TIN TỨC

Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-08 13:45:00
mail facebook google pos stwis
1716 lượt xem

Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.

Xu hướng này hình thành từ những thập niên 50 của thế kỉ trước, giúp âm nhạc dân gian vừa bảo tồn vừa phát triển mạnh mẽ, tạo ra những ca khúc có sức sống bền lâu và có diện phủ sóng lớn như Xa khơi, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó (Nguyễn Tài Tuệ); Câu hò bên bến Hiền Lương (Hoàng Hiệp); Chiếc khăn piêu (Doãn Nho); Quảng Bình quê ta ơi (Hoàng Vân); Mẹ yêu con, Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý); Bài ca dâng Bác (Trọng Loan); Em về với người (Thế Nhân); Đợi (Huy Thục); Những cô gái quan họ (Phó Đức Phương); Tiếng đàn bầu (Nguyễn Đình Phúc, thơ Lữ Giang)...

Sau ngày đất nước thống nhất, xu hướng trên càng phát triển mạnh mẽ. Các nhạc sĩ đã đẩy mạnh việc đưa chất liệu dân gian vào những ca khúc tân nhạc và tạo ra nhiều thành tựu. Giờ đây, bên cạnh nhạc thính phòng, nhạc trẻ, dòng nhạc mang âm hưởng dân gian ngày càng khẳng định chắc chắn vị trí trong nền âm nhạc nước nhà, được đông đảo công chúng trong và ngoài nước yêu thích. Có thể kể đến tác ca khúc tiêu biểu như Làng quan họ quê tôi (Nguyễn Trọng Tạo, thơ Nguyễn Phan Hách, 1978); Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm (Trần Hoàn, thơ Đỗ Quý Doãn, 1981); Đất nước lời ru (Văn Thành Nho, thơ Nguyễn Khoa Điềm, 1984); Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ Trương Nam Hương, 1984); Huyền thoại mẹ (Trịnh Công Sơn, 1985); Gửi về quan họ (Đức Miêng, 1985); Sao em nỡ vội lấy chồng (Trần Tiến, 1990); Ca dao em và tôi (An Thuyên, 1993); Lời ru (Lê Minh, những năm 90 của thế kỷ XX); Bài ca đất phương Nam (Lư Nhất Vũ, thơ Lê Giang, 1997); Chảy đi sông ơi (Phó Đức Phương, 1997); Tình đất (Tuấn Phương, 1998); Người ơi hãy về (Tuấn Phương, 2000); Quê em mùa nước lũ (Tiến Luân, 2000); Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo, 2002); Khách đến chơi nhà (Lê Minh, 2005); Bà tôi (Nguyễn Vĩnh Tiến, 2005); À í a (Lê Minh Sơn, 2005); Tìm em câu ví sông Lam (A Páo, 2019), Tìm về (Tiến Minh, 2025); Phù Đổng Thiên Vương (Hồ Hoài Anh, 2025)...

Trên thực tế, ca dao, tục ngữ được các nhạc sĩ sử dụng với tần số lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Điều này xuất phát từ thành tựu về ngôn ngữ của văn học dân gian chủ yếu tập trung ở mảng thơ ca. Mặt khác, tục ngữ cô đọng hàm súc và giàu triết lí, còn ca dao là tiếng hát trái tim của người lao động, rất giàu chất trữ tình và có nhạc tính cao. Ca dao chính là những bài hát không có nhạc đệm, người xưa ngẫu hứng hát lên khi tức cảnh sinh tình. Sau đó nhờ những người lao động có tâm hồn nghệ sĩ dày công trau chuốt, uốn nắn mà mỗi miền quê lại có những khúc dân ca sâu lắng, ngọt ngào, mang màu sắc riêng. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhạc và thơ đã nâng cánh cho những câu ca dao đẹp bay xa hơn, đi sâu hơn vào những vùng khuất lấp trong trái tim và trở thành những câu thơ trong trí nhớ con người.

Là văn hóa nội sinh, văn hóa bản địa, văn hóa dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng luôn là nơi lưu giữ nhiều nhất những mã, những cốt văn hóa truyền thống, thể hiện rõ nét bản sắc độc đáo của dân tộc Việt. Do vậy để đổi mới và nâng cao tính dân tộc, các nhạc sĩ đã cố gắng vận dụng linh hoạt, sáng tạo những chất liệu dân gian (đặc biệt những giá trị tinh hoa) vào trong các ca khúc của mình.

Dễ nhận thấy nhất là việc dùng âm nhạc phương Tây để biến những bài đồng dao thành những ca khúc thiếu nhi. Đồng dao chính là thể loại văn học, dân gian dành riêng cho trẻ nhỏ, có ngôn từ mộc mạc, giai điệu đơn sơ, không có những quãng cách xa, không có những âm vực rộng, dễ hát, dễ thuộc, được trẻ thơ yêu thích vì cách cảm, cách nghĩ phù hợp với lối tư duy, phô diễn của các em. Những năm 90 của thế kỉ XX, nhạc sĩ Phạm Tuyên là người vận dụng đồng dao để sáng tác văn học cho thiếu nhi thành công nhất. Vị nhạc sĩ gạo cội của làng âm nhạc Việt Nam đã có hàng loạt bài hát được các em yêu thích như Bà còng đi chợ, Cái cò đi đón cơn mưa, Con chim chích chòe, Gánh gánh gồng gồng, Rềnh rềnh ràng ràng...

Dĩ nhiên, để sáng tác ca khúc cho các lứa tuổi khác, việc tiếp nhận tinh hoa của văn học dân gian đòi hỏi tinh tế hơn, sao cho những mã nghệ thuật dân gian mang hồn cốt Việt phải hóa thân, phải hòa tan một cách nhuần nhụy vào ca từ, giai điệu của từng câu hát.

Trên thực tế, những ca khúc trữ tình của dòng nhạc dân gian có thể được hình thành trên cơ sở một ý tưởng trong thành ngữ dân gian (Gà trống nuôi con - Lê Minh Sơn, Kẻ cắp bà già - Hoàng Thùy Linh); một biểu tượng (Trầu cau - Phan Huỳnh Điểu, Con cò - Lưu Hà An); một gợi ý từ nhân vật trong các câu chuyện cổ (Cô Tấm ngày nay - Ngọc Châu, Giọt đàn Thạch Sanh - Tuấn Khanh); từ một làn điệu dân ca (Câu giã bạn - Trọng Loan, Khách đến chơi nhà - Lê Minh); một câu tục ngữ, hay một điển tích dân gian (Chú Cuội chơi trăng - An Thuyên, Vầng trăng cổ tích - Phạm Đăng Khương; điển tích vọng phu trong Người đàn bà hóa đá - Trần Lập, trong Vọng phu của Lê Minh, thơ Việt Dũng)...

Những nhà soạn nhạc cũng có thể khéo léo cắt dán chất liệu dân gian để đưa vào một vị trí nào đó như tên bài hát, mở đầu, ở giữa hay kết thúc ca khúc. Qua khảo sát chúng tôi thấy, dân ca quan họ và hát ru được sử dụng nhiều nhất và đạt hiệu quả thẩm mĩ lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Đặc biệt là hát ru, thể loại đã góp phần sinh thành một dòng chảy sâu lắng mãi mãi lưu dấu thời gian. Trước 1975 có Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý), Lời ru trên nương (Trần Hoàn, thơ Nguyễn Khoa Điềm), Địu con đi nhà trẻ (Đào Ngọc Dung)... Sau 1975 là Lời mẹ ru (Trịnh Công Sơn), Câu hát mẹ ru (Phạm Tuyên), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Hát ru người mẹ lính (An Thuyên), Lời ru Âu Lạc (Nguyễn Minh Sơn), Tìm về lời ru (Đào Đăng Hoàn)... Chưa kể còn biết bao mảnh vỡ từ lời ru của mẹ đã lặn sâu vào từng con chữ tạo nên trong lòng người những nỗi niềm giăng mắc khôn nguôi. Bởi đó là khúc hát của tình mẫu tử, là dòng sữa mẹ thứ hai nuôi dưỡng tâm hồn bé thơ khôn lớn nên người, là sợi dây thiêng liêng gắn kết mỗi chúng ta với quê hương xứ sở. Xin hãy lắng nghe lời ca của một bài hát ru thời hiện đại:

Ngậm lời ru mẹ ngày xưa

Bà đưa mẹ đến giấc trưa say nồng

Mà nay mẹ bế mẹ bồng

Mẹ ru con cả tấm lòng thương yêu

Lời ru bay bổng cánh diều

Thân cò lặn lội sớm chiều sang sông

Lời ru ai đó ngóng trông

Muốn về quê mẹ mà không có đò...

(Lời ru, nhạc Lê Minh, lời Hoàng Hạnh)

Trên cái nền hát ru mênh mang, sâu lắng, da diết buồn là tình mẫu tử thiêng liêng, là hình ảnh thân cò lặn lội, là cánh diều tuổi thơ, là nỗi niềm của người con gái lấy chồng xa nhớ mẹ, là nghĩa tình chồng vợ thủy chung, là hình ảnh dòng sông bến nước con đò... Tất cả những trầm tích văn hóa từ một chuỗi bài ca dao đồng loạt phát sáng tạo hiệu ứng lớn bất ngờ đã nối kết trái tim bao thế hệ...

Có cả một hệ thống những ca khúc dân gian đương đại đạt chất lượng cao được hình thành trên cơ sở việc chiết xuất tinh hoa văn hóa quan họ nói chung và dân ca quan họ nói riêng mà một trong những nhạc phẩm xuất sắc nhất là Làng quan họ quê tôi của Nguyễn Trọng Tạo (thơ Nguyễn Phan Hách). Trong phút giây thăng hoa, phiêu bồng, người nghệ sĩ tinh tế và đa tài đã khéo léo đưa được những giá trị tinh hoa mang hồn vía Kinh Bắc vào bài hát, nhờ thế mà có được một giai phẩm tuyệt vời thấm đẫm hồn làng, hồn đất, khiến bao kẻ tha hương nghe xong rưng rưng, nhất tâm những muốn tìm về: Làng quan họ quê tôi/ Tháng Giêng mùa hát bội/ Những đêm trăng hát gọi/ Con sông Cầu làng bao xanh/ Ngang lưng làng quan họ xanh xanh/ Làng quan họ quê tôi, những chiều bao thương nhớ/ Tiếng ca đầu ngọn gió, nón quai thao nói gì người ơi/ Nón quai thao như nói nói gì người ơi!…

Sau 1975, tác giả An Thuyên có một loạt tác phẩm xuất sắc nhờ tựa trên những chất liệu dân gian: Ca dao em và tôi, Em chọn lối này, Cầu thang chín bậc, Neo đậu bến quê… Lê Minh có Khách đến chơi nhà, Về hội Lim, Lời ru (thơ Minh Hạnh). Đức Miêng có Gửi về quan họ, Trầu cau quan họ, Chiếc nón ba tầm; Trần Tiến có Ngẫu hứng giao duyên, Trung Đức với Nhớ về hội Lim; Nguyễn Chung với Tìm em trong chiều hội Lim, Minh Dương với Quan họ anh về (thơ Nguyễn Thiện)… Hóa thân vào những khúc hát đương đại, các chất liệu dân gian đồng loạt phát sáng tạo nên những giá trị mới làm cho người nghe vừa thêm yêu mến quê hương, đất nước vừa được nâng cao nhạc cảm.

Tiêu biểu là Khách đến chơi nhà - nhạc Lê Minh, lời Đỗ Việt Dũng. Nương vào bài quan họ cổ cùng tên, Khách đến chơi nhà cuốn hút công chúng, có diện phủ sóng rất rộng chính là nhờ sự tích hợp khéo léo cả một hệ thống chất liệu dân gian đắt giá: một không gian quan họ, một không khí quan họ, một cảnh sắc quan họ... và một bầu khí quyển nên thơ của canh hát quan họ với lề lối mời nước, mời trầu, với những làn điệu đã trở thành kinh điển: Khách đến chơi nhà, Người ở đừng về, Ra ngõ mà trông, Qua cầu gió bay... Cùng bao nhiêu giá trị văn hóa đặc sắc vùng Kinh Bắc, mà rộng hơn là cả một vùng văn hóa Bắc Bộ: lòng hiếu khách, cách nói phong tình, buông lơi, tình tứ: rỗi hơi ai lại phải lòng, người dưng nhớ người dưng... Rồi lối ăn mặc nền nã của người gái ngoan quan họ: váy chùng cửa võng, áo tứ thân, khăn mỏ quạ và ánh mắt đắm đuối thả thương thả nhớ tưởng vô tình mà rất đỗi hữu tình: Khách đến chơi nhà rằng mấy khi khách đến chơi nhà/ Giót lời hát xuống chén trà mời nhau/ Để anh say một miếng trầu dẫu rằng vẫn biết qua cầu gió bay/ Giá em đừng hát hay, giá em đừng nền nã/ Đừng áo tứ thân, đừng khăn mỏ quạ/ Đừng nói câu người ơi người ở đừng về? Trót buông ánh mắt ngập ngừng để người dưng nhớ người dưng thế này/ Giá miếng trầu đừng cay/ Giá chén trà đừng chát/ Giá người ngoan đừng hát/ Thì dỗi hơi ai lại phải lòng để bây giờ ra ngõ ấy mấy trông ra ngõ mà trông…

Để viết về làng quê Việt thì không gì tối ưu bằng sử dụng chất liệu dân gian. Điều đó cắt nghĩa vì sao nhiều tác giả thời kì Đổi mới như Trần Tiến, An Thuyên, Lê Minh, Lê Minh Sơn, Nguyễn Vĩnh Tiến... đã rất thành công. Theo Trần Tiến, nhiều bài hát của ông như Sao em nỡ vội lấy chồng, Thượng đế buồn được làm theo “đơn đặt hàng” nhưng nhờ biết tựa vào văn hóa truyền thống nên chúng không chỉ chiếm được tình cảm của đông đảo khán giả mà còn có sức sống rất bền lâu.

Nếu Sao em nỡ vội lấy chồng được hoài thai nhờ gợi ý từ câu ca dao Nam Bộ: Bướm vàng đậu trái mù u/ Lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn thì Thượng đế buồn lại được ra đời nhờ ánh sáng toát ra từ câu tục ngữ Trời sinh voi, trời sinh cỏ, mà người nghệ sĩ tài hoa thời đại hội nhập đã có được bằng con đường phản tiếp nhận. Chất liệu dân gian như những viên quặng quý đã được những người nghệ sĩ cao tay tôi luyện, biến thành những thỏi vàng ròng. Còn Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ Trương Nam Hương, 1984) mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Với lối hát nhẹ nhàng, mộc mạc, thủ thỉ như lời kể chuyện gợi nhớ những khúc hò ru, hò đưa em hoặc dân ca ngũ cung... gợi về tình yêu quê hương, gợi về nỗi nhớ tuổi thơ bên dòng sông quê hương êm đềm. Mà không hình thức nghệ thuật nào có sức lan tỏa lớn như âm nhạc. Nhờ thế, những bài hát Việt giàu chất dân gian, giàu chất nhân văn có thể bay cao, bay xa, giúp công chúng hiểu biết thêm về cái hay, cái đẹp và thắp lên trong họ niềm tự hào về nền văn hóa dân tộc Việt ngàn đời.

Tìm em câu ví sông Lam của A Páo là một bài hát trữ tình sâu lắng, ngọt ngào được khán thính giả yêu thích là nhờ dựa trên những làn điệu dân ca xứ Nghệ. Bài hát gợi nhớ câu ví dặm về mối tình truyền kiếp lỡ làng - một mô típ quen thuộc trong ca dao - dân ca Nghệ Tĩnh thuở nào: Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở/ Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông. Đôi trai gái trong Tìm em câu ví sông Lam cũng trao nhau thương nhớ, cũng thề thốt hẹn hò: Một câu ví anh trao/ Nửa câu ví em thương/ Củ sắn củ khoai mồ hôi chát mặn/ Thương anh rồi nhớ đợi nghe em… Nhưng khi chàng trai trở về thì người ấy đã sang sông lấy chồng, khiến tình duyên đứt gánh, anh ngẩn ngơ một mình lặng lẽ đi tìm câu ví sông Lam, mong thấy lại chút hương xưa…

Bài hát Tìm về mà tác giả Tiến Minh viết (2025) dành cho bộ phim truyền hình đình đám Cha tôi người ở lại lại hay ở một khía cạnh khác. Qua giọng hát ngọt ngào của nghệ sĩ ưu tú Thái Sơn, ca khúc càng trở nên vô cùng cuốn hút. Những câu dân ca (trong đó có hát ru) chứa chan tình mẹ, tình cha, tình người, tình đất, dường như đã đánh thức cả một vùng kí ức xanh trong bao trái tim tưởng đã ngủ quên, khiến những kẻ tha hương thổn thức và khao khát trở về: Theo câu dân ca tìm về/ Để lại thấy bóng quê cha ngồi/ Se gió rơi tiếng sáo diều thảnh thơi/ Hương lúa non mới lên đồng lả lơi/ Theo câu dân ca tìm về/ Theo yêu thương ta tìm về/ Tuổi thơ theo suốt dọc triền đê/ Ngẩn ngơ em hé nụ tình quê/ Ới a tìm về lời ru/ Năm canh trường mẹ ôm giấc ngủ/ À ơi ơi à/ Gió đưa la đà/ Vẫn đi theo những chặng đường con qua/ Bến sông con đò/ Vẫn đây trông chờ/ Nếu thương nhau tìm về bên nhau/ Nhé người.

 

Màn trình diễn "Phù Đổng Thiên Vương" của ca sĩ Đức Phúc tham gia cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision tổ chức ở Liên bang Nga.

 

Gần đây nhất, ngày 20/9/2025, ca sĩ trẻ Đức Phúc vừa giành giải thưởng lớn tại cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision tổ chức ở Liên bang Nga với bài Phù Đổng Thiên Vương. Bài hát được khơi nguồn từ truyền thuyết Thánh Gióng - một trong 3 truyền thuyết đứng đầu kho tàng truyền thuyết Việt Nam và lấy cảm hứng trực tiếp từ bài thơ Tre Việt Nam của nhà thơ Nguyễn Duy.

Hóa thân vào các ca khúc trữ tình đương đại, chất liệu dân gian được tái sinh tạo thêm những giá trị mới đã góp phần nuôi dưỡng và phát triển nền âm nhạc dân tộc theo đúng định hướng tiên tiến và đậm đà bản sắc, giúp cho các bài hát dân ca đương đại ca từ đã đẹp, giai điệu lại mềm như lụa, có thể chạm vào đáy sâu tâm hồn biết bao người...

Như vậy, chính những bài hát đậm đà chất dân gian đã tích cực góp phần nâng cao tính dân tộc cho nền âm nhạc Việt. Nhờ chất dân gian mà tân nhạc - hình thức văn hóa có nguồn gốc phương Tây xa lạ đã được Việt hóa để thật sự trở thành âm nhạc của Việt Nam.

Hướng vận động này một lần nữa khẳng định, muốn đi xa thì phải trở về. Chúng ta chỉ có thể bằng nhân loại khi đi sâu vào tâm hồn của dân tộc mình. Vì thế có thể nói rằng, trở về cội nguồn dân tộc đó chính bí quyết làm nên thành công của dòng âm nhạc dân gian hiện đại. Để bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc dân gian cổ truyền, bên cạnh việc phổ biến rộng rãi những bài dân ca truyền thống, hay đặt lời mới cho những làn điệu dân ca cổ, việc đưa chất liệu dân gian vào các nhạc phẩm dân gian đương đại để làm mới chúng, chính là một hướng đi thực sự hữu hiệu.

Cũng thuộc xu hướng đưa chất liệu dân gian vào các tác phẩm âm nhạc đương đại, nhưng bài hát À Lôi - bản rap của Doble 2T và Masew (2023) lại là một trường hợp có nhiều khác biệt. Tác phẩm từng gây bão trên mạng xã hội bởi sự độc lạ. Tuy cũng đưa những yếu tố dân gian truyền thống vào âm nhạc đương đại nhưng nếu các tác giả chọn thể loại nhạc quê hương, trữ tình thì À Lôi chọn ráp - một thể loại rất tân kì mới du nhập vào Việt Nam chưa lâu. À Lôi là một câu nói đặc trưng của dân tộc Tày nghĩa là Hả, trời ơi, chỉ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Quả thật, hầu hết đều thấy ngỡ ngàng, khi chứng kiến ca sĩ đọc rap trên nền nhạc sáo mèo, hòa cùng nhạc điện tử. Còn nữa: trong MV ca dao, tục ngữ, tiếng dân tộc đứng chung với tiếng Anh, lối nói hiện đại đứng cạnh lối nói bình dân, ca sĩ đọc rap trong trang phục dân tộc, giữa phong cảnh miền núi phía Bắc đẹp đến nao lòng… Có thể nói, đây một hướng tìm tòi, một thử nghiệm táo bạo. Bước đầu MV đã tức thời tạo được hiệu ứng lớn (nhất là với giới trẻ). Song độ bền vững của nó còn phải chờ sự kiểm chứng của thời gian…

Sau 50 năm kể từ ngày đất nước thống nhất (1975 - 2025), dòng âm nhạc dân gian đương đại phát triển rực rỡ với hàng loạt bài hát đã trở thành những khúc ca đi cùng năm tháng, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới nền âm nhạc nước nhà theo đúng định hướng: vừa nâng cao tính dân tộc, vừa đưa âm nhạc truyền thống gần hơn với giới trẻ và hội nhập ngày một sâu rộng vào dòng chảy chung của âm nhạc thế giới.

Trần Thị Trâm/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm