TIN TỨC

Việt Bắc - Suối nguồn thi ca

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-10-15 00:32:43
mail facebook google pos stwis
3316 lượt xem

 Với người Việt Nam, Việt Bắc còn gọi là Tây Bắc, là ngôn từ có âm thanh sâu lắng và ý nghĩa văn hóa vô cùng trọng đại. Không chỉ là biểu tượng của thủ đô kháng chiến thời chống Pháp mà còn là mạch nguồn cảm xúc của nghệ thuật, thi ca trong mấy mươi năm chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc đầy gian nan máu lửa mà oanh liệt hào hùng. Chính nỗi đau thương mất mát trong đấu tranh và niềm tự hào về thành tựu chiến thắng vẻ vang đã tạo nên nguồn cảm hứng cho lãnh tụ và văn nghệ sĩ. Những tác phẩm: Cánh rừng Việt Bắc (Hồ Chí Minh), Việt Bắc (Tố Hữu), Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên), Cô gái Hưng Yên đi mở mang Tây Bắc (Huy Cận), Truyện Tây Bắc (Tô Hoài)… và họa phẩm của Tô Ngọc Vân, được khơi dòng sáng tạo từ vùng đất lịch sử nơi đỉnh đầu tổ quốc.

Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc

Hùng vĩ ngự trị cả một vùng sông núi hiểm trở bao la phía Bắc Hà Nội, Việt Bắc nằm liền kề hữu cơ sáu tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Nơi đây còn hằn in rõ nét dấu ấn lịch sử chói lọi của nhiều chiến công lừng lẫy trong thời kỳ kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp của quân dân ta.

Việt Bắc được gọi là Thủ đô kháng chiến, hay Thủ đô gió ngàn, nơi trú đóng đầu não của chính phủ cách mạng Việt Minh trước cuộc khởi nghĩa năm 1945 trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp. Trong giai đoạn lịch sử đặc biệt, Bác Hồ và các cơ quan Chính phủ tại Việt Bắc đã chỉ đạo bước đi của cách mạng. Trong những tháng năm ở Việt Bắc, Bác luôn giữ bí mật

để bảo toàn lực lượng. Luôn di chuyển để kẻ thù không thể chủ động đánh được ta. Ngay cả tên những Thư ký của Bác cũng gọi một cách bí mật. Tám Thư ký của Bác được đặt tên một cách ý nghĩa như một phương châm chiến đấu là: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi. Ở đây, Bác có bài thơ được coi là quan điểm để Bác hành động: “Trên có núi, dưới có sông/ Có đất ta trồng có bãi ta chơi/ Gần đường tới Trung ương/ Tiện đường sang Bộ, Tổng/ Nhà kín mái thoáng mát/ Gần dân không gần đường”. Câu sau cùng là cả một triết lý: “Gần dân chính là sức mạnh của cách mạng”. Không gần đường để tránh sự lùng sục của địch. Nơi đây, Bác phong Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp (mới 37 tuổi), đồng thời cùng Trung ương quyết định tấn công Điện Biên Phủ 1954. Ta nhớ lại người chiến sĩ trẻ mới 20 tuổi Hoàng Đăng Vinh cùng 5 người khác vào bắt tướng De Castries đầu hàng tại Điện Biên Phủ… Trước đó, Việt Bắc cũng là nơi ghi dấu sự kiện Bác Hồ tiễn cụ Bùi Bằng Đoàn đang giữ chức Trưởng ban Thanh tra Đặc biệt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trưởng ban Thường trực Quốc hội Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về xuôi để dưỡng bệnh mà Bác không cho cụ từ chức, sau đó có tặng cụ bài thơ tứ tuyệt: “Xem sách, chim rừng vào cửa đậu/ Phê văn, hoa núi ghé nghiên soi/ Tin vui thắng trận dồn chân ngựa/ Nhớ cụ, thơ xuân tặng một bài”. Bài thơ cô đọng chỉ trong 4 câu mà nói lên được cả tâm hồn lớn của Bác với người bạn đồng chí và tinh thần lạc quan cách mạng của nhà lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc.

Việt Bắc cũng là nơi hội Văn hóa cứu quốc, các văn nghệ sĩ, những trí thức lớn đi theo cách mạng đã quây quần xung quanh Bác. Cảm động nhất là phiên họp Chính phủ, Quốc hội, cũng có dinh Chủ tịch, dù chỉ là túp lều được làm bằng tre và nứa. Cũng họp Hội đồng Chính phủ Quốc hội, vừa họp vừa nhóm lửa, nướng khoai, sắn để ăn; uống nước chè tươi từ núi rừng Việt Bắc: “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay/ Vượn hót chim kêu suốt cả ngày/ Khách đến thì mời ngô nếp nướng/ Săn về thường chén thịt rừng quay/ Non xanh nước biếc tha hồ dạo/ Rượu ngọt chè tươi mặc sức say/ Kháng chiến thành công ta trở lại/ Trăng xưa hạc cũ với xuân này” (Cảnh rừng Việt Bắc).

Bên cạnh nhà thơ – chủ tịch Hồ Chí Minh, những văn nghệ sĩ cách mạng cũng lấy Việt Bắc làm nguồn cảm hứng để sáng tác.

Tố Hữu, ngọn cờ đầu của thi ca kháng chiến suốt cả hai mùa đấu tranh chống Pháp và Mỹ đã để lại cho kho tàng văn học nước nhà nhiều tác phẩm bất hủ viết về Việt Bắc. Trường ca “Việt Bắc” viết theo thể thơ lục bát truyền thống, là những giai điệu  xuất sắc mang hơi hướng thơ ca dân gian qua lời tiễn đưa của kẻ ở lại núi rừng và cán bộ, chiến sĩ rời chiến khu về thủ đô: –“Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng/ Mình về mình có nhớ không/ Nhìn cây nhớ núi, nhìn sống nhớ nguồn”//- “Ta về, mình có nhớ ta/ Ta về ta nhớ những hoa cùng người” làm tái hiện lại những kỷ niệm cách mạng đầm ấm và cuộc sống kháng chiến gian khổ mà vui vầy. Tác giả đồng thời cũng gợi lên viễn cảnh sáng tươi của đất nước và ca ngợi công ơn của Đảng và Bác Hồ với dân tộc: “Lòng ta ơn Đảng đời đời/ Ngược xuôi đôi mặt một lời song song”. Xúc cảm về Việt Bắc cũng là nỗi nhớ của người dân địa phương về Bác Hồ: “Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời/ Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường/ Nhớ người những sánh tinh sương/ Ung dung yên ngựa trên đường suối reo/ Nhớ chân người bước lên đèo/ Người đi rừng núi trông theo bóng người”.

Cảm xúc lớn từ rừng núi Chiến khu Việt Bắc trước tiên hẵn đã bắt nguồn từ chiến thắng Thu – Đông (7/10/1947 – 22/10/1947)  được kể lại qua câu giữa chuyện thắm thiết tình đồng chí yêu thương giữa anh bộ đội và người cán bộ: “Anh là vệ quốc quân/ Tôi là người cán bộ/ Hai đứa mỏi nhừ chân/ Nghỉ ngơi ngồi một chỗ//Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ/ Anh vệ quân quân ơi/ Sao mà yêu anh thế” (Cá nước), là tiếng hát lạc quan trong gian khổ: “Rét Thái Nguyên, rét về Yên Thế/ Gió qua rừng đèo Khế gió sang/ Em là con gái Bắc Giang/ Rét thì mặc rét, việc làng em lo…” (Phá đường). Cảm xúc nồng ấm từ Việt Bắc là giọng hò kéo pháo (Voi), là nỗi lòng của bà mẹ đau đáu nhớ con đi đánh giặc cũng như anh bộ đội nhớ mẹ ở làng quê (Bầm ơi, Bà ủ),là âm vang rầm rập những bước chân của người chiến sĩ lên Tây Bắc trong tư thế chàng dũng sĩ Hercules *: “Núi không đè nổi vai vươn tới/ Là ngụy trang reo với gió đèo” (Lên Tây Bắc). Đó cũng là cảm xúc tỏa ra nguồn “Sáng tháng Năm” từ căn nhà đơn sơ của Bác, là niềm hân hoan và tự hào trước chiến công lẫy lừng Điện Biên Phủ (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên), là niềm vui chiến thắng và hòa bình cùng nhịp sống rộn rịp của cả nước (Ta đi tới). Và cũng từ chiến khu kháng chiến này, cảm xúc ngập tràn về nỗi nhớ nhung và lời hẹn ước trước khi người cán bộ và chiến sĩ giã từ thủ đô gió ngàn Việt Bắc.

 Đoạn thơ hay nhất trong trường ca bất hủ kết tinh từ cảm xúc nồng nàn của Tố Hữu là đoạn thơ tác giả vẽ lên bức tranh Tứ bình về cảnh núi rừng Việt Bắc, đẹp hài hòa giữa thiên nhiên diễm lệ và con người tràn đầy sức sống trong cả bốn mùa. Giữa bức tranh có hơi thở nồng ấm của con người Việt Bắc đang hoạt động trong kháng chiến: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”, câu thơ hay nhất của đoạn thơ (strophe) được ông hoàng thơ tình Xuân Diệu đánh giá là tuyệt bút vì mang màu sắc Việt Bắc. Trong những ngày xuân, nghệ sĩ nhớ: “mơ nở trắng rừng” cũng là nỗi bồi hồi “nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”, câu thơ gợi lên đức cần mẫn, chịu khó của con người cần cù tài hoa đáng nhớ như nhà thơ Nguyễn Đình Thi đã từng ca ngợi: “Tay người như có phép tiên/ Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ”. Cũng từ cảm xúc thi ca nơi suối nguồn Việt Bắc, câu thơ hay khác: “Nhớ cô em gái hái măng một mình” của nhà thơ đã nói lên hình ảnh cô gái Việt Bắc trẻ trung, xinh đẹp đi hái măng một mình giữa rừng mà như chẳng cô đơn vì con người ấy đang làm chủ thiên nhiên và cuộc đời. Câu kết của đoạn thơ nói lên vẻ đẹp tâm hồn con người Việt Bắc: ”Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” đã thể hiện hoài niệm trong sáng dào dạt tính nhân văn của tác giả, thật thấm đẫm tình người.

Thủ đô kháng chiến Việt Bắc còn gây nguồn cảm xúc cho họa sĩ Tô Ngọc Vân (1906-1954) sáng tác nhiều bài thơ bằng màu sắc về Hồ Chủ tịch, về bộ đội và nhà văn Tô Hoài (1920-2014) viết “Truyện Tây Bắc” kể chuyện tình gian nan mà trong sáng giữa cô gái đẹp Mỵ và chàng trai A Phủ cùng là người H’Mông tại Hồng Ngài. Hầu hết những tác phẩm văn học viết về chủ đề Việt Bắc của các nhà thơ Huy Cận (1919-2005) với: Cô gái Hưng Yên đi mở mang Tây Bắc, Chế Lan Viên (1920-1989) với Tiếng hát con tàu cũng lấy cảm hứng từ chiến khu Việt Bắc lịch sử đã có những vần thơ hay, khỏe khoắn về đề tài xây dựng đất nước khi hòa bình được thiết lập trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa đều được đưa vào chương trình văn học các lớp phổ thông. Những chiến tích lịch sử Thu Đông, trận sông Lô, Phố Ràng, Bông Lau, trận Chợ Đồn, Chợ Rã, đèo Bông Lau… cũng được nhắc đến trong bài học lịch sử, văn học nước nhà.

Ngày nay, giữa không gian lồng lộng sáng tươi của một đất nước thanh bình thịnh vượng, mỗi khi có dịp nhắc đến Việt Bắc, ta không tránh khỏi cảm thấy bồi hồi hoài niệm, trong lòng lâng lâng tràn ngập một niềm tự hào về thủ đô kháng chiến, một thủ đô gió ngàn hùng vĩ, liệt oanh còn rạng rỡ hình ảnh vĩ đại cao quý của Hồ Chủ tịch, cùng các tướng lĩnh, của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và nghệ sĩ yêu nước trong thời đấu tranh chống Pháp. Cùng với nhân dân, bằng cảm xúc nồng cháy tự trái tim mình, nghệ sĩ – nhà thơ nhà văn đã đan kết với chiến khu lịch sử Việt Bắc năm xưa với một ân tình chung thủy gắn bó keo sơn – Tình Việt Bắc.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                        

                                                              Nguyễn Thanh

* Hercules: Anh hùng có sức mạnh vạn năng trong  thần thoại Ma Lã

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm