TIN TỨC

Tôi đọc bài thơ Đừng sợ một mình của thi sĩ Trần Mạnh Hảo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-02-14 17:28:32
mail facebook google pos stwis
2076 lượt xem

TUẤN TRẦN

Trần Mạnh Hảo và thơ ông đã sớm là “tín ngưỡng” đẹp nhất trong lòng của những người yêu thơ, quý chữ nghĩa chân chính. Từ thời còn trên giảng đường đại học, tôi đã từng nghe thầy tôi đọc những câu thơ trong trường ca Đất nước hình tia chớp. Từ đó, tôi bắt đầu săn sóc sự học, sự đọc về thơ ông.

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo

Thế nhưng, đọc thơ Trần Mạnh Hảo là một thách thức, chí ít với người trẻ. Dẫu vẫn là thơ đó, có đủ âm, hình, ý, vị. Dẫu khi đọc qua rất trôi chảy, tấm thảm thơ mềm mại không một gút sợi. Nhưng ẩn tàng trong cái diễn đạt với tư thái dân gian thấm đượm, mượt mà đó, là một đạo lớn xa xôi quá đỗi. Mà nếu không đủ vốn sống, vốn đọc, không đủ “ánh nhòm tỉnh thức” thì sẽ không thể nào đọc- cảm, thấu được tâm sự lòng riêng vì sự thể chung nơi thứ tiếng thơ nặng lòng non nước đó. Với tư cách là một người đọc bình dân, người đọc trẻ, người đọc còn nhiều năm tháng cho sự cúi mình đọc thiên hạ. Tôi, dẫu có “lo lắng” nhưng quyết tâm cho mọi nổ lực để “đọc” được thơ ông: Thứ chữ nghĩa vi diệu của nghệ thuật là công cụ để tỏ bày cái cao thâm triết học. Của “đạo lớn” nơi người thơ đã sống qua những thăng giáng cuộc đời, nếm trải bao bạc lãnh bể dâu cả trong đời lẫn trong thơ.

Với tâm thái một người yêu văn. Dưới góc độ là người trẻ luôn thường trực nỗi đau đáu cho sự đọc văn hôm nay. Nhân danh cá nhân, quan điểm cá nhân. Theo tôi, để kể ra những cái tên có tầm vóc qua từng thời đại trong VHVN, ảnh hưởng đến định hướng văn học và văn hóa trên sân khấu văn chương nước nhà thì đương đại cái tên Trần Mạnh Hảo được nhắc đến hàng đầu.

Trần Mạnh Hảo viết, viết khỏe, viết không ngừng nghỉ, không chỉ là thơ mà còn nhiều những lĩnh vực quanh thơ khác. Và đã đốn mấy mươi rừng trúc để tỏ tường. Nhưng chữ của Trần Mạnh Hảo không có chữ nào là thừa, là viết cho có, phải là chữ “bút tre mực tàu”, mực thước trên nhiều phương diện. Cảm tưởng như ông đang viết ngày càng thiết, từng giọt mồ hôi như giọt máu lớn đổ xuống trang giấy. Yêu thương cũng hết lời mà phàn nàn cuộc đời cũng cạn lẽ. Độ gần đây Trần Mạnh Hảo đã phóng tuyến cảm quan với biên độ rộng hơn, càng ngày càng đi về phía đầu mút vũ trụ ôm trọn, quan chiêm, thiết lập rất riêng thứ “Đạo” của thơ, trở thành niềm kính tín cổ điển đậm đà thấm thía trong đảng tranh đương đại. Trong khuôn khổ bài viết, trong sự đọc có hạn, tôi thành kính hiểu thơ ông ở những lời “bắt gặp hữu duyên” tạo ấn tượng nội tâm mạnh mẽ nhất trong quá trình trải nghiệm văn bản:

“Mặt trời quá vĩ đại
Hạt sương quá nhỏ nhoi
Mặt trời không mang nổi
Dù một hạt sương rơi
Nhưng trong hạt sương ấy
Có bao nhiêu mặt trời?”
(Mặt trời và hạt sương)

Cặp phạm trù trời- đất, âm- dương, tiểu- đại nhất thể theo quan điểm nhà Thích Ca. Triết thuyết đó hiện hữu trong thơ Trần Mạnh Hảo với những biến tấu và quy tụ. Mượn ảnh tượng mặt trời, như thủ pháp “tá khách hình chủ” trong cổ thi để ca tụng giọt sương, cổ vũ cho điều tầm thường lớn lao và cũng là cách để rẻ khinh cái hư vinh ở đời. Cái nhìn tỉnh thức đó đi từ chiều sâu bi kịch của nhân sinh. Bản thân mặt trời vẫn là mặt trời, còn giọt sương thì vạn năng, vạn trạng: sinh ra từ đất, tụ từ hơi, tự hủy mình dưới nắng và hẹn hò những khiếp sống bất tận. Giọt sương mới là cái vĩnh cửu trong cái thường hằng vũ trụ. Bởi sự hóa thân khôn lường của nó: Lủng lẳng đu mình trên gân lá, đọng trên hoa, lóng lánh trên lưới nhện giăng giữa trời, kết tạo từ trời đất, thấm lắng qua bao vỉa tầng đời sống vẫn vô nhiễm. Ôm mang, đựng chứa, phản chiếu, hắt bật… mặt trời rồi lại mang cái biểu tượng lớn lao của vũ trụ đó tịnh vào đất, vỡ tan. Giọt sương chính là một “giác giả” đã thấu triệt chân tướng thiên địa. Thơ Trần Mạnh Hảo đã không còn nằm lại ở thế sự hay có thể tùy tiện gắn mác chính trị. Nó là thứ thơ của quá trình vén bức mành vô minh, của sự nhập cuộc với hóa sinh- sinh hóa điên đảo mà thâu lượm thứ nghệ thuật ở trạng thái đẹp oai, trong sáng uyên nguyên nhất.

“Tưởng đã tận cùng vẫn hút sâu
Chân mây góc bể lại ban đầu
Ngoài tinh vân tới em nghìn tuổi
Chợt vị thành niên mắt biếc đâu?”
(Phục sinh)

Bài thơ là một nhận thức về cái siêu nghiệm của vũ trụ. Hay nói cách khác nó là vũ trụ luận. Nhưng cái luận ra được ở đây lại từ “em”. Hình ảnh mắt biếc và cái sâu hút của vũ trụ đồng hiện. Tinh vân là thứ bắt đầu của một vì sao hoặc cũng có thể là một vì sao “hóa bụi” kết thúc vòng đời của nó. Ngoài tinh vân là ngoài sự sinh- hóa đến em ngàn tuổi chỉ cái vòng lặp lại không biên độ, giới hạn, khái niệm, định nghĩa, điểm đi, đến, kết thúc của chữ “duyên” ở đời. Em dẫu có nghìn tuổi vẫn làm em trong một niên hạn thanh xuân. Bởi thời điểm đó chính là cái làm nên em. Bắt đầu của cái nẩy lộc, bật nhú những nụ chồi trinh nguyên. Trong ánh mắt biếc đó, dẫu đẹp, dẫu trong sáng vô ngần vẫn lóe lên những hạt bụi tinh vân, bụi của cái buồn, cái không thể nắm bắt, lý giải, cái vô hạn mà hữu hạn của đời người. Cái vòng tròn chuyển hồi mãi mãi không bao giờ kết thúc của vạn vật. Chính vì thế, chăng tác giả đặt dấu hỏi cuối bài thơ. Để muốn nói về phục sinh là nên buồn hay nên vui? Nên khóc hay nên cười? Đẹp đẽ và khổ đau. “Tưởng”- “chợt” cặp quan hệ mới được cấu trúc nói về cái “ngờ ngợ” nhân sinh. Bài thơ như một khu vườn có vô số lối vào. Một mảnh đất thật ngắn mà lớp lớp, luống luống những ý vị uẩn súc, mở ra muôn ngã nghĩ ngợi.

Cái “đạo” trong thơ Trần Mạnh Hảo còn được thể hiện chân xác qua hình tượng “Mẹ”. Trần Mạnh Hảo dành vô số lời để hát trong thơ về mẹ. Như kẻ hát sáo trên sông, mẹ trong thơ ông luôn gắn liền với những mênh mông, nơi có phù sa, bờ bãi, còm cõi môt nỗi chờ con đến “tím cả chiều hoang”. Người mẹ của thơ ông là người mẹ của đánh giặc. Người mẹ đi liền với hai từ “canh cánh”. Nỗi canh cánh thường trực, xuyên suốt, cả đời ôm mang thân phận kẻ sinh ra những đứa con “bất hiếu”: Ngày chiến thắng bỏ mũ, áo, danh vọng và sinh mệnh chẳng trở về bên mẹ để dựng vợ, sinh con và báo đền công sinh thành.

“Mẹ ở lại với mái nhà dột nóc
Ếch tháng ba kêu xót ruột người già
Mẹ khóc, mùi hoa xoan cũng khóc
Đêm đen từ tro bếp lạnh đen ra
Ôi Tổ quốc
Tiễn con đi mẹ gục xuống hiên nhà”
(Tổ quốc của tình yêu)

Hiện thân của mẹ trong thơ Trần Mạnh Hảo đọc lên không chỉ là khóc thương mà gợi nỗi hận bầm gan, ứa mật. Một thời đất nước đằm máu và nước mắt mẹ. Trong từng âm thanh tự nhiên đến những màu sắc cuộc sống đều hót lên tứa máu. Xé ruột mẹ già chờ con đến non mòn biển cạn. Trước nỗi chờ con đến ráo lệ hôm nay là “ngày xửa ngày xưa” mẹ đã chuyển sinh con nơi “địa gan”. Để chúng con “buộc phải” “chân trần chí thép”:

“Có phải mẹ Âu Cơ đi vòng trái đất
Để làm chỗ khai sinh con Lạc cháu Hồng
Mẹ đã tìm ra dải đất hình tia chớp
Chọn vùng tâm bão để sinh con”
(Trường ca đất nước hình tia chớp)

Những câu thơ ở độ khái quát tuyệt đối. Khái quát cái đỉnh cao của niềm tự hào cao đạo và nỗi đau bi lệ tận cùng của những đứa con được sinh ra nơi “Tâm bão”. Có người mẹ nào sinh con, yêu con được như thế! Khi đã chọn gửi con nơi dải đất hình tia chớp để hi sinh, để gánh vác, để trải qua những máu tươi diễm lệ và hồi sinh bất tử như hôm nay. “Tia chớp”, “Tâm bão” đã nói lên cái định mệnh “đáng nguyền rủa” của dân tộc này khi phải sống trong chiến tranh, thiên tai, ly loạn nhiều hơn sống trong hòa bình. Nhưng cũng chính từ cái định mạng vô tiền khoáng hậu đó đã tạo ra cho đất những con người chào đời với một sứ mệnh duy nhất và cao nhất là “đánh giặc” vì chân lý và chính nghĩa. Và trong cái tồn- vong của vạn vật, trải qua biết bao biến đổi bể dâu. Dân tộc này, tuy nhỏ bé, nhược tiểu vẫn tồn tại một cách nghiên ngang. Không ngừng tỏa bóng mát như cây đời phải luôn luôn đấu tranh với loài cỏ dại.


Hình ảnh mẹ dân gian, đi tìm nơi sinh con đã trở nên tầm khái quát vĩ đại, mang tầm vóc lịch sử và thời đại để nói về dân tộc anh hùng, ngàn năm không chịu khuất nhục trước “ngàn đao vạn đòn”. Sứ mệnh mẹ giao phó, các con không thể thoái thác. Và hình tượng mẹ dường như xuyên suốt các chương chuyện đời mà Trần Mạnh Hảo đã biên kể trong thơ, để muốn nói rằng “mẹ” luôn luôn bên cạnh, dõi theo bước chân trưởng thành của các con. Và mẹ hóa thân thành muôn hình hài, khả thể để nâng đỡ các con trong cuộc đấu tranh thành người đó. Mẹ mãi là vòng tay cho con nương náu, là sông dài, núi cao, địa hào, hầm hủ cho con trốn vào nơi mênh mông lòng mẹ:

“Trốn vào mẹ con trốn vào Nước Việt
Cả cuộc đời chạy trốn để sinh tồn
Súng vẫn nổ ngoài đầu làng khốc liệt
Đẻ con ra là mẹ hiến thân mình”
(Trốn vào mẹ)

Có thể nói người phụ nữ trong tương quan với sứ mệnh dân tộc được đặt lên tất thảy sự tôn vinh đẹp đẽ và cao đạo nhất. Những trang hùng ca trong hợp xướng đậm chất bi hùng về sự trường tồn bất tử của dân tộc nơi thơ Trần Mạnh Hảo luôn có hình ảnh “Mẹ”. Mẹ trở thành đạo lớn trong thơ, thành một thứ vũ trụ đủ sức dung chứa những nỗi niềm về đất, nước, con người.

“Chị làm dâu cuộc chiến tranh
Hòa bình khóc kẻ chưa thành lứa đôi
Hứa hôn với lính lâu rồi
Nghĩa trang chị bạc tóc ngồi làm dâu”

Với Trần Mạnh Hảo, tất cả người phụ nữ đều là mẹ. Họ xứng đáng là mẹ Việt Nam anh hùng. Chúng ta thường nhắc tới khái niệm hậu phương, thường ca ngợi mẹ. Nhưng có lẽ chưa bao quát được hết, một lực lượng vô hình những người “thiếu nữ” họ mới chỉ được nắm tay lần đầu và cũng là lần cuối. Để rồi người yêu, người chồng của họ ra đi, nằm lại trong thổ nhưỡng quê hương. Chính người “thiếu nữ” ngồi nghĩa trang làm dâu đó đã nuôi trong lòng bao người trai chí lớn một niềm tin son sắc, họ khao khát chiến đấu hơn bao giờ hết để nhanh trở về với người gái đang can trường, thủy chung đợi chờ.

Trần Mạnh Hảo đủ tư cách và thực tế đã là một tác gia. Nghĩa là một nhà văn hóa lớn. Bởi thơ ông đã tạo ra một nếp sống, nếp nghĩa cho thi dân, văn dân. Họ hướng về nơi ông như mảnh đất để ngợi ca, suy nghiệm, bảo tồn, tô bồi cho vẻ đẹp tâm hồn nơi họ và thể nghiệm, soi ngắm chính họ trong thơ. Chưa kể sự “chiếu tướng” của Trần Mạnh Hảo tới những “ngõ ngách” đời sống nhằm vén nhẹ, lột trần, phô bày những thực tại có cả đớn hèn và vô liêm sỉ của những lớp người. Sau tất cả, Trần Mạnh Hảo chỉ muốn đời sống “hảo”, hoàn thiện hơn, tốt đẹp hơn và ông đã nổ lực “cứu vớt” với sứ mệnh của mình.
Trân trọng!
 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm