TIN TỨC

Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-08 13:45:00
mail facebook google pos stwis
1379 lượt xem

Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.

Xu hướng này hình thành từ những thập niên 50 của thế kỉ trước, giúp âm nhạc dân gian vừa bảo tồn vừa phát triển mạnh mẽ, tạo ra những ca khúc có sức sống bền lâu và có diện phủ sóng lớn như Xa khơi, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó (Nguyễn Tài Tuệ); Câu hò bên bến Hiền Lương (Hoàng Hiệp); Chiếc khăn piêu (Doãn Nho); Quảng Bình quê ta ơi (Hoàng Vân); Mẹ yêu con, Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý); Bài ca dâng Bác (Trọng Loan); Em về với người (Thế Nhân); Đợi (Huy Thục); Những cô gái quan họ (Phó Đức Phương); Tiếng đàn bầu (Nguyễn Đình Phúc, thơ Lữ Giang)...

Sau ngày đất nước thống nhất, xu hướng trên càng phát triển mạnh mẽ. Các nhạc sĩ đã đẩy mạnh việc đưa chất liệu dân gian vào những ca khúc tân nhạc và tạo ra nhiều thành tựu. Giờ đây, bên cạnh nhạc thính phòng, nhạc trẻ, dòng nhạc mang âm hưởng dân gian ngày càng khẳng định chắc chắn vị trí trong nền âm nhạc nước nhà, được đông đảo công chúng trong và ngoài nước yêu thích. Có thể kể đến tác ca khúc tiêu biểu như Làng quan họ quê tôi (Nguyễn Trọng Tạo, thơ Nguyễn Phan Hách, 1978); Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm (Trần Hoàn, thơ Đỗ Quý Doãn, 1981); Đất nước lời ru (Văn Thành Nho, thơ Nguyễn Khoa Điềm, 1984); Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ Trương Nam Hương, 1984); Huyền thoại mẹ (Trịnh Công Sơn, 1985); Gửi về quan họ (Đức Miêng, 1985); Sao em nỡ vội lấy chồng (Trần Tiến, 1990); Ca dao em và tôi (An Thuyên, 1993); Lời ru (Lê Minh, những năm 90 của thế kỷ XX); Bài ca đất phương Nam (Lư Nhất Vũ, thơ Lê Giang, 1997); Chảy đi sông ơi (Phó Đức Phương, 1997); Tình đất (Tuấn Phương, 1998); Người ơi hãy về (Tuấn Phương, 2000); Quê em mùa nước lũ (Tiến Luân, 2000); Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo, 2002); Khách đến chơi nhà (Lê Minh, 2005); Bà tôi (Nguyễn Vĩnh Tiến, 2005); À í a (Lê Minh Sơn, 2005); Tìm em câu ví sông Lam (A Páo, 2019), Tìm về (Tiến Minh, 2025); Phù Đổng Thiên Vương (Hồ Hoài Anh, 2025)...

Trên thực tế, ca dao, tục ngữ được các nhạc sĩ sử dụng với tần số lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Điều này xuất phát từ thành tựu về ngôn ngữ của văn học dân gian chủ yếu tập trung ở mảng thơ ca. Mặt khác, tục ngữ cô đọng hàm súc và giàu triết lí, còn ca dao là tiếng hát trái tim của người lao động, rất giàu chất trữ tình và có nhạc tính cao. Ca dao chính là những bài hát không có nhạc đệm, người xưa ngẫu hứng hát lên khi tức cảnh sinh tình. Sau đó nhờ những người lao động có tâm hồn nghệ sĩ dày công trau chuốt, uốn nắn mà mỗi miền quê lại có những khúc dân ca sâu lắng, ngọt ngào, mang màu sắc riêng. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhạc và thơ đã nâng cánh cho những câu ca dao đẹp bay xa hơn, đi sâu hơn vào những vùng khuất lấp trong trái tim và trở thành những câu thơ trong trí nhớ con người.

Là văn hóa nội sinh, văn hóa bản địa, văn hóa dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng luôn là nơi lưu giữ nhiều nhất những mã, những cốt văn hóa truyền thống, thể hiện rõ nét bản sắc độc đáo của dân tộc Việt. Do vậy để đổi mới và nâng cao tính dân tộc, các nhạc sĩ đã cố gắng vận dụng linh hoạt, sáng tạo những chất liệu dân gian (đặc biệt những giá trị tinh hoa) vào trong các ca khúc của mình.

Dễ nhận thấy nhất là việc dùng âm nhạc phương Tây để biến những bài đồng dao thành những ca khúc thiếu nhi. Đồng dao chính là thể loại văn học, dân gian dành riêng cho trẻ nhỏ, có ngôn từ mộc mạc, giai điệu đơn sơ, không có những quãng cách xa, không có những âm vực rộng, dễ hát, dễ thuộc, được trẻ thơ yêu thích vì cách cảm, cách nghĩ phù hợp với lối tư duy, phô diễn của các em. Những năm 90 của thế kỉ XX, nhạc sĩ Phạm Tuyên là người vận dụng đồng dao để sáng tác văn học cho thiếu nhi thành công nhất. Vị nhạc sĩ gạo cội của làng âm nhạc Việt Nam đã có hàng loạt bài hát được các em yêu thích như Bà còng đi chợ, Cái cò đi đón cơn mưa, Con chim chích chòe, Gánh gánh gồng gồng, Rềnh rềnh ràng ràng...

Dĩ nhiên, để sáng tác ca khúc cho các lứa tuổi khác, việc tiếp nhận tinh hoa của văn học dân gian đòi hỏi tinh tế hơn, sao cho những mã nghệ thuật dân gian mang hồn cốt Việt phải hóa thân, phải hòa tan một cách nhuần nhụy vào ca từ, giai điệu của từng câu hát.

Trên thực tế, những ca khúc trữ tình của dòng nhạc dân gian có thể được hình thành trên cơ sở một ý tưởng trong thành ngữ dân gian (Gà trống nuôi con - Lê Minh Sơn, Kẻ cắp bà già - Hoàng Thùy Linh); một biểu tượng (Trầu cau - Phan Huỳnh Điểu, Con cò - Lưu Hà An); một gợi ý từ nhân vật trong các câu chuyện cổ (Cô Tấm ngày nay - Ngọc Châu, Giọt đàn Thạch Sanh - Tuấn Khanh); từ một làn điệu dân ca (Câu giã bạn - Trọng Loan, Khách đến chơi nhà - Lê Minh); một câu tục ngữ, hay một điển tích dân gian (Chú Cuội chơi trăng - An Thuyên, Vầng trăng cổ tích - Phạm Đăng Khương; điển tích vọng phu trong Người đàn bà hóa đá - Trần Lập, trong Vọng phu của Lê Minh, thơ Việt Dũng)...

Những nhà soạn nhạc cũng có thể khéo léo cắt dán chất liệu dân gian để đưa vào một vị trí nào đó như tên bài hát, mở đầu, ở giữa hay kết thúc ca khúc. Qua khảo sát chúng tôi thấy, dân ca quan họ và hát ru được sử dụng nhiều nhất và đạt hiệu quả thẩm mĩ lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Đặc biệt là hát ru, thể loại đã góp phần sinh thành một dòng chảy sâu lắng mãi mãi lưu dấu thời gian. Trước 1975 có Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý), Lời ru trên nương (Trần Hoàn, thơ Nguyễn Khoa Điềm), Địu con đi nhà trẻ (Đào Ngọc Dung)... Sau 1975 là Lời mẹ ru (Trịnh Công Sơn), Câu hát mẹ ru (Phạm Tuyên), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Hát ru người mẹ lính (An Thuyên), Lời ru Âu Lạc (Nguyễn Minh Sơn), Tìm về lời ru (Đào Đăng Hoàn)... Chưa kể còn biết bao mảnh vỡ từ lời ru của mẹ đã lặn sâu vào từng con chữ tạo nên trong lòng người những nỗi niềm giăng mắc khôn nguôi. Bởi đó là khúc hát của tình mẫu tử, là dòng sữa mẹ thứ hai nuôi dưỡng tâm hồn bé thơ khôn lớn nên người, là sợi dây thiêng liêng gắn kết mỗi chúng ta với quê hương xứ sở. Xin hãy lắng nghe lời ca của một bài hát ru thời hiện đại:

Ngậm lời ru mẹ ngày xưa

Bà đưa mẹ đến giấc trưa say nồng

Mà nay mẹ bế mẹ bồng

Mẹ ru con cả tấm lòng thương yêu

Lời ru bay bổng cánh diều

Thân cò lặn lội sớm chiều sang sông

Lời ru ai đó ngóng trông

Muốn về quê mẹ mà không có đò...

(Lời ru, nhạc Lê Minh, lời Hoàng Hạnh)

Trên cái nền hát ru mênh mang, sâu lắng, da diết buồn là tình mẫu tử thiêng liêng, là hình ảnh thân cò lặn lội, là cánh diều tuổi thơ, là nỗi niềm của người con gái lấy chồng xa nhớ mẹ, là nghĩa tình chồng vợ thủy chung, là hình ảnh dòng sông bến nước con đò... Tất cả những trầm tích văn hóa từ một chuỗi bài ca dao đồng loạt phát sáng tạo hiệu ứng lớn bất ngờ đã nối kết trái tim bao thế hệ...

Có cả một hệ thống những ca khúc dân gian đương đại đạt chất lượng cao được hình thành trên cơ sở việc chiết xuất tinh hoa văn hóa quan họ nói chung và dân ca quan họ nói riêng mà một trong những nhạc phẩm xuất sắc nhất là Làng quan họ quê tôi của Nguyễn Trọng Tạo (thơ Nguyễn Phan Hách). Trong phút giây thăng hoa, phiêu bồng, người nghệ sĩ tinh tế và đa tài đã khéo léo đưa được những giá trị tinh hoa mang hồn vía Kinh Bắc vào bài hát, nhờ thế mà có được một giai phẩm tuyệt vời thấm đẫm hồn làng, hồn đất, khiến bao kẻ tha hương nghe xong rưng rưng, nhất tâm những muốn tìm về: Làng quan họ quê tôi/ Tháng Giêng mùa hát bội/ Những đêm trăng hát gọi/ Con sông Cầu làng bao xanh/ Ngang lưng làng quan họ xanh xanh/ Làng quan họ quê tôi, những chiều bao thương nhớ/ Tiếng ca đầu ngọn gió, nón quai thao nói gì người ơi/ Nón quai thao như nói nói gì người ơi!…

Sau 1975, tác giả An Thuyên có một loạt tác phẩm xuất sắc nhờ tựa trên những chất liệu dân gian: Ca dao em và tôi, Em chọn lối này, Cầu thang chín bậc, Neo đậu bến quê… Lê Minh có Khách đến chơi nhà, Về hội Lim, Lời ru (thơ Minh Hạnh). Đức Miêng có Gửi về quan họ, Trầu cau quan họ, Chiếc nón ba tầm; Trần Tiến có Ngẫu hứng giao duyên, Trung Đức với Nhớ về hội Lim; Nguyễn Chung với Tìm em trong chiều hội Lim, Minh Dương với Quan họ anh về (thơ Nguyễn Thiện)… Hóa thân vào những khúc hát đương đại, các chất liệu dân gian đồng loạt phát sáng tạo nên những giá trị mới làm cho người nghe vừa thêm yêu mến quê hương, đất nước vừa được nâng cao nhạc cảm.

Tiêu biểu là Khách đến chơi nhà - nhạc Lê Minh, lời Đỗ Việt Dũng. Nương vào bài quan họ cổ cùng tên, Khách đến chơi nhà cuốn hút công chúng, có diện phủ sóng rất rộng chính là nhờ sự tích hợp khéo léo cả một hệ thống chất liệu dân gian đắt giá: một không gian quan họ, một không khí quan họ, một cảnh sắc quan họ... và một bầu khí quyển nên thơ của canh hát quan họ với lề lối mời nước, mời trầu, với những làn điệu đã trở thành kinh điển: Khách đến chơi nhà, Người ở đừng về, Ra ngõ mà trông, Qua cầu gió bay... Cùng bao nhiêu giá trị văn hóa đặc sắc vùng Kinh Bắc, mà rộng hơn là cả một vùng văn hóa Bắc Bộ: lòng hiếu khách, cách nói phong tình, buông lơi, tình tứ: rỗi hơi ai lại phải lòng, người dưng nhớ người dưng... Rồi lối ăn mặc nền nã của người gái ngoan quan họ: váy chùng cửa võng, áo tứ thân, khăn mỏ quạ và ánh mắt đắm đuối thả thương thả nhớ tưởng vô tình mà rất đỗi hữu tình: Khách đến chơi nhà rằng mấy khi khách đến chơi nhà/ Giót lời hát xuống chén trà mời nhau/ Để anh say một miếng trầu dẫu rằng vẫn biết qua cầu gió bay/ Giá em đừng hát hay, giá em đừng nền nã/ Đừng áo tứ thân, đừng khăn mỏ quạ/ Đừng nói câu người ơi người ở đừng về? Trót buông ánh mắt ngập ngừng để người dưng nhớ người dưng thế này/ Giá miếng trầu đừng cay/ Giá chén trà đừng chát/ Giá người ngoan đừng hát/ Thì dỗi hơi ai lại phải lòng để bây giờ ra ngõ ấy mấy trông ra ngõ mà trông…

Để viết về làng quê Việt thì không gì tối ưu bằng sử dụng chất liệu dân gian. Điều đó cắt nghĩa vì sao nhiều tác giả thời kì Đổi mới như Trần Tiến, An Thuyên, Lê Minh, Lê Minh Sơn, Nguyễn Vĩnh Tiến... đã rất thành công. Theo Trần Tiến, nhiều bài hát của ông như Sao em nỡ vội lấy chồng, Thượng đế buồn được làm theo “đơn đặt hàng” nhưng nhờ biết tựa vào văn hóa truyền thống nên chúng không chỉ chiếm được tình cảm của đông đảo khán giả mà còn có sức sống rất bền lâu.

Nếu Sao em nỡ vội lấy chồng được hoài thai nhờ gợi ý từ câu ca dao Nam Bộ: Bướm vàng đậu trái mù u/ Lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn thì Thượng đế buồn lại được ra đời nhờ ánh sáng toát ra từ câu tục ngữ Trời sinh voi, trời sinh cỏ, mà người nghệ sĩ tài hoa thời đại hội nhập đã có được bằng con đường phản tiếp nhận. Chất liệu dân gian như những viên quặng quý đã được những người nghệ sĩ cao tay tôi luyện, biến thành những thỏi vàng ròng. Còn Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ Trương Nam Hương, 1984) mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Với lối hát nhẹ nhàng, mộc mạc, thủ thỉ như lời kể chuyện gợi nhớ những khúc hò ru, hò đưa em hoặc dân ca ngũ cung... gợi về tình yêu quê hương, gợi về nỗi nhớ tuổi thơ bên dòng sông quê hương êm đềm. Mà không hình thức nghệ thuật nào có sức lan tỏa lớn như âm nhạc. Nhờ thế, những bài hát Việt giàu chất dân gian, giàu chất nhân văn có thể bay cao, bay xa, giúp công chúng hiểu biết thêm về cái hay, cái đẹp và thắp lên trong họ niềm tự hào về nền văn hóa dân tộc Việt ngàn đời.

Tìm em câu ví sông Lam của A Páo là một bài hát trữ tình sâu lắng, ngọt ngào được khán thính giả yêu thích là nhờ dựa trên những làn điệu dân ca xứ Nghệ. Bài hát gợi nhớ câu ví dặm về mối tình truyền kiếp lỡ làng - một mô típ quen thuộc trong ca dao - dân ca Nghệ Tĩnh thuở nào: Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở/ Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông. Đôi trai gái trong Tìm em câu ví sông Lam cũng trao nhau thương nhớ, cũng thề thốt hẹn hò: Một câu ví anh trao/ Nửa câu ví em thương/ Củ sắn củ khoai mồ hôi chát mặn/ Thương anh rồi nhớ đợi nghe em… Nhưng khi chàng trai trở về thì người ấy đã sang sông lấy chồng, khiến tình duyên đứt gánh, anh ngẩn ngơ một mình lặng lẽ đi tìm câu ví sông Lam, mong thấy lại chút hương xưa…

Bài hát Tìm về mà tác giả Tiến Minh viết (2025) dành cho bộ phim truyền hình đình đám Cha tôi người ở lại lại hay ở một khía cạnh khác. Qua giọng hát ngọt ngào của nghệ sĩ ưu tú Thái Sơn, ca khúc càng trở nên vô cùng cuốn hút. Những câu dân ca (trong đó có hát ru) chứa chan tình mẹ, tình cha, tình người, tình đất, dường như đã đánh thức cả một vùng kí ức xanh trong bao trái tim tưởng đã ngủ quên, khiến những kẻ tha hương thổn thức và khao khát trở về: Theo câu dân ca tìm về/ Để lại thấy bóng quê cha ngồi/ Se gió rơi tiếng sáo diều thảnh thơi/ Hương lúa non mới lên đồng lả lơi/ Theo câu dân ca tìm về/ Theo yêu thương ta tìm về/ Tuổi thơ theo suốt dọc triền đê/ Ngẩn ngơ em hé nụ tình quê/ Ới a tìm về lời ruNăm canh trường mẹ ôm giấc ngủ/ À ơi ơi à/ Gió đưa la đà/ Vẫn đi theo những chặng đường con qua/ Bến sông con đò/ Vẫn đây trông chờ/ Nếu thương nhau tìm về bên nhau/ Nhé người.

 

Màn trình diễn "Phù Đổng Thiên Vương" của ca sĩ Đức Phúc tham gia cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision tổ chức ở Liên bang Nga.

 

Gần đây nhất, ngày 20/9/2025, ca sĩ trẻ Đức Phúc vừa giành giải thưởng lớn tại cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision tổ chức ở Liên bang Nga với bài Phù Đổng Thiên Vương. Bài hát được khơi nguồn từ truyền thuyết Thánh Gióng - một trong 3 truyền thuyết đứng đầu kho tàng truyền thuyết Việt Nam và lấy cảm hứng trực tiếp từ bài thơ Tre Việt Nam của nhà thơ Nguyễn Duy.

Hóa thân vào các ca khúc trữ tình đương đại, chất liệu dân gian được tái sinh tạo thêm những giá trị mới đã góp phần nuôi dưỡng và phát triển nền âm nhạc dân tộc theo đúng định hướng tiên tiến và đậm đà bản sắc, giúp cho các bài hát dân ca đương đại ca từ đã đẹp, giai điệu lại mềm như lụa, có thể chạm vào đáy sâu tâm hồn biết bao người...

Như vậy, chính những bài hát đậm đà chất dân gian đã tích cực góp phần nâng cao tính dân tộc cho nền âm nhạc Việt. Nhờ chất dân gian mà tân nhạc - hình thức văn hóa có nguồn gốc phương Tây xa lạ đã được Việt hóa để thật sự trở thành âm nhạc của Việt Nam.

Hướng vận động này một lần nữa khẳng định, muốn đi xa thì phải trở về. Chúng ta chỉ có thể bằng nhân loại khi đi sâu vào tâm hồn của dân tộc mình. Vì thế có thể nói rằng, trở về cội nguồn dân tộc đó chính bí quyết làm nên thành công của dòng âm nhạc dân gian hiện đại. Để bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc dân gian cổ truyền, bên cạnh việc phổ biến rộng rãi những bài dân ca truyền thống, hay đặt lời mới cho những làn điệu dân ca cổ, việc đưa chất liệu dân gian vào các nhạc phẩm dân gian đương đại để làm mới chúng, chính là một hướng đi thực sự hữu hiệu.

Cũng thuộc xu hướng đưa chất liệu dân gian vào các tác phẩm âm nhạc đương đại, nhưng bài hát À Lôi - bản rap của Doble 2T và Masew (2023) lại là một trường hợp có nhiều khác biệt. Tác phẩm từng gây bão trên mạng xã hội bởi sự độc lạ. Tuy cũng đưa những yếu tố dân gian truyền thống vào âm nhạc đương đại nhưng nếu các tác giả chọn thể loại nhạc quê hương, trữ tình thì À Lôi chọn ráp - một thể loại rất tân kì mới du nhập vào Việt Nam chưa lâu. À Lôi là một câu nói đặc trưng của dân tộc Tày nghĩa là Hả, trời ơi, chỉ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Quả thật, hầu hết đều thấy ngỡ ngàng, khi chứng kiến ca sĩ đọc rap trên nền nhạc sáo mèo, hòa cùng nhạc điện tử. Còn nữa: trong MV ca dao, tục ngữ, tiếng dân tộc đứng chung với tiếng Anh, lối nói hiện đại đứng cạnh lối nói bình dân, ca sĩ đọc rap trong trang phục dân tộc, giữa phong cảnh miền núi phía Bắc đẹp đến nao lòng… Có thể nói, đây một hướng tìm tòi, một thử nghiệm táo bạo. Bước đầu MV đã tức thời tạo được hiệu ứng lớn (nhất là với giới trẻ). Song độ bền vững của nó còn phải chờ sự kiểm chứng của thời gian…

Sau 50 năm kể từ ngày đất nước thống nhất (1975 - 2025), dòng âm nhạc dân gian đương đại phát triển rực rỡ với hàng loạt bài hát đã trở thành những khúc ca đi cùng năm tháng, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới nền âm nhạc nước nhà theo đúng định hướng: vừa nâng cao tính dân tộc, vừa đưa âm nhạc truyền thống gần hơn với giới trẻ và hội nhập ngày một sâu rộng vào dòng chảy chung của âm nhạc thế giới.

Trần Thị Trâm/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm