TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Tấm lòng trĩu nặng nghĩa nhân trong “Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín

Tấm lòng trĩu nặng nghĩa nhân trong “Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-30 09:48:34
mail facebook google pos stwis
2075 lượt xem

TRIỆU KIM LOAN

Phạm Trung Tín là hội viên HNV TP. Hồ Chí Minh, hội viên HNV Việt Nam, sinh ra ở Hải Phòng, từng tốt nghiệp cử nhân kinh tế và cử nhân triết học, hiện sinh sống và sáng tác tại TP. HCM. Cho đến nay, Phạm Trung Tín đã cho ra mắt bạn đọc 6 tập thơ Dặm dài ký ức (2013), Miền tâm tưởng (2014), Lời của đá (2015), Khoảng thức (2017), Đường chân trời (2019) và Đối diện chính mình (2022).

Đối diện chính mình là tựa đề mà tôi rất thích. Đây là tên một bài thơ được tác giả dùng làm tên gọi cho cả tập sách gợi nhiều ý nghĩa. Đối diện chính mình là lời tâm niệm của người thơ, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải đối diện chính mình để sống chính trực, ngay thẳng, nhân nghĩa và vượt lên nghịch cảnh. Tựa đề còn mang hàm ý nhìn lại bản thân, nhìn lại những thăng trầm được mất để vui, buồn, tự hào những giá trị của cuộc đời, từ đó trân quý những gì đang có. Khi bước vào con đường thi nghiệp, Đối diện chính mình còn là cách nhìn vào bản ngã để tìm tòi và làm mới bản thân trong nghệ thuật. Quan niệm mang tính triết lí này đã trở thành mạch nguồn cảm xúc chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm.

Xuyên suốt tập thơ Đối diện chính mình, người đọc bắt gặp một người lính can trường trong cuộc chiến tranh chống Mĩ khốc liệt, một người chồng ân nghĩa, một người con hiếu thảo, một người cha mẫu mực và một người thơ có trách nhiệm với ngòi bút văn chương. Với lối viết thiên về tự sự, hướng về tha nhân, sử dụng nhiều thể loại nhưng chủ yếu là thể thơ lục bát truyền thống, thơ Phạm Trung Tín vẫn chuyển tải tinh tế cảm xúc nồng nàn và độ sâu triết lí nhân sinh. Đây chính là lí do thơ Phạm Trung Tín dễ tìm được sự đồng điệu, cảm thông, kết nối với bạn đọc xa gần ở nhiều lĩnh vực, nhiều độ tuổi. Nói như nhà văn Nguyễn Trường: “Anh ít viết cho mình mà viết nhiều cho bạn bè, đồng đội, những hoàn cảnh mỗi phận người. Thơ anh có cả tình, cảnh, con người và thiên nhiên nên làm cho người đọc dễ chịu khi cảm nhận”.

1. Đối diện chính mình - một tấm lòng trĩu nặng nghĩa nhân

Là một người xa xứ, Phạm Trung Tín thường có những giây phút hoài niệm về quê hương, nguồn cội, người thân và bạn bè của mình. Thơ ca chính là người bạn tâm giao, là phương tiện kì diệu kí thác nỗi niềm trắc ẩn rất đáng trân trọng ấy. Nói như nhà thơ Trần Mai Hường “Người ta thường nói rằng, khi qua con dốc cuộc đời, con người có thói quen sống cho kỉ niệm. Với người bình thường như chúng ta, chuyến về miền hoa mộng khó tránh được nuối tiếc những tươi đẹp mà mình đã đi qua. Còn với thi nhân, chạm vào dĩ vãng cũng là lúc trái tim cất lời, để ngày hôm qua lưu dấu trong hiện tại, để lời riêng kết nối, đồng vọng với tình chung”.

Là một cử nhân triết học, Phạm Trung Tín thường suy tư về thời cuộc, đặc biệt trắc ẩn trước những số phận mong manh, ngắn ngủi và nghiệt ngã của đời người. Nói như Tố Hữu: “Bài thơ hay là bài thơ đọc lên không còn thấy câu thơ mà chỉ còn thấy tình người và tôi muốn thơ phải thật là gan ruột của mình”. Chất trữ tình làm nên hồn cốt trong thơ Phạm Trung Tín khúc xạ từ lối sống giản dị, giàu nhân nghĩa, luôn quan tâm, chia sẻ đến người khác của anh. Đối diện chính mình dành một lượng lớn thơ ca bày tỏ tình cảm tiếc thương, xa xót trước sự ra đi của người thân, bè bạn và tha nhân như “Tiễn biệt một người thơ”, “Vĩnh biệt tri kỉ tri âm”, “Khóc bạn cố tri”, “Kính viếng hương hồn Đại huynh Nguyễn Cẩn”, “Tiễn biệt lão đại nhân”, “Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng”, “Người tập hợp những tài hoa”… Tuy nhiên, nhà thơ đã sử dụng những ẩn dụ và ngôn từ giàu thi ảnh khiến lời thơ thấm thía, nhẹ nhàng mà không quá bi lụy. Khi viết về một người chị mắc bệnh cơ hàn phải rời xa cõi tạm, nhà thơ nghẹn ngào: Chị ơi nắng cũng ngừng rơi/ Ba hồi trống/ tiễn người rời trần gian (…) Buồn thương/ hoa lệ nghẹn lời / Cốt lưu sơn tự/ trăng bơi giữa dòng (Khóc chị). Vẫn biết trần gian là cõi tạm/ Đời người bóng nắng hắt qua song/ Xót xa thương tiếc chùng tâm khảm/ Thôi chẳng lần sau tắm một dòng (Tiễn thi sĩ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng). Trong dịp về quê hương thi nhân Nguyễn Bính, trước ngôi mộ đơn sơ, lạnh vắng, thắp nén nhang thơm tưởng niệm tiền nhân mà lòng bùi ngùi cảm khái. Tấm tình ấy được nhà thơ diễn tả bằng những câu lục bát thật đẹp:

Vít cong nhang khói nửa chừng

Ngọc lan im lá, lộc vừng nghẹn hoa

Chị đau khổ trước sân nhà

Còn em chạnh nỗi xót xa tận lời

Câu thơ góc bể chân trời

Hồi hương cô quạnh nghẹn lời thế nhân (Viếng mộ Nguyễn Bính thi nhân)

Với người vợ đầu gối tay ấp đã khuất, người thơ đã dùng cách viết giản dị nhưng chất chứa tình cảm sâu đậm pha lẫn sự nuối tiếc, xót xa của tình nghĩa phu thê: Thanh minh thăm mộ vợ hiền/Mưa đêm qua có lạnh phiền mình không?/ Lặng buồn cõi biệt mênh mông/Vùi sâu cốt lạnh phiêu bồng hồn ma (Thăm mộ hiền thê). Với đồng đội, những người lính từng là bạn đồng niên, cùng chung chí hướng, tâm nguyện lên đường cứu nước, tác giả chọn cách trò chuyện tâm giao mộc mạc: Đồng niên: thầy - bạn, lớp - trường/ “Hàn sinh” hun đúc cương cường chí trai/ Bóng hồng e ấp mắt nai.../Bút nghiên bỏ, súng nặng vai... lên đường/ Bước quân reo lính chiến trường/ Đạn bom mù mịt - máu xương tơi bời/ Tử sinh nghĩa khí phùng thời / Câu thơ hội ngộ dưới trời miền Đông (Khóc bạn cố tri).

Hình ảnh người mẹ lam lũ, tảo tần, giàu đức hi sinh được nhà thơ nhắc đến trong nhiều trạng thái cảm xúc. Đó là niềm vui vỡ òa ấm áp của niềm vui đoàn tụ: Cháu con quấn quýt bên bà/ Bữa trưa muộn, rộn tiếng gà gáy vang/ Xôn xao ngõ xóm chợ làng/ Đoàn viên tứ đại- xênh xang nói cười (Mẹ và niềm vui đoàn tụ), là cảm giác bé bỏng trong tình yêu vô bờ của mẹ: Năm mươi năm bạt phiêu/ Cánh chim bay chân trời góc bể/ Tuổi chín lăm mẹ cuối chiều bóng xế/ Tôi chưa hẳn lớn khôn/ Trong ánh mắt mẹ già (Mẹ và các con trai). Chỉ bằng bốn dòng lục bát, nhà thơ đã tái hiện trước mắt người đọc hình ảnh đôi bàn tay gầy guộc nhăn nheo- dấu ấn của tuổi tác và cuộc đời nghèo khổ, lam lũ của mẹ: Ngón gầy gân guốc nhăn nheo/ Đồng sâu ruộng cạn đói nghèo trả vay/ Trời thương con được cầm tay/ Để xoa dịu bớt đắng cay phận người (Cắt móng tay cho mẹ). Vẻ đẹp phẩm hạnh của mẹ được nhà thơ tôn vinh bằng hình ảnh hoa sen cao khiết. Loài sen là quốc hoa của dân tộc Việt Nam- một thi liệu quen thuộc trong thơ ca truyền thống được Phạm Trung Tín sử dụng vẫn mang nét riêng thơ anh. Dẫu tuổi cao sức yếu, mẹ vẫn chắt chiu nhặt nhiệm, rút ruột tằm nhả tơ, dạy các con lối sống nhân nghĩa:

Như loài sen dẫu hoa tàn

Củ còn nuôi ngó đông hàn ủ xanh

Hè sang bừng sắc lá xanh

Hoa thơm đơm nhụy trong lành nghĩa ân. (Mẹ tôi lão Phật gia)

Được biết Phạm Trung Tín còn đảm nhiệm công việc xã hội với cương vị của một bí thư chi bộ nhiều năm của một khu phố hơn 4.000 dân, được mọi người yêu quý và tín nhiệm. Thơ ca dù có lãng mạn, sải cánh bay cao trên bầu trời nghệ thuật vẫn có một sợi dây nối liền mặt đất. Hiện thực đời sống đương đại với những khúc quanh và ngã rẽ đi vào thơ Phạm Trung Tín bình dị và ắp đầy như từng hơi thở. Trước trận cuồng phong số 9 ở miền Trung, lời thơ lo lắng đến quặn thắt: Bão chồng lên bão nỗi đau/ Thiên tai dồn dập nát nhàu miền Trung/ Gió lùa mây phủ bịt bùng/ Tang thương dâu bể vô cùng đớn đau (Miền Trung giông bão). Đồng cảm với những nhọc nhằn của người phụ nữ làm muối ở Lý Nhơn, huyện Cần Giờ, TP. HCM, nhà thơ chia sẻ: Hạt muối đa đoan, long đong chìm nổi/ Đời diêm dân nhỏ nhoi cơ hội/ Bán lưng cho trời, muối bạc trắng hơn vôi/ Bán mặt cho đất lưng ướt đẫm mồ hôi (Nói chuyện với người đàn bà làm muối). Trong đại dịch Covid 19 kinh hoàng năm 2021, bên cạnh những hoạt động thiện nguyện của bản thân và Hội Nhà văn TP. HCM, nhà thơ gửi gắm vào thơ những lo lắng, thương cảm đau đáu của mình:

Giặc thinh lặng hủy hoại đời

Ngàn sinh mệnh bóng ma trơi thình lình

Vô tang vô tưởng vô tình

Tâm hương thắp nghẹn- cốt bình nhói tim (Phận người trong tâm dịch)

2. Đối diện chính mình- một hồn thơ lãng mạn gắn với sứ mệnh văn chương

Cảm xúc lãng mạn, thăng hoa chính là yếu tố quan trọng để người thơ chắp cánh cho nghệ thuật. Thơ ca có lúc là lời độc thoại, có lúc là tiếng hát ngập tràn của trái tim. Đó cũng chính là lúc người nghệ sĩ chưng cất thơ ca bằng ngôn từ rất riêng của mình. Nhà thơ đã dành cho người vợ sau, hiền thê Nguyễn Thị Huệ những vần thơ thật đẹp về tình yêu và hàm chứa cả sự biết ơn: Nắng cong bông lúa rưng rưng/ Mặn mòi gió biển nuôi rừng mãi xanh/ Đã yêu sương giọt đầu cành/ Càng thương nắng ấm đã dành cho nhau (Tặng vợ hiền Nguyễn Thị Huệ); Thiện tâm kết nối nhịp yêu thương/ Nuôi con, chăm mẹ - nhịn nhường/ Tiếng thơ chồng - ủ sắc hương đất trời/Cánh buồm căng gió xa khơi/ Ngọn nguồn hạnh phúc mỗi lời sẻ chia (Ngọn nguồn hạnh phúc).

Trong tập Đối diện chính mình, có lúc bạn đọc bắt gặp một số bài thơ lãng mạn, ngọt ngào về cảnh sắc thiên nhiên gắn với tình yêu đôi lứa. Đó là một khung cảnh Đà Lạt đẹp như huyền thoại: Dã quỳ xanh nụ rêu phong/ Mưa giăng mắc lạnh cánh diều thảo nguyên/ Chìm sâu kí ức ưu phiền/ Mùi hương tóc quyện rối triền nhớ nhung (Hồi tưởng). Bắt gặp hình ảnh của người thiếu phụ nơi phố núi, người thơ tự giăng mắc một tấm tình: Chợt thiếu phụ bừng lên chiều phố núi/ Bồng bềnh mây hương sắc đoan trang/Nắng mê hoặc gió chừng như bối rối/ Cỏ mềm quấn quýt bước lang thang/ Người thơ đón Nguyên tiêu sơn cước / Lau trắng đường lạnh ướp sương êm (Tình phố núi). Đó là giây phúc cùng trăng độc ẩm: Tay cầm ly rượu nhẹ tênh/ Giật mình đáy cốc lênh đênh phận người/ Xa xôi trăng cũng như cười/ Cùng ta tròn- khuyết, chín- mười tỉnh say (Uống rượu cùng trăng). Đó là kỉ niệm lãng mạn của một người lính trở về Sài thành trong một buổi sáng mưa bay:

Một sáng mưa, gác hẻm nhỏ Sài Gòn

Bốn lăm năm nụ hôn dường ngây ngất

Lính biên cương quý hơn vàng kỳ phép

Long ngóng vụng về khuy áo khép ngực em. (Nụ hôn ngày ấy)

Ký ức rưng thơm về quê hương được kí thác vào thơ bằng những hình ảnh chấm phá của cỏ may, bến sông, mây, gió, trăng gầy… Thiên nhiên quen thuộc của làng quê ven sông sẽ trở nên vô hồn nêu không được nhà thơ phả vào nỗi niềm nhung nhớ của người con xa xứ:

Bước chân ai níu cỏ may

Chiều quê in bóng trăng gầy bến sông.

Mây chùng chình nỗi chờ mong

Gió lang thang giận sóng không vỗ bờ

Chao nghiêng ký ức thực mơ

Gọi tên bến cũ lòng ngơ ngác chiều (Chạm vào nỗi nhớ)

Đọc Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín, bên cạnh sự trung hậu của tấm lòng, tôi thích cái chất mộc mạc, bình dị của ngôn từ và những hình ảnh so sánh, ẩn dụ tinh tế của anh qua thể thơ lục bát truyền thống uyển chuyển: Chỉ e phố núi tùy duyên mỏng (Tình phố núi); Lưng cong trĩu bóng mẹ hiền/ Vai chiều thêm nặng gánh phiền xa xăm (Mũi vắc xin ngày Vu Lan); Con sẽ bay lên từ đôi vai cha mẹ (Tặng con trai yêu quý); Nắng mê hoặc gió chừng như bối rối/ Cỏ mềm quấn quýt bước lang thang (Tình phố núi);  Hạt muối tinh khôi như hoa tuyết (Nói chuyện với người đàn bà làm muối); Củ còn nuôi ngó đông hàn ủ xanh (Mẹ tôi lão Phật gia); Vít cong nhang khói nửa chừng/ Ngọc lan im lá, lộc vừng nghẹn hoa (Viếng mộ Nguyễn Bính thi nhân)… Nói như Nguyễn Cư Trinh: “Để trong lòng là chí, ngụ ra ý là thơ. Người có sâu, cạn cho nên thơ mờ có tỏ, rộng hẹp khác nhau. Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc, ý nghĩa phải hàm súc, lời thơ phải giản dị”.

Xuân Diệu từng viết: “Ngôn từ, lời chữ, vần rất là quan trọng, bởi thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ. Tuy nhiên, đó là cái quan trọng thứ hai. Mà cái quan trọng thứ nhất làm rường cột cho tất cả là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài. Làm thơ khó nhất là tìm tứ”. Trong tập thơ này, có thể Phạm Trung Tín chưa có nhiều câu thơ cách tân theo lối hiện đại nhưng chất trữ tình đậm đặc làm nên hồn cốt của thơ ca luôn tuôn chảy và ắp đầy, khá nhiều bài thơ đã xây dựng được tứ riêng, không trộn lẫn. Dù cuộc đời có những thăng trầm, mất mát nhưng người thơ Phạm Trung Tín vẫn cần mẫn cày xới trên cánh đồng chữ nghĩa, nâng niu từng lát cắt cảm xúc để gieo trồng những áng thơ ca đích thực, đóng góp cho nghệ thuật.  Xin chúc mừng Đối diện chính mình của Phạm Trung Tín và chờ đợi tập thơ tiếp theo của anh.

TP. Hồ Chí Minh, 20/5/2023
TKL.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm