TIN TỨC

TS Hoàng Thị Thu Thủy: Hành trình thơ của nữ thi sĩ yêu thơ

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-09-15 07:48:04
mail facebook google pos stwis
1908 lượt xem

TS HOÀNG THỊ THU THỦY

Chị tặng tôi 5 tập thơ, được đánh dấu thứ tự từ số 1 đến số 5, nhìn những tập thơ được trình bày trang nhã, đẹp, tôi cảm nhận hạnh phúc của chị cùng những “đứa con tinh thần” trên những chặng đường sáng tác cùng nàng thơ đỏng đảnh. Tôi biết chị qua trang Thi ca điểm hẹn (VOH), giọng miền Trung chân thật, nhẹ nhàng. Tôi gặp chị trên đất Huế (2019) trong ngày hè nóng bỏng (trên 38 độ C). Nhận thơ chị, tôi như người có lỗi nếu như chưa đọc và cảm nhận về nó.

Tôi xem bài thơ “Yêu thơ” của chị trong tập thơ “Dòng sông và nỗi nhớ” như là tuyên ngôn thơ của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam: “Tiếng đài khuya vọng ngân nga/ Thơ ơi vang mãi thiết tha mặn nồng/ Từng câu từng ý vào lòng/ Yêu thơ ta nguyện thủy chung trọn đời”; “Thơ, làm nhịp cầu nối hai tâm hồn/ Thơ, giúp em vượt qua ngàn cay đắng” (Để em thức cùng thơ – Gửi vào khoảng lặng). Thơ là cứu cánh cho nữ thi sĩ – nhà giáo, nữ thi sĩ – quân nhân trong những năm tháng vừa làm tròn nhiệm vụ của một công dân vừa làm tròn bổn phận của một người vợ thủy chung, một người mẹ đảm đang và cả khi lên chức bà hiền hậu, thân thương. Thủy chung cùng thơ, yêu thơ và sáng tác, cho đến nay chị đã lần lượt xuất bản các tập thơ: Dòng sông và nỗi nhớ (2006), Hương thiên lý (2013), Vọng mãi lời ru (Sưu tầm, 2014), Nơi đó có tình yêu (2016), Gửi vào khoảng lặng (2018). Chị từng là nhà giáo (1969 - 1981), rồi chuyển sang công tác tại Tổng công ty 28 thuộc Bộ quốc phòng và mang quân hàm Trung tá QNCN, chị là Hội viên Hội nhà văn TP. Hồ Chí Minh.

Tôi khá ngạc nhiên trước dòng chảy thơ ca trong chị không đứt đoạn trong những năm tháng chiến tranh, những năm tháng đất nước trải qua thời kì kinh tế khó khăn, từ làm mẹ, chị đã làm bà và vẫn miệt mài viết. Đọc những trang thơ của chị như những trang đời “mãi mãi xanh tươi”. Nơi đó có kí ức mối tình đầu trong xa cách, nhớ thương: “Hẹn ngày về đón anh, em viết tiếp/ Những dòng thơ thêu dệt mối tình ta/ Cho tình đầu nồng cháy chẳng phôi pha” (Gửi anh – Dòng sông và nỗi nhớ). Tôi trân quý tình cảm chân thành, thương nhớ trong thơ chị trong những tháng năm xa người yêu, rồi xa chồng, thơ chị lúc này như là lời động viên, lời nhắn nhủ, lời an ủi cho những đôi lứa yêu nhau lúc xa ngái hãy giữ gìn sự thủy chung và niềm tin mãnh liệt: “Những cánh thư ơi hãy vượt núi băng ngàn/ Về với em giữa lòng đất mẹ/ Dù xa nhau nơi chân trời góc bể/ Hãy một lòng chung thủy sắt son/ Hãy yêu nhau dù núi lở non mòn” (Thời gian và xa cách - Dòng sông và nỗi nhớ). Những ai đã từng trải qua những năm tháng chiến tranh, từng cảm nhận sự xa cách chia ly sẽ thấm thía cảm xúc yêu thương nồng cháy trong thơ chị, lúc này thơ ca không thể “mơ hồ và đa nghĩa” để người đọc phải đoán non đoán già, mà từng sợi tơ trời khi rót vào cảm hứng sáng tạo của thi nhân thì cảm xúc tuôn trào là chân thật, khắc khoải, dặn dò, thương mến…

Cảm thức thơ trong chị bắt đầu từ cái nhìn thương mến cùng những người thân, người thương gần gũi với chị, rồi tứ thơ lan tỏa tình mến thương đến với mọi người.

 “Làn gió nhẹ lùa qua khung cửa sổ/ Nghe hương xuân ngan ngát cả gian phòng/ Những chậu hoa ngoài hành lang nở rộ/ Cành lá lắt lay xao động tâm hồn… Muốn gửi vào thơ những dòng tâm huyết/ Sao xuân sang lòng vẫn thấy u buồn…/ Chị có biết ngoài kia xuân vẫy gọi/ Hương xuân về tìm kiếm bóng người thân/ Giữa nẻo đường quen thuộc, xa gần/ Giờ thiếu vắng đôi bàn chân của chị…” (Hương xuân – Nơi đó có tình yêu). Nhạc sỹ Quốc Khanh thật hữu ý khi phổ nhạc bài thơ thành ca khúc “Hương xuân của chị”, bởi khi đọc bài thơ ta cảm nhận một tâm hồn đa cảm, thương mến, trắc ẩn; giữa niềm vui khi Tết đến xuân về, thi nhân thương nhớ và xót xa khi “thiếu vắng đôi bàn chân của chị”; giai điệu của ca khúc luyến thương, dìu dặt, thật vấn vương. Hình ảnh người chị trong bài thơ “Nhớ lời chị ru” là sự biết ơn của thi nhân: “Ngồi nhớ lại những lời ru chị hát/ Đưa các em vào giấc ngủ năm nào/ Em không sao ngăn được dòng nước mắt/ Hình ảnh chị hiền, ôi! Thương nhớ làm sao”.

Tội gặp chị chỉ vài tiếng đồng hồ, mà nhận ra nữ thi sĩ mang quân hàm Trung tá quân đội thật tận tình, chân thành và thương mến; nên khi tôi đọc những vần thơ của chị tôi nhận ra cảm xúc thơ được viết ra từ tấm lòng thương cảm của chị: “Ai cho con manh áo sợi bạc màu/ Con mặc nó cả mùa đông, mùa hạ/ Nhớ một chiều/ Nơi làng quê yên ả/ Con rùng mình/ Thấm thía một nỗi đau/ Cởi áo ra/ Con lại mặc vào/ Lại khoác lên mình/ Những tủi sầu cay đắng/ Đó là nỗi ám ảnh – tuổi thơ/ Suốt đời không quên được/ Ôi! Một chiều yên ả chốn làng quê” (Manh áo sợi bạc màu – Hương thiên lý). Một sự sẻ chia, đùm bọc “lá lành đùm lá rách” trong cảm xúc thi nhân thật xúc động; manh áo sợi bạc màu là sự cùng cực của nghèo đói, nhận manh áo nhận luôn sự tủi sầu cay đắng, mà lòng biết ơn thì “suốt đời không quên được”.

Những kỉ niệm thời chiến tranh dưới mái trường Sư phạm đi vào thơ chị như những câu chuyện kể, lời kể thân thương cùng thầy cô, bè bạn, đọc thơ chị như đọc cả một vùng kí ức, mà nơi đó chị cùng những người bạn “cùng một lứa bên trời lận đận”: “Lời tri ân”, “Kỉ niệm còn đây”… (Hương thiên lý). Tình cảm quê hương, gia đình đậm đặc trong thơ chị: “Có lúc cồn cào nỗi nhớ quê hương/ Nơi ngày xưa chôn rau cắt rốn/ Nhớ tuổi thiếu niên mỗi chiều mỗi sớm/ Men theo con mương nhỏ đến trường” (Nỗi nhớ - Hương thiên lý). Ký ức về mẹ, về gia đình là ký ức của thời đạn bom, nghèo khổ: “Trải qua bao năm tháng/ Mẹ tần tảo nuôi con/ Đôi vai mẹ gầy mòn/ Đôi bàn tay rám nắng… Tuổi thơ con chưa biết/ An ủi mẹ một lời…” (Ký ức về mẹ - Hương thiên lý). Đề tài về mẹ, về chị, về em trở đi trở lại trong thơ chị; khi thì nhớ về nhân ngày giỗ, khi thì nhớ về nhân ngày xuân, khi thì nhớ về nhân ngày vui, nghĩa là tình cảm gia đình thường trực trong chị khi chị rời quê hương, gia đình, công tác và lập nghiệp ở nơi mà “Người Sài Gòn thanh hậu”.

Người đọc cảm mến thơ chị bởi cái giọng thơ đằm thắm, dịu dàng, nữ tính, tình yêu và sự thủy chung là điểm tựa cho chị vượt lên tất cả; tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe chị đọc bài thơ anh viết tặng chị từ thời còn học sinh: “…Nói đi em cho dịu nhẹ lòng mình/ Cho hoa thắm vẫy chào trong gió lộng/ Để cho má em mỗi ngày thêm chín mọng/ Cho mắt huyền lấp lánh như sao/ Cho tình ta đẹp tựa cánh hoa đào…”. Có lẽ những câu thơ với phép tu từ so sánh liên tiếp đã rung động lòng chị, đã khiến tâm hồn chị bay bổng, để rồi cả hai đã theo nhau đến tận chân trời góc bể, và cùng với tháng năm, chị nhắc lại kỉ niệm xưa như vẫn rung động của mối tình đầu: “Em đọc đến thuộc lòng/ Bài thơ đầu anh viết/ Tờ giấy lằn nhiều nếp/ Màu thời gian khô cong/ Nhưng nét chữ vẫn còn/ In vào trong ký ức?/ Bài thơ đầu anh viết/ Có gì như men say/ Lời trong sáng thơ ngây/ Tựa hoa hồng hé nở/ Mà gói tròn thương nhớ/ Theo anh tháng năm dài” (Bài thơ đầu anh viết - Nơi đó có tình yêu). Yêu anh bắt đầu từ những rung động với bài thơ anh tặng. Thêm một lần lý giải vì sao nữ thi sĩ yêu thơ ca đến vậy.

Với hành trình thơ của chị ta nhận ra, khoảng thời gian chiến tranh, xa cách, thơ chị  nhớ nhung, chờ đợi; càng về sau giọng thơ lắng đọng cái nhìn từng trải, lắng đọng tình cảm mến thương cùng người thân, bạn bè, khi càng ngày chị càng nhận ra cái bi kịch giữa thời gian vũ trụ đến rồi lại đi vần vũ và nghiệt ngã, và thời gian đời người thì hữu hạn: “Nhìn từng cơn gió thoảng/ Lao xao lá vàng rơi/ Ngắm từng đêm trăng sáng/ Hồn mơ về xa xôi” (Gửi vào khoảng lặng); nỗi nhớ trong thơ chị dày lên cùng năm tháng với những kỉ niệm thân thương cùng bạn bè, quê hương: “Đêm Sài Gòn/ Lòng mênh mang nỗi nhớ/ Nơi hẹn hò ngày đó/ Kỉ niệm xưa/ Sâu lắng tâm hồn” (Nhớ về nơi hò hẹn - Gửi vào khoảng lặng); những năm gần đây chị được đi về nhiều hơn với những kỉ niệm và giọng thơ chị có gì đó vừa hoài niệm, vừa lắng sâu: “Về thăm bến đợi năm xưa/ Con đò vắng bóng người xưa vắng hình/ Chiếc cầu mấy nhịp đứng im/ Bao người qua lại biết tìm anh đâu?/ Bước đi thơ thẩn trên cầu/ Đâu đây vọng lại những câu tâm tình” (Về thăm bến đợi - Gửi vào khoảng lặng); quê hương vẫn là nỗi nhớ đau đáu trong lòng chị: “dù đi khắp nẻo phương trời/ Bến sông xưa vẫn là nơi thâm tình/ Lời người còn đó đinh ninh/ đến đâu cũng có bóng hình đi theo/ Con đò chở nặng tình yêu/ Dòng sông là cả sớm chiều quê hương” (Dòng sông thương nhớ - Gửi vào khoảng lặng)…

Với thi nhân Nguyễn Thị Phương Nam, thơ chị như là quyển “nhật kí cuộc đời” với đầy đủ các cung bậc cảm xúc, nơi đó chị gửi gắm tình yêu, nỗi ước mong, hy vọng và  những cảm xúc thương cảm trước tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình… Xem thơ là cứu cánh, là nơi gửi gắm chững cảm xúc vui buồn, nên khi sáng tác thơ có vần, có điệu thì cảm xúc tuôn trào, do vậy đọc các tập thơ của chị ta nhận ra thi nhân thường viết bằng nhiều thể loại thơ khác nhau, câu thơ dài ngắn khác nhau, dường như chị chuộng câu thơ 7 chữ, 8 chữ để diễn tả hết ý tứ trong lòng. Thi pháp thể loại vì thế không có nhiều đột biến. Giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, ít biến đổi, chứng tỏ nữ thi sĩ đã vượt qua những cảm xúc thông thường để gửi vào thơ những gì lắng đọng, yêu thương, đó là điều khiến cho thơ chị có thật nhiều thương mến.  

Huế ngày 12/8/2019.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm