TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn truyện của Phạm Ngọc Dũ - Cảm xúc chân thành và đầy tính nhân văn

Văn truyện của Phạm Ngọc Dũ - Cảm xúc chân thành và đầy tính nhân văn

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-12-05 15:43:54
mail facebook google pos stwis
2917 lượt xem

HOÀNG THỊ BÍCH HÀ

Trước khi khai thác về văn truyện của anh, tôi xin giới thiệu đôi dòng về nhà văn Phạm Ngọc Dũ: Phạm Ngọc Dũ sinh năm 1957 tại Quảng Ngãi, hiện sống và viết tại tp HCM, Hội viên Hội Nhà văn TPHCM. Anh hiện đang là chủ biên của Tạp san Sông Quê.

Nhà thơ Phạm Ngọc Dũ

Tôi gặp anh trong những buổi sinh hoạt, ra mắt sách của anh chị em văn nghệ sĩ thân thương trong Thành phố. Ấn tượng của tôi về anh là một con người hoạt bát, năng động, hết lòng với công việc và gia đình, yêu văn chương, nhiệt tình tâm huyết với chữ nghĩa, sốt sắng với đồng nghiệp, bạn bè hay bạn đọc bạn viết. Được biết tới anh trong vai trò chủ biên của tạp chí Sông Quê, từng làm báo, viết văn và làm thơ.

Từ năm 25 tuổi (1982) anh đã vào Saigon bắt đầu tìm kiếm cơ hội thử sức mình với tuổi thanh niên đầy nhiệt huyết ở vùng đất hứa bậc nhất của Việt Nam. Sau khi lập gia đình vào năm1984, gia đình anh nhập cư hẳn tại thành phố HCM với công việc đầu tiên ở nhà văn hóa Quận Bình Thạnh, sáu năm sau, bắt đầu sự nghiệp báo chí, làm thơ, viết văn.. Như vậy anh đã gắn bó Sài Gòn hơn bốn mươi năm, Sài Gòn cho anh cơ hội và cũng nhiều thử thách buộc anh phải vượt qua. Những trải nghiệm, những thăng trầm, vui buồn của cuộc sống đã để lại nhiều dấu ấn đậm nét trong thơ, văn của anh. Tính đến nay, đã xuất bản được 6 tập thơ với bút danh Ngã Du Tử (trong đó có bốn thi phẩm in riêng, hai thi phẩm in chung). Nay anh xuất bản tập văn truyện đầu tiên có tựa đề: Gió Bên Triên Sông Vẫn Thổi là tập Truyện ngắn và Ký (Nxb Hội nhà văn, quý IV, năm 2023)

Quả thật văn truyện của anh được viết ra từ cảm xúc rất đỗi chân thành. Với giọng văn giản dị, mang yếu tố trữ tình và tự sự đan xen. Không cầu kỳ làm dáng văn chương, anh nghĩ sao viết vậy chân chất như chính con người anh. Xuất thân là học sinh chuyên toán nhưng anh lại rẽ lối vào văn chương như một cái duyên. Có lẽ nghề chọn người chăng? Trong những năm làm báo, đi đây đi đó tác nghiệp để làm phóng sự, cũng là những dịp để anh quan sát và trải nghiệm thực tế cuộc sống. “Đi, đọc và viết” là sở thích cũng là điều kiện cần để nhà văn tích lũy vốn sống để làm thơ và viết văn. Trải qua những thăng trầm dâu bể cuộc đời của chính nhà văn, anh đã tái hiện cuộc sống lên trang viết, mang hơi thở của thời đại. Đó là những hồi ức, chiêm nghiệm, cả những trăn trở suy tư và tư tưởng nhân văn là thông điệp anh muốn gửi gắm cho người đọc trong tác phẩm.

Tập văn truyện gồm có hai mươi câu chuyện. Sau mấy ngày nghiền ngẫm tác phẩm mới ra lò còn nóng hổi của anh đã đọng lại trong tôi nhiều cảm xúc.

Mở đầu là lời bộc bạch của tác giả với bạn đọc, tiếp đến gồm mười sáu truyện ngắn và bốn bài ký, cuối sách có lời bạt của nhà văn Nguyễn Châu.

Mỗi câu chuyện đề cập đến một vấn đề của cuộc sống, có sức gợi.Tất cả được hình thành từ khả năng quan sát tinh tế, chan chứa lòng nhân ái đa mang của người cầm bút. Từ hiện thực cuộc sống- nhà văn có những ẩn ức, những suy nghiệm để kể với cuộc đời cũng cho thấy trách nhiệm của người cầm bút mà nhà văn tự nguyện gánh vác.

Như chúng ta đã biết, văn học phản ánh cuộc sống. Đối tượng của văn học là con người, dĩ nhiên có nói đến sự vật, cảnh vật đi nữa thì để đề cập đến con người.

Vì vậy trước hết nói về thế giới nhân vật trong truyện ngắn và ký của nhà văn, không ai xa lạ mà là những người gần gũi thân quen với tác giả. Đó là người thân, bạn bè và cả chính người trong cuộc hay những người nhà văn có duyên gặp gỡ trong đời: những người nghèo, trí thức nghèo như nhà giáo trong giai đoạn hậu chiến, hay hiện tại, những mảnh đời lao động chân chất như thợ đào vàng, người bán vé số. Bằng cả trái tim của người cầm bút, anh quan tâm nhiều phận đời, cả những số phận gặp nhiều thua thiệt đã và đang vật vã mưu sinh trong bộn bề cuôc sống. Anh đau đáu với từng số phận con người kém may mắn. Rung cảm trước hiện thực cuộc sống và bằng tấm lòng yêu thương con người là chất liệu để anh hình thành nên tác phẩm văn học. Vì vậy khám phá nội dung từng câu chuyện, chúng ta thấy được bóng dáng của tác giả lúc ẩn, lúc hiện trong trong tác phẩm. Dòng đời ghi dấu ở tuổi ấu thơ, tuổi trưởng thành đầy ước mơ hoài bão hay khi vào đời, sau chiến tranh, thời bình. Những khó khăn phải vượt qua, những hoài niệm ngược về quá vãng chưa xa. Dưới ngòi bút của anh, các nhân vật hiện ra rất quen, gần gũi, chân chất tưởng như chúng ta đã gặp họ ở đâu đó. Nhân vật trong truyện ngắn của Phạm Ngọc Dũ có thể là nguyên mẫu ngoài đời hay hư cấu hoàn toàn hay hư cấu phần nào. Đôi khi cũng có thể là cái bóng của tác giả. Các số phận con người đó có dẫu vất vả nhưng vẫn suy nghĩ tích cực, ánh lên nét lạc quan có khát vọng sống. Đó chính là điểm sáng mà nhà văn hướng đến những điều tốt đẹp cho nhân vật của mình.

Tác phẩm còn khắc họa rõ nét tình đời, tình người cao cả.

Truyện Thầy Giáo Làng, Tình thầy Nghĩa Trò là câu chuyện được thức dậy từ ký ức. Ở đó hình ảnh người thầy hiện ra thật cao quý. Thầy dạy trò những bài học tri thức khi thời cuộc biến thiên, trò gặp trắc trở khi đang chán nản và tuyệt vọng may mắn gặp lại thầy gặp thầy như gặp vị cứu tinh. Thầy động viên và khuyên nhủ: “…với tuổi các em được học tập là điều hạnh phúc nhất, thầy biết em là cậu học trò chăm, rất nổ lực trong học tập, thế nên em hãy gắng thêm tý nữa… đừng thấy khó mà mau chân lui, ta cứ tiến trên đường dù còn …quá nhiều lực cản”. Bằng kiến thức và kinh nghiệm thầy đã đưa ra những lời khuyên thật chí lý, từ đó trò như có được cái phao, như liều thuốc bổ, tăng thêm nghị lực cho trò, mở hướng đi cho trò và trò đã thành công. Kính trọng thầy, biết ơn thầy, sau bao năm bôn ba mưu sing nơi đất khách, trò trở về mong gặp thầy nhưng thầy đã đi xa để lại cho trò nỗi ngậm ngùi, thương tiếc không nguôi.

Hình bóng các bậc tiền nhân trong gia đình anh với thú vui tao nhã uống trà qua câu chuyện: Ấm trà đêm giao thừa, người đọc thấy được một nếp nhà với vẻ đẹp có truyền thống văn hóa. Ý nghĩa của việc thưởng thức trà vừa là nghệ thuật thưởng ngoạn trong đó không khí ấm cúng của các thế hệ trong gia đnh, có niềm vui, niềm hạnh phúc của gia đình có truyền thống nho nhã, thuận hòa, nề nếp. Bóng dáng tác giả thuở ấu thơ chăm ngoan học hành, ngộ nghĩnh, dễ thương qua các câu chuyện: Làm báo tường, Ba thằng bạn.

Tình yêu thiên nhiên thể hiện trong truyện Trăng Xuân (trang 7-130). Ở đó có vẻ đẹp của ánh trăng nơi quê nhà mà đôi khi bôn ba cuộc sống chốn thị thành, ánh trăng tạm ngủ yên trong tiềm thức, khi có dịp hạnh ngộ quê nhà với bạn bè, được ngắm ánh trăng thanh nơi thôn dã là một thú vui tao nhã, không dễ gì có được nơi đô thị phồn hoa. Truyện bức tranh treo trên tường đề cập đến giá trị của nghệ thuật hội họa, lồng vào đó là một chuyện tình, dẫu rằng không đi đến đâu, nhưng người được tặng bức tranh tự nguyện tôn thờ một tình yêu vô vọng, mặc tuổi xuân đi qua. ở đó toát lên được tình yêu nghệ thuật không có gì so sánh nổi. Câu chuyện để lại chút tiếc nuối, nhưng cũng như cuộc đời, hạnh phúc có bao giờ trọn vẹn. Truyện Khai trường em không còn đi học, nụ hôn của Ngỗng, Vàng Máu. Anh đau đáu với những phận nghèo, số phận người lao động trong dịch covid 19, vất vả điêu linh, số phận em học trò con người mẹ nghèo bán vé số không đủ tiền để tiếp tục gieo giấc mơ chữ nghĩa. Truyện Nụ hôn của Ngỗng càng ray rứt khi những số phận quá nghèo đau ốm không đủ tiền thang thuốc, cuối cùng đành bán đi con Ngỗng, người đọc quặn thắt lòng trước cảnh cảnh chia biệt của vợ chồng Ngỗng. Loài vật cũng biết đau xót chia lìa, chạm mỏ nhau hôn nụ hôn từ biệt. Thật cảm động.

Truyện Vàng máu đề cập đến nỗi vất vả, cay nghiệt của số phận người thợ đào vàng. Đúng là vàng đặt bên cạnh máu, vàng phải đổi bằng máu, bởi hoàn cảnh lao động khắc nghiệt quá: Môi trường lao động không an toàn, tai nạn sập hầm chết người tang thương, thiếu thốn không manh chiếu bó thây, nhờ chiếc áo còn lại của ba người thợ tiễn anh thợ nghèo về nơi chín suối mà không khỏi day dứt thương tâm cho cả số phận của mình.

Truyện Niềm mơ cái ghế bằng nghệ thuật nhân hóa, anh kể về tâm sự của một cái ghế (lồng vào đó lên án nạn phá rừng lấy gỗ, làm hại môi trường tự nhiên). Truyện này yếu tố mang tính thế sự anh lại chuyển góc nhìn đến tầng lớp khác, nhưng người đang có nhiệm vụ chăn dân tại một địa phương, với những tính toán tham nhũng đang làm nghèo đi xã hội. Tuy nhiên anh vẫn gửi gắm một ước mơ, có những bậc thanh liêm, yêu dân như con sẽ xây dựng quê hương ngày càng phát triển phồn thịnh hơn!

Những bài ký là những bài anh viết về các chuyến đi thiện nguyện, những tấm lòng thiện lương của những người bạn giàu nhân đức, có tâm hồn đẹp, sống hết mình với tình yêu và lòng bao dung. Rồi những chuyến tham quan các di tích lịch sử. Ở đó có tình người, có vẻ đẹp của cảnh vật thiên nhiên, niềm tự hào bởi những chứng tích, di tích môt thời hào hùng của tiền nhân để lại trên các chuyến đi điền dã ra các tỉnh miền Trung, miền Bắc,…những nơi anh có dịp đặt chân đến với đồng nghiệp, với bạn hữu,…đều để lại dấu ấn trong các bài ký.

Giọng văn chân chất, bình dị gần gũi với lời nói hàng ngày. Có những từ tưng tửng, hóm hỉnh như câu đùa vui trong cuộc sống thường nhật.

Truyện ngắn của Phạm Ngọc Dũ phản ánh một góc nhìn chân thực về cuộc sống. Nhờ những trải nghiệm của cuộc đời nhà văn và cảm quan tinh tế nhân văn anh đã kể về những số phận con người. Từ tấm lòng yêu thương, nhân ái anh viết về họ một cách rất đời, rất thực như thế! Phạm Ngọc Dũ miêu tả nhân vật với tư cách người ngoài cuộc hay nhập vai như kể chuyện mình. Dù nhân vật nguyên mẫu hay có phần hư cấu cũng từ hiện thực mà đi vào trang viết. Làm cho người đọc cảm thấy nhân vật rất thật, rất quen như đã gặp ở đâu đó ngoài đời!

Tập truyện ngắn cho chúng ta thấy nhà văn đi ra từ phía cuộc đời không ít thăng trầm. Từ đó hiện thực cuộc sống được tái hiện trên những câu chuyện. Đó là những ẩn ức, những suy nghiệm và cảm thức thẫm mỹ của nhà văn.

Trong tác phẩm mỗi nhân vật ít nhiều có bóng dáng tác giả, ở một mặt nào đó hay mỗi nhân vật anh gửi gắm vài đặc điểm hình thức hay tính cách. Hình bóng tác giả- chủ thể sáng tạo trong tác phẩm, độc giả thấy một Phạm Ngọc Dũ hiện ra phong trần và lãng tữ. Anh đi qua những biến động của lịch sử như một nhân chứng dâu bể, tang điền qua ngòi bút chân thực và lãng mạn và nhân ái, bao dung, có trách nhiệm với cuộc đời.

Nhà văn kể những câu chuyện nhẹ nhàng theo cách của anh, là loại truyện mang tính trữ tình có lồng vào tự sự. Kết cấu truyện giản dị, ít gay cấn hay cao trào nhưng để lại không ít trăn trở, suy nghiệm. Phạm Ngọc Dũ không xây dựng tình tiết xung đột, không có mâu thuẩn đỉnh điểm, không tạo ra nhiều kịch tính thắt nút,…mở nút gì ráo. Anh cứ bình nhiên dẫn dắt người đọc theo dõi trình tự câu chuyện .Và dĩ nhiên tâm lý con người vui có, buồn có, lo lắng, trăn trở, sống cuộc sống đời thường trong nhiều hoàn cảnh. Hoàn cảnh biến thiên, vật đổi sao dời -con người cũng trôi nổi thăng trầm nhưng có sức sống để thích nghi. Đôi khi đang trôi theo dòng cảm xúc, anh đột ngột kết thúc truyện một cách chưng hửng để lại nỗi nỗi tiếc nuối cho người đọc. Có lẽ đó anh để phần còn lại cho độc giả tùy nghi diễn giải theo trí tưởng tượng của mình.

Tư tưởng của nhà văn, thông qua ngôn từ nhà văn diễn đạt: Độc thoại, đối thoại, nhân vật,…những gì thể hiện trên trang viết, nhà văn cho nhân vật nói tiếng nói của mình, để người đọc suy ngẫm bằng trực giác và sự đồng cảm của con tim. Lối kể chuyện nhẹ nhàng như câu chuyện đời thường ngày giản dị bên mâm cơm, tách trà hay ly cà phê nhưng cũng đọng lại nỗi ưu thời, mẫn thế, nhiều suy ngẫm trong tâm tư người đọc, để rồi cảm thương và soi chiếu lại lòng mình và muốn làm gì đó để góp phần cho cuộc sống đẹp hơn, ý nghĩa hơn!

Cuối cùng, sau khi đọc truyện và ký của nhà văn Phạm Ngọc Dũ thì tôi nghĩ rằng: Đây là những dòng tâm sự, gửi gắm tâm huyết của anh với bạn đọc, với cuộc đời mang trách nhiệm của người cầm bút.

Cuối cùng với tư cách độc giả, chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà văn Phạm Ngọc Dũ đã quan sát cuộc sống, quan tâm thân phận con người, trăn trở, suy nghiệm và với niềm yêu thích lao động nghệ thuật, anh đã dùng ngòi bút chân thực và nhân văn để cho ra đời tập truyện: Gió Bên Triên Sông Vẫn Thổi đến với bạn đọc. Tuy nhiên góc nhìn và cách diễn tả mỗi người mỗi khác, và dĩ nhiên cách tiếp nhận của công chúng văn học đối với tác phẩm cũng khác nhau, tùy vào sở thích và tư duy thẫm mỹ của mỗi người. Mời bạn đọc khám phá tác phẩm để có cảm nhận của riêng mình! Và chúng ta cũng có quyền chờ đợi những tác phẩm mới của anh trong thời gian tới!

Sài Gòn ngày 11/23/2023

H.T.B.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm