TIN TỨC

Thơ Nguyễn Trung Nguyên với không gian nghệ thuật đậm chất miền Tây

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-04-27 13:58:24
mail facebook google pos stwis
2708 lượt xem

Bảo Bình

Nghệ thuật với chức năng miêu tả, phản chiếu và hướng tới đời sống con người, xã hội trong thực tiễn và khát vọng. Thì văn học, một trong những loại hình nghệ thuật, cũng nằm trong qui luật tất yếu đó. Nó vận động song hành cùng các thể loại, bên cạnh hội hoạ, điêu khắc… thì văn học lại mang nét riêng, đặc biệt là đối với sự miêu tả về thời gian, không gian. Người nghệ sĩ khi cầm bút, họ bám vào đường dây liên kết giữa Đời - Thực và Nghệ thuật để làm nên tác phẩm của mình. Mọi sự tái hiện, tạo dựng hình ảnh hay bộc lộ tư tưởng, tình cảm đều không giới hạn. Và không gian nghệ thuật là một kết nối liền mạch trong chỉnh thể đó.

Nhà văn Nguyễn Trung Nguyên

“Năm hàng dọc – những mộ bia đứng thẳng

Một hàng ngang – kia lau trắng cuối trời

Ba mươi năm! Nay điểm danh lần nữa

Những đứa – những thằng biền biệt xa quê!”

(Điểm danh đồng đội)

Khi đứng trước những đồng đội, giờ là những hàng bia mộ, tác giả đã “điểm danh” để rồi nhớ về “Cung đường ngày xưa bom rơi trụi lá/ Bồi đắp máu xương nay đã xanh màu”, nhớ cung đường trụi lá bởi bom rơi chính là nhớ về những tháng ngày sinh tử bảo vệ quê hương. Không gian ẩn chứa thời gian, nhắc nhớ những mất mát, hy sinh để đổi lại màu xanh đất nước.

Hồi đó, nơi nầy! Lộ Vòng cung chớ gì!

Vùng oanh kích tự do bom thù đổ xuống

Nhà thờ Ông Hào lời cầu kinh tắc nghẹn

Thánh ca buồn trên những xác người

(Uống rượu ở phong điền)

Không gian thực là bữa tiệc rượu, nhưng không gian nghệ thuật hiện ra là “hồi đó”, nơi “vùng oanh kích” với “bom thù” và “xác người”. Phong Điền ngày nay đã trù phú lắm, dưới sông xuồng ghe tắp nập, sau vườn cây trái trĩu cành, trạm trường, đường xá đã rộng mở… Không gian nghệ thuật hiện ra rộng lớn cả một vùng, kết nối quá khứ và hiện tại. Sống hôm nay, thụ hưởng những điều tươi đẹp của hôm nay, tác giả vẫn không quên nhắc mình về một thời kỳ bom lửa thương đau của dân tộc.

Hay ngậm ngùi hơn, là hình ảnh bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bà mẹ của năm đứa con và một người chồng đã trộn máu xương mình vào đất vào nước của núi sông. Và cái không gian mâm cơm với sáu cái chén được bới đầy, nhưng chỉ riêng mình mẹ ngồi đó, đã cho ta sự thắt nghẹn nơi lòng “Mỗi bữa cơm bây giờ/ mẹ lại bới ra sáu chén/ đủ cả trai gái, vợ chồng nhưng chỉ mình mẹ ngồi ăn/ Người mẹ Việt Nam vĩ đại của chúng con” (Bữa cơm của mẹ) tác giả chọn tả thực, không vòng vo. Và từ ngữ được dùng để miêu tả, như “bới”, “chén”, “mình mẹ” kiểu “mình ên”… cũng rất đổi thiệt thà, rất miền Tây. Tương tự, trong “Đợi con” của tác giả Hiền Phương, ta bắt gặp hình ảnh của Mẹ Thứ, bà mẹ Việt Nam Anh hùng với chín đứa con ra đi không ngày về “Mẹ ngồi sắp bát đợi con/Chín đôi đũa bát vẫn còn nguyên đây/ Mà sao vắng lạnh thế này/ Bát hương quyện những vơi đầy tâm can”, không trái tim nào là không nhói đau với hình ảnh ấy, không gian ấy. Cái không khí bao trùm của sự mất mát, và nỗi niềm lẻ loi, đơn độc đến ngậm ngùi của bà mẹ chín lần sinh nở, nhưng giờ đây chẳng còn lấy một đứa con bên mình. Còn chăng, là tiếng vọng của ngày xưa và hồn thiêng non nước. Không gian của sự mặc niệm và lòng biết ơn, nó xoáy vào tâm tư người đọc. Buồn và đau, như “Những nén nhang cắm trên đầu gió/ Sợi khói dồn thời gian trắng mái đầu (Những nén nhang cắm trên đầu gió), những vần thơ quặn lòng người và cũng ngập đầy niềm kiêu hãnh về người chiến sĩ, về người mẹ Việt Nam anh hùng.

Sinh ly tử biệt là hiện thực tàn khốc nhất, cũng là đau đớn nhất đối với con người. Nó như vết thương bất trị, chẳng thể lành, có thể trở chứng đau nhức và rỉ máu bất cứ lúc nào. Và có vẻ, tác giả bị ám ảnh nhiều về điều này trong cuộc trần ai vốn rất đổi vô thường.  

Nhớ đêm nào chén rượu câu thơ

Dăm thằng bạn nghèo kề manh chiếu bạc

Mầy chết đi men nồng bổng nhạt

Ánh trăng vàng cũng tắt ven sông

(Chiều viếng mộ bạn)

Thi nhân với rượu và trăng đã từ ngàn đời nay là nguồn thi hứng bất tận. Thơ có loại sang, quý phái như nàng tiểu thư đài các và cả loại bình dân, mộc mạc như cô thôn nữ dịu hiền. Tức là ở mỗi phong cách và tư duy khác nhau, từ cổ điển đến hiện đại thì thơ đến với độc giả cũng đương nhiên là khác nhau. Cảm nhận của riêng tôi về thơ Nguyễn Trung Nguyên là loại thứ hai, thơ anh dung dị, gần gũi như lời ca dao của mẹ của bà. Chất phác, hào sảng như tính cách người đồng bằng, “mày-tao”, “thằng”… thoải mái cả trong thơ. Ở “Chiều viếng mộ bạn” ta bắt gặp “Ven sông” với “ánh trăng vàng” đẹp biết là bao, vậy mà nỡ tắt? Rượu bên manh chiếu bạc của tình tri kỷ là phải nồng, vậy mà bỗng nhạt? Vì sao? Vì bạn đã nằm sâu dưới mộ rồi. Tâm lý đó đã ảnh hưởng đến giác quan nhân vật, và phép kéo theo là không gian nghệ thuật cũng hiện lên trong sự âm u, tăm tối. Nhà thơ như muốn nói, khi không còn bạn thì cũng như đêm không có trăng vậy, rượu thì nhạt, sông thì úa màu. Cách tả cảnh phù hợp, bật lên được nỗi lòng nhân vật trữ tình trong niềm da diết nhớ thương về người đã khuất.

“Đuổi chuột ở nông trường sông hậu” là một bài thơ theo tôi là “đắt” về độ thâm thuý cần có ở thơ. “Trưa buông nắng lửa trên đầu/ Đồng xanh hiu quạnh, một tao với mầy/ Đừng buồn dẫu chết tan thây/ Đời thường vì lợi mà gây oán thù!”, đồng bưng nắng cháy hiện ra nơi nông trường sông hậu, và kẻ rượt đuổi chuột trở thành nhà lập ngôn. “Đời thường vì lợi mà gây oán thù” là một câu thơ hay, đủ độ sâu của ngôn từ khi ta đặt nó vào ngữ cảnh của đời. Từ đó, nâng tầm triết lý về hiện thực đời sống xã hội, và đẩy con người lên thành đối tượng được ẩn ý. Con người luôn là động vật rượt đuổi, rượt đuổi để sinh tồn, rượt đuổi để chứng tỏ sức mạnh, rượt đuổi để mưu cầu danh lợi…

Khi nói về tình bạn, về khí chất người đồng bằng, tác giả đơn giản mượn “rượu đế”, mượn cái kiểu uống nhà quê, phải “khà” sau cái “ót” mới thấy đã, phải “khà” mới là cái hào sảng của miền Tây,“Bạn chôn nhau cắt rún miệt đồng bằng/ Quen mùi đế, chê vị bia nhạt thếch/ Cứ nghe tiếng khà sau một ly rượu cạn/ Sẽ thấy ngay khí chất anh hùng (Bạn tôi). Nhà thơ Vũ Hồng cũng đã từng viết “Người phương Nam say thì say trọn/Người phương Nam buồn thì buồn sâu”(Người phương Nam).                     

  Ly rượu với hàm nghĩa hài hoà tương sinh trong văn hoá người Việt là một nét đẹp tinh thần. Rượu lễ và rượu tình là khác nhau, và ở đây ta nói về ly rượu tình. Nâng ly cùng nhau và uống cạn, là thể hiện sự tôn kính, thương quý lẫn nhau giữa những người cùng mâm,  Ly rượu nhỏ đó chỉ cốt ấm lòng người, kết chặt thêm cái tình của họ giữa cuộc sống phức tạp, bộn bề này (không uống để say chết, để mất kiểm soát, một hạn chế lớn về phong cách uống rượu bia thời hiện đại). Và ở đây, “khí chất anh hùng” sẽ hiển thị sau khi cạn ly, phải chăng, đó chính là cái phóng khoáng của người miền Tây? Hết bụng hết dạ với nhau là phải vậy. Rồi “Khi đất nước cần bạn lập tức lên đường/ Cầm súng cũng gọn gàng như cầm leng, cầm phảng/ Ném lựu đạn trúng đích như sạ lúa biết chổ dày, chổ mỏng/ Một chân để lại chiến trường chỉ chút cười buồn…/ Một vụ lúa thất thu (Bạn tôi), người đồng bằng có giỏi nào bằng giỏi cầm leng cầm phảng, giỏi mùa màng, và giỏi cả hy sinh. Dù không nói tới, nhưng qua “leng”, qua “phảng” thì không gian hiện ra là đồng ruộng, ao vườn… cái không gian tràn ngập tình yêu và nỗi nhớ của biết bao người con xa xứ mỗi khi nhớ về. Và rồi, khi tổ quốc cần, họ buông xuống những dụng cụ làm nông, trở thành người chiến sĩ kiên cường, gọn gàng tay súng và “chỉ chút cười buồn” khi “một chân để lại chiến trường”, người đồng bằng là thế, hiền lương mà dũng cảm, thật thà mà khảng khái, tiết nghĩa cả hy sinh tính mệnh khi cần.

Nói về tình yêu nam nữ, một đề tài của thi ca, Nguyễn Trung Nguyên cũng có cách nói của riêng mình, dù đó là cái chung của muôn người, của ngàn đời nay “Ta một đời chẳng dám khen chê/ Chẳng dám học đòi là “kẻ sĩ”/ Nhưng chắc chắn vì em ta sẽ/ Đổi triều ca lấy một nụ cười (Ngẫu hứng), khi yêu đúng là con người ta trở nên mãnh liệt đến dại khờ, nhà thơ cũng chẳng khác chi. Và không gian nghệ thuật ở đây là cả một kinh đô uy nghi, kinh đô ấy được dùng để chỉ đổi lấy nụ cười của mỹ nhân, lịch sử Chu Vương vì mê đắm sắc đẹp nàng Bao Tự mà lệnh thưởng ngàn lạng vàng cho ai khiến nàng có thể mỉm cười, bởi Bao Tự luôn đăm chiêu, âu sầu. Còn ở đây là nhà thơ, mượn ý người xưa để lột tả cái lãng mạn rất khôn cùng của trai đồng bằng, khi yêu là cho hết, cho tất cả những gì có thể, không chút e dè, toan tính, suy tư.

Cái nợ văn chương thi phú, ai đã cắm vào thì chỉ có nghèo với nghèo. Có người bạn đời nào của ông nhà văn, bà nhà thơ mà được sống sung sướng đâu? Nguyễn Vỹ trong bài “Gởi Trương Tửu” có đoạn “…Thời thế bây giờ vẫn thấy khó/ Nhà văn An Nam khổ như chó!/ Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương” nghe, mà thấy cái phủ phàng của nghề cầm bút. Nên ở đây, tác giả như dứt tình, lại như thương vô tận “Em nên đi lấy chồng đi/ Đời tôi đã hỏng còn gì đâu em/ Mang thơ bán chẳng ai thèm/ Mang đời buộc với áo cơm nhọc nhằn (Van em hãy đi lấy chồng). Bảo cô ấy đi lấy chồng, chính là vì không muốn cô ấy vì mình mà sống đời nghèo khó, nhọc nhằn. Rồi em đi lấy chồng, rồi anh có vui không? “Năm nay lại đến mùa nước lũ/ Mình anh khua nước bến sông xưa/ Em theo chim sáo bay đi mất/ Bần rụng trên sông đã mấy mùa (Mùa lũ năm xưa), đấy! Cái tình của nhà thơ đấy. Nhớ về “Người cũ” của Đặng Xuân Xuyến ,có đoạn “Rượu cũ bạc mùi còn cố khuấy/ Chén sứt miệng rồi chẳng chịu thay/ Bao năm biền biệt, khư khư giữ/ Vật đổi sao dời, mãi thế ư?!”. Điểm gặp nhau của thi nhân là vậy; Yêu, và xa; rồi xa, và nhớ; nỗi nhớ nhung chẳng vơi theo con nước, cũng chẳng chịu trôi đi, cứ khư khư mà giữ lấy. Dẫu đã mấy mùa, mà không gian xưa vẫn lắng đọng trong tâm thức, bần vẫn rụng bên sông và anh vẫn khua nước nhớ nàng. Thật ra, đó không hẳn là những gì của hiện tại, nhưng hiện tại anh đang nghĩ về nàng, đó là điều chắc chắn. Ở đây, không gian nghệ thuật đã làm sống lại mối tình ngày trước, hoặc ngược lại, mối tình trong lòng khiến cảnh vật xưa không ngừng tái hiện. Đồng bằng với những bến sông - nơi hò hẹn - nơi có gốc bần, có vạt nắng rọi ấm tuổi đôi mươi của bao chàng trai cô gái, để rồi tình vẫn mãi vương.

Ta ngã buồn theo hơi hướm em

Ta rơi theo giọt nắng bên thềm

Tháng tư nhiệt đới mưa hoài hủy

Mưa mãi và ta mãi nhớ em.

(Mưa tháng tư)

Văn học chiếm lĩnh hiện thực đời sống, và nó được phóng ra, diễn ra bằng một phương thức đặc thù. Ở đó, tâm tưởng, cảm xúc của nhà văn, nhà thơ được lý tưởng hoá, thẩm mĩ hoá bởi những hình ảnh gắn liền đời sống văn hoá của họ. Và vì thế, cái hay dỡ, nông sâu ở mỗi ngòi bút là khác nhau. Với thơ ca, loại nghệ thuật vi diệu, tinh tế nhất trong các loại hình nghệ thuật, thì điều đó càng không dễ dàng chinh phục. Đến với thơ Nguyễn Trung Nguyên, bạn sẽ bắt gặp một tình cảm thiết tha, nồng nàn dành cho đất và người đồng bằng, cùng một không gian nghệ thuật đặc trưng vùng sông nước, đậm chất miền Tây.

                                                                  Cần Thơ, ngày 9/3/2024

B.B

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm