TIN TỨC

Bùi Phan Thảo khắc họa niềm tin trên dặm đường đất nước

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-02-13 12:36:42
mail facebook google pos stwis
1050 lượt xem

NGUYỄN VŨ QUỲNH

Đọc tập bút ký "Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân" của nhà thơ Bùi Phan Thảo, tôi như được trở lại những ngày sống và chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên năm xưa. Được trở lại với Trường Sa nơi đầu sóng ngọn gió hôm nao và đến thăm biên cương Tây Bắc nơi phên dậu của tổ quốc hôm nay mà thấm thía nghĩa tình.

Văng vẳng đâu đây bài hát “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng” của nhạc sĩ Trọng Loan như đưa tôi về thấm đẫm thời mưa đỏ. “Mảnh đất thân thương hiền lành giản dị/ Vẫn thơm tiếng mẹ Quảng Trị quê ta/ Rộn rã nơi đây vang tiếng quân ca/ Đánh giặc kiên cường báo tin mừng thắng trận…hò ớ ơ…ơ hò ớ ơ”… Bùi Phan Thảo như đưa tôi trở lại chiến trường xưa, nơi tôi từng đọ sức với khốc liệt của chiến tranh.  Rồi tôi lại được tới Trường Sa, được nghe bài hát “Gần lắm Trường Sa” của nhạc sĩ Hình Phước Long: “Không xa đâu Trường Sa ơi/ Vẫn gần bên em vì Trường Sa luôn bên anh”như tôi đang ở giữa Trường Sa. Nơi này tôi đã đến và viết bài thơ “Mai em về Trường Sa” mà nhạc sĩ Nguyễn Tất Tùng đã phổ nhạc: “Ở đảo Sinh Tồn khi bình minh lên/ Là nỗi nhớ hòa vào với biển/ Nghe Hương Thầm tiếng hát giữa trùng khơi”. Và lại được ngược lên miền Tây Tiến cùng với “Tình ca Tây Bắc”- nhạc sĩ Bùi Đức Hạnh phỏng thơ Cẩm Giang: “Rừng cây xanh lá muôn đóa hoa mai mừng đón xuân về/ Vui trong  nắng vàng từng đàn bướm trắng bay khắp rừng hoa” vọng về hình ảnh đất nước muôn vàn yêu quý, hòa quyện tình tứ vào nhau như được vui cùng Tây Bắc…

Nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh – tác giả bài viết

Hai mươi bài bút ký về những nẻo đường đất nước, Bùi Phan Thảo đã ký họa lại những kỷ niệm không thể nào quên trên các cuộc hành trình. Trong tập bút ký văn học này, tôi tạm chia thành cung đoạn mà anh đã gói ghém niềm vui: Miền quê anh Quảng Trị, rồi Trường Sa, Tây Bắc, cao nguyên Đà Lạt, miệt Thứ xa xôi hẻo lánh một thời với chuyến tàu đò về Cà Mau; những vùng miền quê khác anh đặt chân đến và thành phố phương Nam, TP HCM sâu nặng nghĩa tình, nơi anh sống gần 50 năm qua – nơi anh dành nhiều trang viết sâu sắc và đầy yêu thương về đất và người thành phố, về những đổi thay diện mạo đô thị cùng cuộc sống cư dân…

Ở đây điểm nhấn đầu tiên là “Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân” cũng là tên của tác phẩm bút ký này. Tôi xin lướt qua những chi tiết đặc biệt để hiểu thêm nhân thân của người con gái Triệu Phong lấy chồng về làng Mai Xá, Gio Linh là bà ngoại cùng chị Giao là dì ruột nhà thơ Bùi Phan Thảo. “Ngoại sinh được 7 người con 4 trai, 3 gái. Dì là con đầu, mẹ tôi thứ hai. Hai cậu đều đi tập kết, cậu út ở lại đi làm du kích và hy sinh. Ông ngoại tôi mất sau một thời gian chính quyền Sài Gòn bắt giam, tra tấn, ngoại cùng các dì và mẹ tôi chèo chống gia đình đi qua những ngày buồn đau”…

Rồi câu chuyện bắt đầu: “Từ một đêm trời tối, những chiến sĩ đặc công tấn công tàu Mỹ ở Cửa Việt. Tàu Mỹ cháy, quân Mỹ điên cuồng truy đuổi. Hai chiến sĩ đặc công men theo bờ sông Thạch Hãn lần vào làng tôi trong bóng đêm. Phát hiện ra hai người khi họ bước vào nhà, rất nhanh chóng biết họ là ai bởi tiếng nổ long trời từ Cửa Việt vọng về đã khiến ngoai và dì hiểu được tất cả. Ngoại cùng dì đã nhanh tay ấn hai người xuống hầm bí mật, bắt đầu những này nuôi giấu cán bộ cách mạng trong vùng địch tạm chiếm”…

“Những lần giặc lùng sục, ngoại và dì khéo léo che giấu căn hầm. Không ai hay nơi đó có hai ông đặc công Việt cộng nằm chờ cơ hội trở về căn cứ ở miền Bắc. Rồi đến một đêm sau khi bắt được liên lạc, men theo bóng tối và dòng nước, hai người trở về căn cứ an toàn. Cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn tiếp diễn, một người trong họ trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, thành cán bộ cấp cao lãnh đạo quân chủng Hải quân sau này”.

Và rồi gần 30 năm sau, một ngày có một chiếc xe con mang biển số quân sự chạy từ thị xã Đông Hà về làng. Trên xe bước xuống một người đàn ông có dáng dấp oai vệ hỏi thăm nhà chị Giao… Ông đứng bên bờ sông, nhắm mắt lại hồi tưởng rồi xăm xăm đi về đúng hướng nhà ngoại. Dì tôi đang làm cỏ trong vườn, ngỡ ngàng nhìn khách. “Chị có nhớ ai không?”. Sau giây phút định thần, dì nói: “Thằng Tình chứ ai”. Dì ơi người ta là tướng, răng dì gọi bằng thằng. Và: “Em đây chị”.

Xin dẫn hai câu này: “Nói thật lòng chắc khi ngoại tôi còn sống (ngoại mất năm 1985) và dì tôi chẳng nghĩ đến chuyện công lao, bởi hai người chẳng nói với ai về điều đó. Sau nay tôi hỏi dì, dì trả lời rất khẽ: “Chiến tranh biết ai mất ai còn, dì chỉ mong cho hai cậu em sống sót trở về đời thường thôi con ạ”. Đó là tấm lòng trung hậu của người phụ nữ là bà ngoại và dì ruột của nhà thơ Bùi Phan Thảo trong chiến tranh và hòa bình.

Bìa tập bút ký “Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân” của nhà thơ Bùi Phan Thảo

Bạn đọc hãy đọc bút ký này để nhớ về một thời “Mưa đỏ” trên quê hương Quảng Trị. Cùng xem dì Giao gặp Phó đô đốc Nguyễn Văn Tình và Quân chủng Hải quân chăm sóc cho dì ra sao? Từ đó càng thấy thêm ý nghĩa bài hát “Quân reo quê mẹ Quảng Trị anh hùng” còn âm vang trong lòng người lính một thời ra trận của chúng tôi, được nhân dân nuôi dưỡng che giấu và bảo vệ giữa sống chết mong manh.

Bây giờ xin mời các bạn: “Đi về phía trái tim mình – Kiên cường vững chãi giữa trùng khơi – Nặng tình Tổ quốc nghĩa đồng bào – Gặp con giữa Trường Sa – Nụ cười trẻ thơ trên đảo Trường Sa”, đó là những ký họa ngôn ngữ, đưa ta đến được Tổ quốc giữa trùng khơi nơi đầu sóng ngọn gió. Nơi ngày đêm đang giáp mặt với nhiều thử thách của tự nhiên và cả những thế lực nhăm nhe tới lãnh hải Trường Sa thiêng liêng của Tổ quốc.

Bùi Phan Thảo đã đưa ta tới  đảo Gạc Ma- Len Đao- Cô Lin nơi sự kiện tháng 3 – 1988, nơi 64 chiến sĩ hải quân đã anh dũng hy sinh giữ biển trời Tổ quốc. Các bạn sẽ được thăm nhà giàn DKI Phúc Tần và đến với các đảo Sinh Tồn- Cô Lin- Núi Le B -Tốc Tan C – Đá Tây B – Trường Sa lớn…. Nơi đây cuộc sống mới trên đảo chìm, đảo nổi đang ngày càng khởi sắc, tươi vui. Trường học cho các cháu, bệnh viện quân dân y, được nghe tiếng chuông chùa trên các đảo vang lên giữa trùng khơi mênh mông xa xôi mà như ở giữa quê nhà. Các bạn sẽ gặp tình quân dân trên đảo, sẽ thấy các chiến sĩ hải quân gửi gắm những nụ hôn thân thương với đất liền qua những chiến sĩ văn công… Trường Sa hôm nay đang bừng lên sức sống mới, đang thay da đổi thịt thấm đẫm tình người khắp mọi miền Tổ quốc, nhất là thành phố mang tên Bác. Quả thực không xa đâu Trường Sa ơi, với bút ký của Bùi Phan Thảo, ta sẽ được gần lắm Trường Sa và nhận diện tình yêu với quân và dân Trường Sa.

Trên muôn dặm hành trình, Bùi Phan Thảo lại đưa ta lên vùng Tây Bắc, nơi đây ta sẽ  được gặp nhà thơ Quang Dũng và đoàn quân Tây Tiến năm xưa, một thời những chàng trai lên đường dấn thân vào cuộc kháng chiến chống Pháp. Bây giờ đất nước thanh bình: “Trên những nẻo đường Tây Bắc màu hoa lau bàng bạc chiều hôm… Mộc Châu hôm nay vẫn màu hoa lau ẩn hiện, mùa Đông sắp qua, mùa xuân sắp về. Mùa xuân xưa, có người lên Tây Tiến cùng câu thơ thảng thốt: “Ai lên Tây Tiến chiều xuân ấy/ Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Xuân nay những người lính: “Tây Tiến người đi không hẹn ước/ Đường lên thăm thẳm một chia phôi” đã trở về trong vô vàn thương nhớ của đồng bào. Đường lên Tây Bắc bây giờ đẹp lắm, khác xưa nhiều lắm bởi nơi đây đã hơn 70 năm hòa bình. Ta sẽ gặp “Rồng bay trên những ngả đường Tây Bắc”, cuộc sống của cư dân ngày càng khá lên, bớt đi những vất vả đeo đẳng một thời.

Tại nhà lưu niệm đoàn quân Tây Tiến, ta sẽ gặp không gian Đại tướng Võ Nguyên Giáp với “Tây Tiến một thời và mãi mãi” giới thiệu hình ảnh và kỷ vật của Trung đoàn Tây Tiến. “Tây Tiến hào hùng và tài hoa”, tái hiện hình ảnh người lính Tây Tiến năm xưa. Rất nhiều những tranh ảnh, hình tượng được tái hiện như: Bức tranh “Nuôi giấu thương binh” của họa sĩ Quang Thọ, chân dung nhạc sĩ Doãn Quang Khải, tác giả ca khúc “Vì nhân dân quên mình”, tượng bán thân của nhà thơ Quang Dũng cùng bài thơ “Tây Tiến”. Ra ngoài không gian nhà lưu niệm chúng ta sẽ được Bùi Phan Thảo khắc họa: “Ngày nay, đất nước thanh bình, cao nguyên Sơn La trải một màu xanh, đời sống nhân dân dân an hòa sung túc. Trên đài cao tôi nhìn về phía Pha Luông, có lẽ nơi xa nào đó đang có cơn mưa ngàn về, làm dịu lòng người Tây Tiến năm xưa, để người hôm nay rưng rưng những câu thơ cồn cào, cháy bỏng, bi hùng. Câu thơ nâng bóng người lính lên cao vời, đẹp hơn tất cả”…

Rời miền Tây Bắc nơi ngút ngàn màu xanh biếc của lá, màu ngói đỏ tươi của những căn nhà mới, những con đường Tây Tiến xưa mở rộng, ta sẽ trở lại với Cần Giờ của thành phố mang tên Bác. Bùi Phan Thảo không phác họa một Cần Giờ tương lai mà khẳng định Cần Giờ đang phát huy lợi thế, là cửa ngõ ra biển Đông, là đô thị biển cùng với tài nguyên quý giá là khu dự trữ sinh quyển được thế giới công nhận,  ngày nay mỗi vùng đất của Cần Giờ chọn lối đi lợi thế riêng để phát triển.

Bùi Phan Thảo lại đưa ta về Côn Đảo, nơi bàn thờ Tổ quốc, mảnh đất anh hùng thiêng liêng, địa ngục trần gian của một thời. “Bước chân lên Côn Đảo hôm nay lòng chúng tôi dậy lên những cảm xúc bồi hồi. Dường như chạm vào đâu cũng nghe thời gian lên tiếng những dấu tích xưa. Nghĩa trang Hàng Dương, cầu tàu 914, nơi chôn vùi tuổi thanh xuân của bao thế hệ người Việt Nam yêu nước”. Để khuya khoắt ta vẳng nghe lời hát “Về đây các anh ơi” và “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”. Côn Đảo linh thiêng bất tử, đang hồi sinh, người về đất thiêng Côn Đảo hãy dọn lòng thanh sạch và nhè nhẹ bước chân…

Tập bút ký này là những áng văn chân thực trên muôn nẻo hành trình của Bùi Phan Thảo đã gieo vào tâm tư tôi những dòng sâu sắc, những trang thấm đượm tình người, dẫn tôi đến những nẻo đường đất nước quả là đẹp, vui và hấp dẫn xôn xao trên những lưng đèo, trên sóng biển… Anh viết về Đà Lạt với nỗi buồn đô thị này bị bê tông hóa, bị ngập lụt, song vẫn đầy ắp cảm nhận tinh tế về cảnh và người Đà Lạt qua câu chữ mềm mại, tâm ý nặng lòng…Anh viết về những người xưa sống và yêu với nghĩa tình trọn vẹn, hoài vọng vườn xưa và những ngày trẻ dại được trở về dưới mái nhà xưa, đêm ngắm trăng thanh, nghe gió vỗ về. Đặc biệt, Bùi Phan Thảo dành nhiều tâm huyết, yêu thương cho Sài Gòn – TP HCM, nơi những con người hào sảng, nghĩa tình, đùm bọc nhau, giúp nhau vươn lên mà sống; nơi hồn phố hồn người váng vất sau từng trang viết và những góc nhìn riêng anh từ sân thượng, từ những màu hoa, từ những ngả đường phố thị…

Mời bạn đọc hãy chiêm nghiệm Bà ngoại, dì tôi và vị tướng Hải quân để thưởng ngoạn đầy đủ 20 tác phẩm bút ký văn học của nhà thơ Bùi Phan Thảo. Đây là món quà dành cho bạn đọc. Cảm ơn nhà thơ Bùi Phan Thảo cho tôi đến với những miền quê tình đất, tình người non nước Việt Nam tươi đẹp nghĩa tình.

Thành phố Hồ Chí Minh, cuối tháng 9.2025

Nguồn: https://vanvn.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm