TIN TỨC

Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2026-04-02 17:48:29
mail facebook google pos stwis
776 lượt xem

HIỀN TRANG

Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:

Nhà văn đang sống trong một điểm kì dị của văn chương.

Điểm kì dị, theo đúng thuật ngữ vật lí, the singularity, cái điểm quái gở của lỗ đen bóp méo những định luật thông thường, nơi mật độ trở thành vô hạn và kéo đổ các mô hình vật lí hiện đại, cái điểm điên loạn mà Albert Einstein muốn chối bỏ như đứa con hoang sinh ra từ các phương trình của mình. Nhà văn đang sống trong điểm đó, hoặc chí ít, ta đang vượt qua chân trời sự kiện, ranh giới mà bước qua rồi thì không thể quay đầu trở lại nữa, và lao một mạch tới điểm kì dị.

 

 

Nhà văn, tất nhiên, với toàn bộ truyền thống cách mạng của nghề nghiệp này, không nói đầu hàng bao giờ. Khi bị đe doạ tước đoạt tư cách làm người viết thì chính là lúc nhà văn đã được trao cho một lí do để viết. Ta viết về chính kẻ đang manh nha cướp đoạt niềm kiêu hãnh của ta. The Maniac của Benjamín Labatut là một cuốn tiểu thuyết như thế, một cuốn tiểu thuyết đo đạc cuộc đời nhà toán học người Mĩ gốc Hungary, John von Neumann, người mà khi nằm trên giường bệnh ở tuổi 53, vây quanh ông là “chuẩn đô đốc Lewis Strauss - chủ tịch ủy ban năng lượng nguyên tử; bộ trưởng quốc phòng; thứ trưởng quốc phòng; các bộ trưởng không quân, lục quân và hải quân; cùng các tổng tham mưu trưởng - tất cả đều chờ đợi một tia sáng cuối, thêm một ý tưởng nữa từ con người đã khai sinh ra máy tính hiện đại, đặt nền tảng toán học cho cơ học lượng tử, viết nên phương trình cho cơ chế nổ bên trong của bom nguyên tử, khai sinh lí thuyết trò chơi và hành vi kinh tế, mở ra kỉ nguyên của sự sống kĩ thuật số, máy tự sinh sản, trí tuệ nhân tạo và điểm kì dị công nghệ, người đã hứa hẹn ban cho họ quyền năng thần thánh để kiểm soát khí hậu trái đất - giờ đây đang dần tàn lụi trước mắt họ, gào thét trong đau đớn, mê sảng, hấp hối, như bất kì con người nào khác” (trích đoạn này là do ChatGPT dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt); và thu thập những manh mối về quá trình ra đời đầy những đường vòng, những khúc ngoặt, những gấp khúc, những mê lộ, những ngã rẽ khác thường để rồi khai sinh ra trí tuệ nhân tạo - những thực thể không có cơ thể vật lí, trôi nổi và dập dềnh trong một vùng không gian khác, vậy nhưng vẫn biết học tập, biết suy nghĩ, biết tạo ra thứ mà ta tưởng các nữ thần chỉ ban riêng ta: khả năng kiến tạo cái đẹp.

Và như mọi lịch sử, lịch sử những cỗ máy trí tuệ này cũng không minh định. Đó là một lịch sử đa thanh, với nguồn gốc không rõ ràng, và ngay cả trong một thế kỉ mà quá trình phát minh và khám phá đều được ghi lại cẩn mật và kĩ càng, dường như vẫn có rất nhiều thứ nằm ngoài khả năng ghi chép của con người, như là cơn mất trí, dù là tạm thời hay dài lâu, của những con người đã ngó thấy sự khải huyền về cõi phi lí của công nghệ.

The Maniac gồm ba phần lớn: mở đầu là thời đại tiền Neumann, với nhân vật chính là Paul Ehrenfest, một nhà vật lí lí thuyết với đóng góp vượt bậc cho cơ học lượng tử dù ông không thể nào chấp nhận được thế giới phi lí mà vật lí lượng tử ngự trị, ông phát điên, giết đứa con trai mắc chứng down, và tự sát; phần hai là lời chứng về cuộc đời của Newmann, người được ban phước và bị nguyền bởi số phận một thiên tài, qua giọng kể của người thân, cộng sự, kẻ thù; và khép lại với thời kì hậu Newmann, cụ thể là một mise-en-scène về cuộc đấu cờ vây lịch sử, nơi Lee Sedol vĩ đại chơi năm ván cờ cùng AlphaGo, thua tới bốn, choáng ngợp trước một nước cờ không có trong bất cứ kì phổ nào mà cỗ máy đã chơi, và suốt những ngày thi đấu, anh gầy rộc đi, không thiếu những cơn mê sảng.

Benjamín Labatut sinh năm 1980, người Chile. Cần phải nhắc tới năm sinh, vì có lẽ đã đến lúc những nhà văn của thế hệ 80 hết trẻ. Hết trẻ nên họ bắt đầu bước vào thời đỉnh cao của nghề tiểu thuyết. Họ bắt đầu viết ra những tác phẩm lớn từ quan sát thời đại của mình.

Văn nghiệp của Labatut được xây dựng từ một nền móng, tạm gọi là một “giả thuyết”: những phát kiến quan trọng nhất của toán học - vật lí đã tạo nên khuôn khổ cho công nghệ hiện đại đều ra đời vào thời điểm hỗn loạn của thế giới, một thế giới của Nazi, của bom nguyên tử. Trong hiện thực, sự ổn định suốt hàng thế kỉ tan vỡ, thế vào đó là những cuộc chiến tranh diện rộng, entropy của bạo lực và cái ác vượt qua mọi ngưỡng tưởng tượng, người ta không còn đoán biết được tương lai. Trong khoa học, thế giới quan truyền thống của Euclid, của Newton đã tồn tại hàng trăm năm, ngàn năm, đột nhiên không còn mang tính phổ quát mà chỉ còn là một trường hợp đặc biệt, và rồi cơ học lượng tử giá đáo, đảo ngược mọi thứ ta từng biết về bản chất vũ trụ quanh mình, đồng thời hé lộ những khả thể cho phép ta tạo ra Sáng thế thứ hai, nơi ta là chúa, và sẽ có những sinh vật mới, sinh ra từ những con số.

Một tác phẩm của Labatut đã được dịch sang tiếng Việt, Un Verdor Terrible (bản dịch của Tôm Giang do Nhã Nam ấn hành: Khi ta không còn hiểu thế giới), tập hợp tiểu luận - truyện ngắn - tiểu luận hư cấu - novella được viết với văn phong có mùi vị Sebaldian, nghĩa là như một toàn thể bị vỡ ra thành trăm mảnh, nhưng việc lắp ghép hàng trăm mảnh sẽ không mang lại cho ta một toàn thể vẹn nguyên như cũ. Đó không phải sự rã đám như trong thế giới của Roberto Bolaño, một nhà văn Chile khác, người cũng tạo ra những lỗ đen, những điểm kì dị trong văn chương, chẳng hạn như thành phố Santa Maria của tiểu thuyết 2666, nơi đặc quánh những vụ án giết phụ nữ, một thành phố cũng đổ sụp vào bên trong chính nó vì trọng lượng quá tải của bạo lực dồn trong một diện tích nhỏ; chẳng hạn như người đàn bà đã khai sinh ra một chủ nghĩa văn chương sớm nở tối tàn, phá huỷ hết những quy cách nghệ thuật, một điểm kì dị di động khiến những hậu bối không ngừng tìm kiếm. Tuy vậy, sự rã đám trong thế giới của Bolaño dù đồ sộ hơn lại không rộng khắp bằng, sự rã đám của Bolaño cục bộ, sự rã đám của Sebald hay Labatut thì gọn gàng hơn (các tác phẩm không quá dày) nhưng lại đi một vòng khắp thế giới. Tận thế của Bolaño cũng khác với tận thế của Labatut. Tận thế của Bolaño nằm trong sự tuyệt vọng, tận thế của Labatut nằm trong những hi vọng: giây phút các nhà khoa học tìm ra một khía cạnh nào đó của bản chất vũ trụ, đó là giây phút họ nắm trong tay quyền năng phá huỷ thế giới, họ là những kẻ “bước đều như những kẻ mộng du tiến thẳng tới tận thế” (trích Un Verdor Terrible/ Khi ta không còn hiểu thế giới). Trong văn chương của Labatut mang tinh thần Sebald, ta đã lỡ mất cơ hội được nhìn thấy thế giới thuở còn nguyên vẹn, đây không phải trò xếp hình nơi sự cắt nhỏ chỉ là một thủ thuật, một trò chơi; không, thế giới đã vỡ thật rồi, các mảnh đã phân tán, và entropy (đại lượng đo lường sự mất trật tự của một hệ thống) thì luôn tăng.

Nhân tiện, Boltzmann, nhà vật lí tìm ra công thức về entropy, cũng là một nhân vật trong chuỗi tác phẩm của Labatut về các nhà khoa học. Và Boltzmann cũng có một số phận thảm thiết. Ông trầm cảm, “treo cổ tự vẫn bằng một sợi thừng ngắn trên khung cửa sổ trong một căn phòng ở khách sạn Ples, trong kì nghỉ hè tại Duino, gần Trieste, khi vợ và cô con gái nhỏ của ông đang đi bơi trong làn nước biển Adriatic êm đềm, xanh ngọc” (trích The Maniac). Nhưng Boltzmann cũng không phải nhà vật lí duy nhất trong thế kỉ XX phát điên. Điên loạn có lẽ là dịch bệnh của giới khoa học gia thời kì ấy, mà cũng không thể khác được, với những gì họ tìm ra. Nhà nghệ thuật bị hư cấu mình sáng tác ra vận vào cuộc đời; nhà khoa học bị sự thật mình khám phá thấy vận vào số mệnh.

Trong bộ phim điện ảnh Đức mang tên Die Theorie von Allem (Thuyết vạn vật) của Tim Timm Kröger, một nhà vật lí trẻ tuổi cùng thầy mình tham gia một toạ đàm đặc biệt trên dãy Alps. Anh đang ấp ủ một công trình kì lạ về thời gian. Nhưng cũng chính trên triền núi Alps, những cái chết bí ẩn bắt đầu xảy ra, và anh dần hiểu rằng tất cả những bí ẩn đó có liên quan đến công thức mà anh đang tính toán. Anh đã nhác thấy một sự thật kì dị, méo mó đang vận hành vũ trụ này. Và sự thật vốn là thứ không nên thấy, không nên biết, chừng nào còn muốn sống trong Địa đàng. Một khi đã thấy sự thật, đã để lộ thiên cơ, thì tất yếu, anh đừng mong bước ra còn toàn vẹn - ai cho con người diện nhan chúa? “Ngươi không thể thấy mặt Ta, vì không ai thấy mặt Ta mà còn sống” (Sách Xuất Hành 33:20). Những kẻ nhìn thấy mặt chúa, và tiếc thay, chẳng phải một gương mặt của vẻ đẹp hài hoà, trật tự, tỉ lệ vàng, mà lại là một gương mặt ác mộng, anh ta tất yếu phải trả giá.

Những nhà khoa học cơ bản thế kỉ XX được kể trong các tác phẩm của Labatut (một loạt tên tuổi lừng danh nhất), đều là nạn nhân của sự thật. Họ đều thấy bóng dáng phần quỷ phi lí trí trong vũ trụ, và bị con quỷ ấy ám nguyền, theo nhiều cách khác nhau. Không thể hạnh phúc khi đã trông thấy con quỷ ấy. Schwarzschild, Heisenberg, Schrödinger, Boltzmann, Grothendieck, Neumann, Gödel, Ehrenfest, Barricelli, Turing, Mochizuki, De Brogli... Kẻ nhịn ăn đến chết, kẻ chết vì khí độc, kẻ sống cô lập từ chối dùng điện và nước, kẻ sống trong những cơn sốt thường trực của bệnh lao… Kẻ nào cũng hoặc mê mụ, hoặc ghê tởm, hoặc phát cuồng, hoặc kinh hoàng trước những gì mình tìm thấy. Cách duy nhất để sống an thân, như truyện ngắn Khi ta không còn hiểu thế giới khép lại, một nhà toán học, sau khi tiếp xúc những công trình toán học có tính cách mạng của Grothendieck, đã từ bỏ toán học và trở thành một người làm vườn, tâm đắc với câu chuyện về những cây chanh, rằng khi chúng già đi, chúng sẽ chết vì quá sum suê, chúng sẽ chết sau một vụ mùa bội thu, với hoa trái trĩu cành, trĩu cành đến gãy cành, và sau một tuần mặt đất đầy mùi chanh thối - có lẽ người đó đã hiểu rằng con người cũng như vậy, sự phát triển quá độ sẽ chỉ dẫn tới một phong cảnh tiêu điều xộc mùi hôi thối. Nhưng không mấy ai chặn đứng được cám dỗ của sự tò mò với khoa học và phát triển. Những nhà khoa học vĩ đại nhất đã lao vào khoa học như một người chạy nạn lao vào hầm trú ẩn để chống đỡ sự độc ác của chiến tranh, hay, sự độc ác của con người (theo nghĩa đen), để rồi họ bị bắt sống bởi một thực thể còn độc ác, xảo quyệt hơn gấp nhiều lần: toán học.

Bởi toán học hứa hẹn cho ta trở thành chúa. Toán học là kinh thánh, một thứ kinh thánh ta không cần phải nghi ngờ, một thứ kinh thánh không nằm trong những huyền thoại mập mờ mà nằm ngay trên những con số tính toán được, chứng minh được, phải, rất phức tạp, nhưng chí ít, chứng minh được. Toán học là một vị chúa tể bao dung, nó cho phép ta đặt câu hỏi, tò mò, cho phép ta tìm ra nó, thay vì lẩn tránh như những vị thần tối cao khác trong truyền thống nhân học, luôn bắt ta phải tin, và một đức tin tiên nghiệm, tin dù không có sự bấu víu nào, một bằng chứng nào, như ông Job luôn tin thượng đế của ông. Bi kịch của những nhà khoa học bắt đầu từ đó: từ sự tin tưởng rằng toán học là đấng toàn năng luôn đúng, không bao giờ mâu thuẫn, ngẫu hứng, khó đoán như những vị chúa của tôn giáo hay triết học. “Khi ngày càng có nhiều phát hiện mới được đưa ra, người ta dần nhận ra rằng toán học thực ra không có một nền tảng mà ai cũng có thể đồng thuận. Nỗi nghi ngờ dai dẳng ấy - rằng toàn bộ vương quốc của họ được xây dựng trên hư vô - được gọi là “khủng hoảng về nền tảng của toán học”, và đó là cuộc chất vấn sâu sắc nhất đối với ngành này kể từ thời Hi Lạp cổ đại. Cuộc khủng hoảng ấy là một sự kiện kì lạ, có sự tham gia của những bộ óc nguyên bản và sáng suốt nhất trên thế giới. Nhưng khi nhìn lại, tôi thấy nó chẳng khác nào một cuộc truy tìm kiểu Arthur - nơi lí trí vượt quá giới hạn của chính nó, chỉ để rồi nhận ra trong tay mình là một chiếc chén thánh trống rỗng” (trích The Maniac). Hoá ra vị chúa khoa học cũng có một ván cược với quỷ dữ, hệt như vị chúa trong Sách Job. Khoa học, thứ luôn kiêu mạn về sự chính xác của mình, không bao giờ có một phiên bản nào khác của định lí Pythagore như các kinh điển tôn giáo thường có hằng hà sa số dị bản, cuối cùng cũng rất bất định: những hệ tiên đề tưởng như bất khả xâm phạm cũng hàm chứa những mệnh đề không thể khẳng định mà cũng không thể phủ định, và KHÔNG THỂ loại bỏ những mâu thuẫn và nghịch lí ra khỏi toán học. Tư duy lí trí có đường biên của nó. Nhưng điều đó lại không ngăn những nhà toán học khác muốn đi đến tận rìa mép của đường biên ấy, xem có vực thẳm nào ở đó. Từ khao khát rất trong sáng ấy, những bộ khung toán học quan trọng nhất của máy tính, của internet, của điện thoại thông minh, của trí tuệ nhân tạo, và còn những gì nữa có trời mới biết, ra đời.

Trong phần cuối cùng của The Maniac về cuộc đấu cờ vây giữa Lee Sedol và một cỗ máy, Benjamín Labatut đã bắt đầu bằng một thiên truyện cổ của người Trung Hoa về sự ra đời của cờ vây. Vua Nghiêu có một đứa con ngỗ ngược và hiếu sát, Đan Chu. Đan Chu không thích đọc, chẳng thích viết, thứ duy nhất nó thích là giết, giết tất cả những gì trên đường nó đi qua. Lo sợ về đứa con trai của mình, vua Nghiêu đã cầu xin các vị thần cùng với Bàn Cổ chia vũ trụ thành 19 hàng, 19 cột, và rủ Đan Chu đến chơi một trò chơi xem ai giành được nhiều lãnh thổ hơn. Ai giành được nhiều lãnh thổ hơn, kẻ đó sẽ thống trị vũ trụ.

Sau đó, Labatut mô tả về cuộc đời kì thủ bậc nhất Lee Sedol, đâu đó cũng có nét của một Đan Chu: ngang tàng, kiêu ngạo, trẻ con. Và cả người tạo ra AlphaGo cũng thế, Hassabis - nhà khởi nghiệp, nhà phát minh, một kì thủ - cũng là một kiểu Đan Chu.

Con người đều là những Đan Chu. Rất có thể chúng ta chỉ đang ở trong một ván cờ nơi Đan Chu chơi với Đan Chu, nhưng luật cờ lại không do chúng ta tạo nên. Chúng ta mong muốn trở thành thần thánh của thiên niên kỉ mới, tiếm quyền những thượng đế cổ xưa. Chúng ta đang tạo ra những thứ mà thượng đế cũng không tạo ra được, chúng ta đang tạo ra Sáng thế bằng thần khí của mình, với những cỗ máy biết suy nghĩ, biết chơi cờ, biết làm ra cái đẹp, như đúng tiên tri của John von Neumann, và nếu ông còn tiếp tục đúng, thì một ngày nào đó, những cỗ máy sẽ sinh sản, hệt như chúng ta. Nhưng rất có thể tất cả cũng chỉ nằm trong một hoạch định lớn lao hơn của vũ trụ, rằng con người, rồi cũng như vườn chanh, nếu chúng ta không chết vì chiến tranh toàn cầu, vì dịch bệnh, vì thảm hoạ, thì đến một lúc, ta sẽ chết vì chính hoa trái của mình, và chết không phải vì chúng ta dốt nát, mà chết vì chúng ta quá thông minh.

Thế thì quay lại câu hỏi đầu tiên: Nhà văn biết làm gì đây, trong thế giới đang kề cận một điểm kì dị? Mặc dù có thể không có một câu trả lời thấu đáo và đúng trọng tâm, nhưng có thể, rất có thể thôi, rằng nghề nghiệp ấy sẽ tiếp tục tồn tại, bởi nhà văn thì chưa bao giờ quá thông minh, không bao giờ quá chính xác, không bao giờ có tham vọng về sự chính xác, và vì thế không có một thế giới nào sẽ diệt vong vì văn chương phát triển vô hạn. Khi không có sự vô hạn, thì điểm kì dị sẽ bị vô hiệu hoá. Văn chương là một hi vọng nhỏ của chúng ta.

H.T

Nguồn: Văn Nghệ Quân Đội

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm