh liệt trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa của dân tộc mình. Điều này hoàn toàn phù hợp với một nhận định của Laude Levi Strauss rằng “Người ta không thể quyết định đi về đâu nếu trước tiên người ta không biết mình từ đâu đến”. Như vậy, có thể nói rằng, thơ ca Khmer Nam Bộ là diễn ngôn văn hóa mang tính tự sự tập thể, vừa là sản phẩm của ký ức cộng đồng, vừa là phương tiện bảo tồn căn tính dân tộc. Qua mỗi sáng tác thơ, các tác giả đã góp phần vào việc lưu giữ di sản văn hóa trong dòng chảy lịch sử, khẳng định vai trò của văn học như một hình thức hành động văn hóa - nơi ngôn từ trở thành không gian bảo tồn, đối thoại và kháng cự trước sự phai nhạt của bản sắc trong thời đại toàn cầu hóa. Hơn thế nữa, vai trò bảo tồn căn tính tộc người còn thể hiện ở việc thơ ca Khmer có khả năng khơi dậy tinh thần trách nhiệm của thế hệ trẻ với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc, và khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người hôm nay.

 

4. Kết luận

Kết quả nghiên cứu thơ ca Khmer đương đại từ 190 sáng tác của các tác giả tiêu biểu như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni, có thể khẳng định rằng, thơ ca Khmer thể hiện đậm nét sự hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái chung tập thể để nói lên tiếng nói của cộng đồng và nhờ đó, thơ ca Khmer trở thành “bảo tàng ngôn từ” lưu giữ ký ức và khẳng định căn tính tộc người trong không gian văn hóa đa dạng ở Nam Bộ. Bằng việc sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và các từ ngữ chỉ tập thể cùng với việc lựa chọn khắc họa các hình ảnh, biểu tượng văn hóa và sử dụng ngôn ngữ Khmer trong thơ, các tác giả đã góp phần đã kiến tạo một diễn ngôn văn hóa. Ở không gian ấy, các tác giả thơ Khmer đại diện cho cả cộng đồng nói tiếng lên nói chung, kể lại câu chuyện của chính mình, khẳng định sự tồn tại và giá trị văn hóa của dân tộc giữa dòng chảy hội nhập và đa văn hóa. Với những kết quả trên, bài viết hy vọng góp một phần trong việc khẳng định vai trò của thơ ca Khmer đương đại với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người. Đồng thời, nghiên cứu này cũng mong muốn gợi mở những hướng khai thác mới đối với thơ ca Khmer đương đại - một bộ phận có thể nói chưa nhận được sự quan tâm đúng mức trong dòng chảy văn học Khmer ở Nam Bộ hiện nay.

​Ths Lê Thị Diễm Phúc - GS. TS Phạm Tiết Khánh - Ths Châu Thúy An

Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026

 

Tài liệu tham khảo

1. A.A.Belik. (2000). Cultural studies - Theories of cultural anthropology (Văn hóa học - Những lý thuyết nhân học văn hóa). Journal of Culture and Arts.

2. Bamberg, M. (2009). Identity and narration (Bản sắc và tự sự) In J. P. Peter Hühn, Handbook of narratology (Cẩm nang Tự sự học). Berlin: Walter de Gruyter.

3. Bekhta, N. (2020). We-narratives: collective storytelling in contemporary fiction (Tự sự “chúng ta”: Lối kể chuyện tập thể trong tiểu thuyết đương đại). Ohio State University Press.

4. Fludernik. (2017). The many in action and thought: towards a poetics of the collective in narrative (Số đông trong hành động và tư duy: Hướng tới một thi pháp về cái tập thể trong tự sự). Narrative.

5. Freud, S. (1908). Creative writers and Day-Dreaming (Nhà văn sáng tạo và sự mộng tưởng ban ngày). In the standard edition of the complete psychological works of Sigmund Freud. Trong (Toàn tập các công trình tâm lý học của Sigmund Freud). London: Hogarth Press.

6. Halbwachs, M. (1950). La Mesmoire collective (Ký ức tập thể). Presses Universitaires de France.

7. Hall, S. (1990). Cultural identity and diaspora (Bản sắc văn hóa và cộng đồng ly tán). In J. Rutherford. Identity: Community, Culture, Difference (Bản sắc: Cộng đồng, Văn hóa và Sự khác biệt). Lawrence & Wishart.

8. King, T. (2000). The truth about stories: A native narrative (Sự thật về những câu chuyện: Tự sự của người bản địa). Minneapolis: University of Minnesota Press.

9. Lopez , C., Alphen, F. v., & Carmona, L. (2025). Narratives and collective memory (Tự sự và ký ức tập thể). Current Opinion in Psychology.

10. Mai Văn Phấn. (2019). Căn tính dân tộc và toàn cầu hóa trong sáng tạo văn học. Tạp chí Văn nghệ quân đội. http://vannghequandoi.com.vn/binh-luan-van-nghe/can-tinh-dan-toc-va-toan-cau-hoa-trong-sang-tao-van-hoc_10192.html

11. Nguyễn Hồng Anh. (2024). Nostalgia and the identity of the Vietnamese diaspora community in the works of Viet Thanh Nguyen (Hoài niệm và căn tính của cộng đồng di dân Việt Nam trong tác phẩm của Viet Thanh Nguyen). Journal of Social Sciences.

12. S. Gokhale, C., Bulbulia, J., & Frean, M. (2022). Collective narratives catalyse cooperation (Các tự sự tập thể thúc đẩy sự hợp tác). Palgrave Macmillan.

https://www.researchgate.net/publication/359277440_Collective_narratives_catalyse_cooperation

13. Thạch Đờ Ni. (2024). Thơ ca Khmer trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Tạp chí Văn hóa và phát triển. https://vanhoavaphattrien.vn/tho-ca-Khmer-trong-dong-chay-lich-su-dan-toc-a24472.html

14. Trường Lưu, Huỳnh Ngọc Trảng. (1993). Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 5/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 1/2/2026; Ngày duyệt đăng: 15/2/2026.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm