TIN TỨC

Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-24 15:33:30
mail facebook google pos stwis
437 lượt xem

PGS.TS NGUYỄN THANH TÚ

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

 

Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng...

 

(Đọc trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim (NXB Hội Nhà văn, 2026) của Châu La Việt)

Một nguyên tắc kiến tạo tượng đài, theo mỹ học tạo hình hiện đại, phải vừa là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của cuộc sống đương đại, để tạo nên dải quang phổ có độ tán sắc ánh sáng văn hóa. Không gian tượng đài, không chỉ để làm phông nền cho hình tượng, còn khơi gợi ra sự liên tưởng thẩm mỹ về tầm cao tôn kính, chiều sâu triết lý, bề xa nhận thức. Các tượng đài nhân vật anh hùng thường là những biểu tượng có hai lớp nghĩa: Một, là những hình tượng có trong huyền thoại hoặc lịch sử, theo thời gian được bồi đắp nhiều lớp phù sa văn hóa, có tính cộng đồng cao, trở thành một “căn cước dân tộc”. Hai, tập trung khái quát cao độ những ý nghĩa lịch sử - xã hội, nhìn vào đó sẽ thấy phần nào nội dung bản chất thời đại. Trong trường ca mới nhất của Châu La Việt có tên Mặt trời nồng ấm trong tim dựng lại chân dung một con người lịch sử: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Tô Quyền. Các phạm trù chiến công, nhân cách, tình người và ký ức cộng đồng thống nhất hòa làm một để tôn vinh một hình tượng bất tử. Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, tác phẩm đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.

Âm hưởng anh hùng ca vang vọng là giọng điệu chủ đạo, nhưng không phải kiến tạo bằng chất liệu của những trận đánh, những chiến dịch, mà chủ yếu từ tinh thần cống hiến, đạo đức cách mạng và tình người. Nhân vật chính (Tô Quyền) hiện lên như một con người biết khát, biết đói, rưng rưng trước hành động của người mẹ nhường bát cơm trắng cho con, còn má bóc củ khoai bùi; biết nhớ nhà, rất đau đớn trước sự hy sinh của đồng đội... Hình tượng nghệ thuật được đẩy về miền đời thường dân dã, tác giả như cái bản lề khép mở hai không gian: vùng chiến tranh khói lửa và những nét sinh hoạt dung dị đong đầy những khát khao rất con người. Nằm giữa vùng giao thoa hai con sóng sử thi và đời tư, hình tượng vừa cao hơn mặt sóng, vừa “dập dềnh” giữa hai không gian huyền thoại và cá nhân, sinh động, mời gọi.

Theo nguyên tắc “thiêng hóa”, không gian vật lý trải dài từ miền Bắc đến miền Đông Nam bộ, từ Trường Sơn đến Tây Ninh, được “mã hóa” thành không gian ký ức, hiện lên những thử thách cực kỳ ác liệt. Dải Trường Sơn như “chảo lửa”, nơi con người bị thử thách đến tận cùng, để luyện “vàng” ý chí. Đạn bom thử thách, còn có cả cái dữ dằn của tự nhiên thử thách: Nhưng đá có thể nung, còn lòng người không thể chảy/ Trong cái nắng bốn mươi độ, ông vẫn đi như một pho tượng đồng. Cũng miền đất Tây Ninh ấy lại là miền “đất thánh” của tình người, nơi lòng dân, thiên nhiên rừng núi hòa vào nhau thành một thành lũy thép tinh thần vững chắc. Những chương viết về các chiến dịch Junction City, Bàu Ròng, Gò Dầu... không theo lối kể lể, mà được “thơ hóa” bằng nhịp điệu, hình ảnh, ẩn dụ. Bom đạn không phá được rừng, ngược lại, rừng học cách che người bằng chính những vết thương của mình. Thiên nhiên cũng thành một chủ thể lịch sử, đồng hành cùng con người trong cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước.

Ký hiệu học (Semeiology) đang là hướng nghiên cứu triển vọng của nhiều chuyên ngành có nhiệm vụ tìm hiểu, cắt nghĩa các biểu tượng (symbol), vì xét đến cùng văn hóa là thế giới của biểu tượng. Là sự kết tinh các giá trị mang bản sắc văn hóa nên biểu tượng mang tính thông điệp rất rõ. Trên thực tế, con người luôn sống và hoạt động trong thế giới biểu tượng. Cuộc sống luôn là sự giải mã để hiểu và tuân theo ý nghĩa biểu tượng. Là sản phẩm của thời đại, làm nên diễn ngôn thời đại, biểu tượng mang tính thời đại rất rõ. Trôi theo dòng lịch sử, con thuyền biểu tượng vừa tô điểm vừa cho thấy một hình dung về độ nông sâu ý nghĩa, giá trị, tầm vóc thời đại của các giai đoạn lịch sử. Trường ca này, ngay tên gọi cũng đã xác lập hướng triển khai vươn tới các biểu tượng. Không chỉ có một, mà có nhiều biểu tượng “mặt trời đỏ” đã trở thành trục liên kết nâng đỡ thi phẩm. “Mặt trời nồng ấm trong tim” giàu sức gợi, đa nghĩa, là lý tưởng cách mạng, là tình phụ tử, nghĩa đồng bào, tình đồng chí, cũng là nguồn năng lượng tinh thần giúp Tô Quyền vượt qua mọi thử thách. Người cha mang theo hình ảnh đứa con trai trong lồng ngực trên suốt mọi nẻo đường dặm dài kháng chiến. “Mặt trời” đứa con không chỉ chiếu sáng con đường chiến đấu, còn sưởi ấm nhân cách người cha. Còn thêm nét nghĩa trao truyền lý tưởng và trách nhiệm công dân trở thành dòng chảy liên tục ở mọi thế hệ. Không chỉ viết về một cá nhân, trường ca còn viết về sự kế tục, về mối liên hệ quá khứ - hiện tại - tương lai trong vận mệnh lịch sử. “Mặt trời” ở đây không chỉ là ánh sáng lý tưởng, còn là sự sống, nguồn năng lượng tinh thần, là dấu nối giữa riêng - chung, giữa cá nhân - dân tộc, giữa cha - con, thế hệ trước và thế hệ sau...

Trường ca xử lý tinh tế mâu thuẫn nghệ thuật: Kiến tạo không gian tâm lý đi liền với sự phá bỏ khoảng cách không gian vật lý. Xây dựng hình tượng người mẹ miền Nam - người “Má Tây Ninh”, đã tạo nên một điểm tựa cảm xúc để tránh cho tác phẩm sa vào nguy cơ khô cứng, một chiều. Cũng đúng với quy luật của chiến tranh cách mạng: Người lính sống trong lòng dân, chiến đấu vì dân. Khi Tô Quyền nghẹn ngào: Má ơi, cho con gọi má là Mẹ.../ Để con gửi vào lòng nỗi nhớ mẹ nơi xa, thì không gian địa lý Bắc - Nam bị xóa nhòa, và mở ra không gian tâm lý nồng nàn ấm áp tình quân dân. Có tình nghĩa nào thiêng liêng hơn tình nghĩa mẹ con đâu? Trường ca đã chạm tới cốt lõi tư tưởng của Bác Hồ: Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân!

 

"Mặt trời nồng ấm trong tim" làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt

 

Với thứ ngôn ngữ “tạo ánh sáng” của niềm kính trọng, yêu thương, trường ca “điêu khắc” tượng đài tinh thần người chiến sĩ Tô Quyền ở hai tư cách: người cha (với con); người con (với nhân dân) sinh động và cảm động. Qua đó làm nổi lên một “phông nền” văn hóa Đảng anh hùng - Nhân dân vĩ đại. Tượng đài Tô Quyền còn ánh xạ để toát lên vẻ đẹp chân dung các chiến sĩ đồng đội cao cả, sáng ngời phẩm chất hy sinh vì dân, vì nước. Dù là người chỉ huy mưu lược, là “tấm lá thép của Đảng”, nhưng không có đồng chí đồng đội, ông cũng không thể làm nên chiến công. Dù là người cha được hình tượng con trong lồng ngực tiếp thêm sức mạnh, nhưng không có những người “Mẹ” Tây Ninh, ông cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ. Tô Quyền tự nguyện, và đã tự nhiên trở thành người con của đất đai xứ Tây Ninh yêu dấu, là người anh của bao người em đất miền Đông Nam bộ anh hùng. Chi tiết người anh ấy lặng lẽ gửi tiền lương ít ỏi cho Năm Tâm - một người em gái, một nữ đồng chí kiên trung, như là một điều rất đỗi tự nhiên, thường ngày mà cao cả, thiêng liêng vô cùng.

Cảm động hơn cả, là tái hiện, làm bừng sáng bức chân dung người Mẹ Tây Ninh, cũng là người Mẹ Việt Nam bao bọc cách mạng như bao bọc những đứa con ruột thịt. Hình tượng thân thiết ấy như một trục cảm xúc xuyên suốt trường ca. Tiếng gọi Mẹ của đứa con (Tiếng gọi Mẹ rung lên dưới hầm sâu Tây Ninh) không chỉ “rung lên” ở một nơi chốn cụ thể, mà “rung lên” khắp mọi không gian đất nước, “rung lên” trong mọi trái tim, cả trong tâm thức cộng đồng. Để khẳng định: tình mẫu tử vượt qua mọi địa lý, vượt qua mọi bom đạn. Đó cũng là tình với Nhân dân, với Đảng, với Cách mạng làm nên điểm tựa chiến thắng.

Qua vị mặn giọt nước có thể hình dung ra đại dương. Từ một ngôi sao Tô Quyền, có thể nhìn ra cả bầu trời khát vọng hòa bình, lồng lộng gió tự do, chan hòa ánh sáng văn minh của Đảng anh hùng, Nhân dân vĩ đại. “Lòng dân” là trung tâm, cái lõi hạt nhân tư tưởng của trường ca - là những bà má giấu cán bộ dưới hầm, nhường củ khoai, bát cơm; là những đứa trẻ bắt cá trở thành chiến sĩ an ninh... Vốn quý nhất là lòng dân không còn là lời nhân vật (Tô Quyền), đã thành lời chân lý vươn lên tầm phổ quát của một tư tưởng. Cụ thể trong trường ca này, thì với người anh hùng và mọi chiến sĩ (an ninh) phải lấy dân làm gốc, lấy mưu làm vũ khí, lấy sự tin yêu làm lá chắn. Đó cũng là đạo lý truyền thống, là nguyên lý thắng lợi, là chân lý lịch sử - thời đại.

Thế giới hình tượng trường ca đã chuyển hóa lịch sử thành hơi ấm, sức nóng của năng lượng tình yêu; đã miêu tả người anh hùng thành con người bình dị; đã biến ký ức thành ánh sáng dẫn đường, soi đường. Tác phẩm là một diễn ngôn tưởng nhớ - tri ân - giáo dục, nhắc nhở về một định lý sống: Những giá trị tinh thần văn hóa lớn lao hôm nay đang hưởng, chính là được kết nên từ vô vàn hy sinh thầm lặng, từ đạo đức, niềm tin, lẽ sống có từ hôm qua. Muốn “vươn mình” vào tương lai, phải luôn nhớ và luôn được những “mặt trời nồng ấm” hôm qua sưởi nắng đạo lý cách mạng.

Kết cấu đa giọng điệu, có giọng căng thẳng, hồi hộp (truy tìm kẻ phản bội ở ngay trong cơ quan đầu não); có giọng rắn rỏi, quyết tâm (khi giáp mặt kẻ thù); có giọng trữ tình sâu lắng (đêm Trường Sơn, ký ức về làng Xuân Cầu, mẹ già, người vợ tảo tần...) tạo cho trường ca thấm đẫm cảm xúc của đời sống thực tế thời chiến. Bố cục 12 chương, mỗi chương tương ứng một lời đối thoại: với mình; với người vợ, với con; với thiên nhiên, đất nước; với quá khứ lịch sử; với cuộc sống đời thường; với miền Bắc; với mẹ... nhìn tổng thể, trường ca có dáng dấp một bản tổng phổ âm nhạc có âm chủ hùng ca trang trọng, náu trong đó có cả tình ca, tụng ca, tráng ca, hoan ca, có những đoạn chùng xuống lắng đọng chất bi ca. Vượt khỏi mọi đường biên, không còn là đối thoại cụ thể, trường ca đối thoại với lịch sử, với thời đại, để ký gửi một quan niệm: Sức mạnh cách mạng hôm qua và hôm nay trước hết là sức mạnh của tình yêu, của đạo đức, của bổn phận và trách nhiệm, trên hết là tình người.

Nguồn: Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm