TIN TỨC

Trương Nam Hương thích vùi trấu bếp của tình yêu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-02-01 21:51:04
mail facebook google pos stwis
4382 lượt xem

Nhà văn Lê Thị Bích Hồng

Tập thơ Thời nắng xanh và những bài thơ khác (NXB Hội Nhà văn) là món quà sách đầu năm 2022 do “chính chủ” Trương Nam Hương gửi tặng. Dẫu văn chương là một nghề đầy nhọc nhằn và bất trắc như nhà thơ từng chia sẻ, nhưng Nam Hương luôn thủy chung, bền bỉ với thơ, bởi đó là con đường tìm mình và về với chính mình.

Tập thơ Thời nắng xanh và những bài thơ khác ra đời sau 14 năm (kể từ tập thơ Mini thơ xuất bản năm 2008) như đã được “ủ lửa”, được kết tinh, lắng đọng bởi những mặn mòi, trải nghiệm của nhà thơ tuổi Quý Mão trước thềm “lục thập giáp hoa”.

Nhớ hồi 2017, nhà thơ Trương Nam Hương từ TP.HCM xuống Vũng Tàu thăm đoàn nhà văn Hà Nội dự Trại sáng tác. Buổi giao lưu ở biển bao cảm xúc khó quên. Chúng tôi tự nhận nhau là “F1” – khái niệm vui chỉ thế hệ 6X, 7X hợp huyết từ cha mẹ tập kết ở hai miền Nam - Bắc. Tôi và Hương đều có ba tập kết từ Huế, cùng gốc Huế quê nội, Bắc Ninh quê ngoại, cùng sinh ra ở miền biển. Nam Hương sinh năm 1963 ở Hải Phòng gắn cả tuổi thơ với Hà Nội. Tôi sinh ở Hạ Long rồi về Hà Nội định cư. Sau khi miền Nam giải phóng (1975), cậu bé Hương theo gia đình vào Nam. Cũng năm đó cô bé tôi vừa rời khăn quàng đỏ đã lặn lội đưa cậu em 9 tuổi về Huế tìm quê nội…

Đã tưởng “Quan họ ở chúng em ra về”, hẹn “đến hẹn lại lên” khép lại màn giã bạn ở Vũng Tàu đê mấy… nhưng cả đoàn bất ngờ, xúc động khi vợ chồng Nam Hương ra sân bay Tân Sơn Nhất tiễn đoàn ra Hà Nội.

Tranh chân dung Trương Nam Hương

Duyên thơ tụ kết các miền quê hương

Tôi tìm thấy trong thơ Trương Nam Hương yếu tố địa văn hóa, giao thoa các miền quê cố đô Huế - Kinh Bắc - Thủ đô Hà Nội- phương Nam. Anh đã nói hộ tuổi thơ của nhiều người, trong đó có tôi “Tuổi thơ con lấm láp bãi bồi/ Cho chuồn ngô cắn rốn/ Tưởng sông Hồng hẹp hơn”; là “Trong giấc ngủ của con/Đỏ rát rời đạn lửa…/Không có bà Tiên, cô Tấm/ Chỉ có u u những hồi còi báo động…”.

Thời nắng xanh và những bài thơ khác là tập thơ thứ 11 sau gần 32 năm Nam Hương trình làng tập thơ Khúc hát người xa xứ (1990). Mỗi tập thơ thể hiện nỗ lực sáng tạo định hình phong cách Trương Nam Hương không dễ lẫn. Rất tự nhiên, anh đã tự định vị vùng văn hóa như “chốn đi về”. Thơ anh ký thác muôn mặt cuộc sống, tình yêu, gia đình, bạn hữu, sự chiêm nghiệm… được viết bằng trái tim đa cảm, bằng ngôn ngữ thơ trong sáng, thuần khiết, tinh tế, nhẹ nhàng, sâu lắng…

Văn hóa dân tộc là nguồn cội cho người sáng tác. Nhưng khai thác nó lại tùy thuộc vào tài hoa của người cầm bút. Thơ Nam Hương hút mỡ màu mạch nguồn văn hóa các vùng miền để tạo nên sản phẩm thơ rất riêng, độc đáo.
 

Tập thơ “Thời nắng xanh và những bài thơ khác” của Trương Nam Hương

Tập thơ hiện lên nhiều hình ảnh thân thương của làng quê Bắc Bộ với hoa xoan, hoa gạo, trúc, bánh đa, bánh đúc…Điểm tựa thơ anh là nguồn văn hóa dân gian chảy trôi, là tinh hoa các vùng quê tụ kết. Câu “gừng cay muối mặn” đã được anh đưa vào thơ nhuần nhị “Trăm năm mặn muối cay gừng cũng EM” (Khúc em). Câu ca dao “Gió đưa cây cải lên trời…” thấm bện vào thơ “Bà ơi cây cải lên trời/ Rau răm cay đắng phận người đắng theo” (Thời nắng xanh). Những câu ca quan họ nhuyễn nhòa đan dệt thơ “Ơi trúc xinh này, em ở đâu/ Về thương anh dạm ngõ sông Cầu” (Ngỏ với trúc xinh);“Bèo dạt mây trôi lại xót lòng…Sông Cầu buông dải thắt lưng ong” (Câu hát ấy); “Mưa Giêng ướt câu Quan họ/ Dải khăn hoa lý ơ hờ” (Thương câu hát cũ). Truyền thuyết Chử Đồng Tử trong câu thơ liêu trai “Giấu mình dưới cát tưởng yên/ Gáo em chưa dội đã nguyên…hình hài” (Chử Đồng Tử).

Gợi từ câu ca “Gối lụa không mềm bằng gối tay em”, nhà thơ sáng tạo nên câu thơ trong trẻo, lãng mạn: “Hai chỗ ngả đầu yên ả nhất/ Cỏ với vai em những lúc buồn” (Cỏ và em). Tiêu chí phụ nữ đẹp “mắt lá răm” nhuyễn hòa vào thơ “Em tiễn cái nhìn đau cả gió/ Chiều chớp đầy anh…mắt lá răm”…

Rời Thủ đô “hành phương Nam” đã gần nửa thế kỷ, nhưng hồn thơ Nam Hương vẫn luyến lưu, dăng mắc về phía cố đô Huế - quê cha, miền Kinh Bắc – quê mẹ, Hà Nội – có tuổi thơ “dù có đi bốn phương trời”.

Ký ức tuổi thơ ám ảnh. Miền Kinh Bắc quê mẹ trở đi trở lại trong thơ “Tuổi thơ mót gió trên đồng/ Giấc mơ vun vùi trấu bếp” (Hoa gạo); là “nùi rơm nhọ bếp”, là “Tuổi thơ em dế nhũi cua còng”, “Tuổi thơ ơi gọi mãi không đầy” (Bóng quê)…

Tuổi thơ trong trẻo, hồn nhiên ấy có người bà tảo tần khuya sớm: “Bà bổ cau thành tám chiếc thuyền cau/ Chở sớm chiều tóm tém/ Hoàng hôn đọng trên môi bà quạch thẫm/ Nắng xiên khoai qua liếp vách không cài”. Có sự day dứt không quên: “Tôi chan lên suốt dọc tuổi thơ mình” những “rau má, rau sam” để “thành bát canh ngọt mát” của bà. Hình ảnh bà “Chân bấm lên rêu/ Bà tôi gánh cả gió chiều - xót xa…/ Tôi chạy theo bà đòn tre kẽo kẹt/ Tiếng chim gù khuất khuất/ Bóng làng xa”. Và nhà thơ vùi mình an yên trong miền ký ức: “Tôi như thể chú mèo dim dim mắt/ Trong lòng bà tro trấu thật bình yên” (Thời nắng xanh)…
 

Nhà thơ Trương Nam Hương cùng các bạn văn năm 2017

Tuổi thơ dăng bện “Mùa Xuân theo mẹ lên chùa/ Oản, xôi hóng nhận – chuỗi, bùa hóng đeo/ Mẹ quỳ, tôi nép quỳ theo/ Lạy từ ngọn cỏ lạy veo tới trời” (Tuổi thơ);“Mẹ nuông ấm đời con bằng Quan họ/ Thuở trúc xinh gọi chú ớt ơi à” (Nhớ sông Mẹ); “Mẹ nhìn chớp bờ đê nhoáy nhóa/ Lặng ngước về Kinh Bắc hồi lâu” (Hồi tưởng)…Anh tự bạch bị ký ức tuổi thơ ám ảnh “Gột vết bùn cõng ký ức trên lưng” (Mơ về).

Trương Nam Hương sống nặng tình nghĩa, nặng ký ức, hồi tưởng. Dẫu đi đâu, anh vẫn thiết thao miền Quan họ: “Có chở dùm Quan họ theo không…Kinh Bắc níu tháng ngày son trẻ/ Mẹ xuống đò nhận đắm thời xanh” (Hồi tưởng). Là nơi ấy “Tháng Giêng hoa xoan rơi vụng dại” (Lỗi hẹn với sông Cầu)…

Chỉ 12 năm sống ở Thủ đô mà thao thiết cả đời. Anh nói giọng Bắc, thích vẻ Hà Nội trầm lắng, suy tư. Là Hà Nội hào hoa với bốn nét phác thảo: “Mặt hồ giữa phố như nghiên mực/ Sông thảo hoa văn một nét rồng/ Hoa sữa thơm nồng trên giấy điệp/ Bốn mùa thao thức tuổi rêu phong”. Giữa Sài Gòn, nhà thơ vẫn hoang hoải tháng Giêng: “Gặp một Sài Gòn thật lạ/ Mưa Xuân đất Bắc vương vào/ Anh mời heo may ghé quán/ Gọi cà phê nhớ xôn xao” (Lời mời tháng Giêng). Gặp bình cúc họa mi thấy“Sài Gòn bất chợt tinh khôi…Bên em anh gọi một ly gió mùa” (Vào quán với cúc họa mi)…

 

Nhà thơ Trương Nam Hương (thứ 2 phải sang) tiễn các nhà văn ở sân bay Tân Sơn Nhất (2017)

Nhớ Hà Nội là nhớ heo may ngọt“Gửi anh một chút heo may ngọt” (Nhắn),“Mùa nhắc heo may ghé cửa phòng” (Giao mùa); “Heo may dầm sấu” (Về lại)… Anh thích nhâm nhi cà phê kiểu Hà Nội: “Cà phê đắng những vỉa hè Hà Nội” (Tặng những mùa xưa);“Cho tách cà phê thấm vị buồn/ Không nhớ bao lần anh hỏi nhớ/ Tây Hồ em khuấy có lên sương” (Nhắn);“Cà phê khuấy mãi chưa tan nhớ”(Mùa gọi).Hay: “Tạ ơn Hà Nội trọn đời/ Nuôi tôi thương khó. Tôi thời trong veo”(Một thời Hà Nội)...

Trong Nam Hương có dòng máu Huế “Con từ xa Huế sinh ra…Con thương với Huế câu thơ lụy tình/ Chênh vênh quá nửa Ngự Bình/ Huế cho con cả cung đình rêu phong”. Trong tên anh có dòng sông quê “Con cùng tên với dòng Hương/ Thơ con trắc ẩn cánh buồm, cha ơi” (Lời thưa). Huế tổ quán trong anh máu thịt: “Anh mượn màu rêu Huế để yêu em…/Anh mượn màu nắng Huế để thương em” (Màu Huế). Nam Hương trải lòng mối ân tình bởi “Trong tôi có chút sâu đằm/ Của Kinh Bắc với thâm trầm Cố đô/ Sông Hồng hắt đỏ lên thơ/ Tôi buông lục bát xanh bờ Hương Giang”; và cất tiếng gọi: “Ơi sông Hương, hỡi sông Hồng/ Giọng tôi lạc giữa mênh mông nỗi buồn” (Gửi hai dòng sông quê)…

Cách làm mới ngôn từ của Trương Nam Hương
Thơ Nam Hương có nhiều câu thơ trong một dòng thơ: “Bờ đê. Đêm ấy/ Sóng. Trăng. Cỏ mềm” (Sông 17 tuổi); “Đêm. Từng đêm. Ngồi nhớ quê, buồn!” (Gửi một người xa)…Đặc biệt, cách ngắt câu trong dòng thơ lục bát “Nhớ lim dim phố đuôi mày xếch. Trăng…” (Trăng phố) quả là độc đáo!
Trương Nam Hương còn sáng tạo những từ láyđặc sắc tài hoa làm câu thơ giàu giá trị biểu cảm: “Sáng nay trời đất ngây ngoai quá” (
Giao mùa); “Những mộ cỏ đầu gà ngúc ngắc” (Thời nắng xanh); “Nếu không em nữa sông lơ lạc” (Khúc em); “Buồn từ lơ lắc nghiêng đâu cũng buồn” (Hoa lau),“Loăn thoăn đồng đất tối ngày”, “Thun thăn váy lá bỏ bùa ai đây” (Trăng phố),“Cỏ may giăng vấp víu áo quần…Mẹ nhìn chớp bờ đê nhoáy nhóa” (Hồi tưởng)…
Đặc biệt từ “xanh” – vốn là tính từ chỉ màu sắc được nhà thơ sử dụng với tần suất lớn (khoảng 45 lần) trên cơ sở sáng tạo chuyển đổi các lớp nghĩa: “Tùng thắp xanh trời vạn nén thơm” (
Lên Yên Tử), “Cỏ mềm xanh tốt trái tim” (Khoảng lặng), “Biển nhắc thu về giọt máu xanh” (Khúc em), “Cha đi về phía xanh lời cỏ hoa” (Dâng cha), “Anh với sông Cầu xanh ở lại” (Lỗi hẹn sông Cầu), “Anh xanh với Huế suốt chiều ngó sen (Nhỡ mùa sen), “Khi mắt lá xanh đằm mắt lá” (Cà phê ban mai), “Thời nắng xanh…”…
Trương Nam Hương thể hiện sự tài hoa tìm tòi, thể nghiệm, làm mới các thể thơ lục bát, thơ tự do, thơ sáu chữ, thơ bảy chữ. Thơ có dáng dấp tứ tuyệt, khuôn chữ nghiêm ngắn, nhưng luôn có độ giãn nở tung tẩy: “Từ hội Đạp Thanh đến Tiền Đường nước mắt/ Hai trăm năm sóng cỏ cuốn xanh về/ Không vớt nổi Thúy Kiều qua mực bút/ Nguyễn Du buồn sợi tóc nhuốm hoa lê” (
Nỗi niềm Nguyễn Du);“Chị vẫn mời trầu, thơ đãi khách/ Xòe tay hầu quạt thế nhân này/ Duyên chung không thắm, tình riêng bạc”. Và thật tài tình khi nhà thơ dùng từ láy sáng tạo “ngốc ngây” trong câu “Váy vén ngôn từ ghẹo ngốc ngây!”(Còn mãi Hồ Xuân Hương)…

“Trong thăm thẳm có vô thường thi ca...”

Đi qua mọi va đập cuộc sống, thơ Trương Nam Hương thường đằm sâu nỗi buồn, sự cô đơn, ẩn ức, suy tư như lời tự bạch chân thành: “Câu thơ tôi sinh thành từ nỗi cô đơn để an ủi những điều bất hạnh”. Anh nói về nỗi buồn, sự cô đơn đan trộn nhiều cảm xúc rất riêng: “Người cô đơn cả bóng người/ Lau thao thức bạc chỏm trời phơ lau/ Sâu từ thơ thẳm niềm sâu/ Buồn từ lơ lắc nghiêng đâu cũng buồn” (Hoa lau); “Ba mươi tuổi thơ anh òa giọt khóc” (Trăng mật); “Câu thơ chở chòng chành tiếng khóc” (Xa lắc mùa Thu)…Ý tưởng thơ được nhà thơ đúc kết súc tích:

Tứ như vốc hạt tình gieo xuống

Mảnh đất hồn ta chữ lặng chờ

Ngày như giấy trắng, đêm như mực

Ngọn bút khơi mầm – những luống thơ

(Ý nghĩ trên vườn sân thượng)

Nhà thơ Trương Nam Hương (thứ 2 trái sang) đến thăm các nhà văn dự trại sáng tác Vũng Tàu năm 2017

Thơ Trương Nam Hương trĩu nặng yêu thương với gia đình. Những bài thơ dành cho đấng sinh thành đọc cay cay khóe mắt: “Mẹ giờ hóa nén hương thơm đỏ/ Thương lặng nhìn con chẳng rụng tàn/ Khói thắt se vòng lo mẹ nặng/ Cõi về cong vít cả chân nhang" (Mẹ gió khuya); “Ngọn gió hay là hồn mẹ/ Mong manh bậc cửa đêm về” (Gió khuya)...Đặc biệt hình ảnh “đôi guốc” thật ám ảnh: “Đưa mẹ vào Tháp cốt/ Quay về, con bần thần/ Quên hóa vàng đôi guốc/ Lên đó Người lạnh chân”…

Đứng “Trước sông”, anh thấy “Bóng cha đáy nước/ Người khuất lâu rồi/ Vớt thương chẳng được”. Bỗng trở về câu thơ của anh: “Trong cha có một câu hò/ Trong câu hò có con đò sông Hương/ Trong sông Hương có nỗi buồn/ Trong thăm thẳm có vô thường thi ca...”.

Đi qua bao sóng gió, thơ tình yêu có lắng mặn, trầm tư, nhưng muôn đời vẫn đắm say: “Anh cúi hôn em ở thế trăng quỳ/ Em nở trên anh đóa sen hây múa”; hoặc kín đáo và mãnh liệt: “Đất trời cuống quýt khỏa xiêm y” (Trăng biển). Em là Nàng thơ: “Lặng đến cuối cơn mưa bất chợt/ Lộng lẫy sau lưng bảy sắc cầu vồng” (Cuối cơn mưa). Có hạnh phúc nào hơn định nghĩa ANH từ EM: “Anh chắc từ em anh mới anh/ Mẹ sinh anh trước để anh thành/ Nếu không em nữa sông lơ lạc/ Biển nhắc Thu về giọt máu xanh” (Khúc em).

An nhiên, tự tại một niềm với thơ tránh xa sự xô bồ. Anh thả những câu thơ bất ngờ, ngợi ngẫm khi dòng đời bon chen: “Lúc người đánh bóng tuổi tên/ Anh đi tìm hộp xi đen…đánh giày” (Không đề). Mẹ là bến đỗ mỗi khi đứa con trở về “Đứng ngoài các cuộc bon chen/ Lắng trong nước mắt muộn phiền nhân gian/ Chẳng quen khoanh dạ mặt bàn/ Về thưa ghế đẩu cơ hàn mẹ cho” (Dặn lòng).

Nguồn: https://www.thethaovanhoa.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm