TIN TỨC

Chất liệu dân gian trong ca khúc Việt Nam hiện đại

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-08 13:45:00
mail facebook google pos stwis
995 lượt xem

Bài viết này xin phép được tiếp tục trình bày một xu hướng vận động chủ đạo của âm nhạc dân gian truyền thống Việt Nam sau 1975: dân tộc hóa ca khúc Việt Nam.

Xu hướng này hình thành từ những thập niên 50 của thế kỉ trước, giúp âm nhạc dân gian vừa bảo tồn vừa phát triển mạnh mẽ, tạo ra những ca khúc có sức sống bền lâu và có diện phủ sóng lớn như Xa khơi, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó (Nguyễn Tài Tuệ); Câu hò bên bến Hiền Lương (Hoàng Hiệp); Chiếc khăn piêu (Doãn Nho); Quảng Bình quê ta ơi (Hoàng Vân); Mẹ yêu con, Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý); Bài ca dâng Bác (Trọng Loan); Em về với người (Thế Nhân); Đợi (Huy Thục); Những cô gái quan họ (Phó Đức Phương); Tiếng đàn bầu (Nguyễn Đình Phúc, thơ Lữ Giang)...

Sau ngày đất nước thống nhất, xu hướng trên càng phát triển mạnh mẽ. Các nhạc sĩ đã đẩy mạnh việc đưa chất liệu dân gian vào những ca khúc tân nhạc và tạo ra nhiều thành tựu. Giờ đây, bên cạnh nhạc thính phòng, nhạc trẻ, dòng nhạc mang âm hưởng dân gian ngày càng khẳng định chắc chắn vị trí trong nền âm nhạc nước nhà, được đông đảo công chúng trong và ngoài nước yêu thích. Có thể kể đến tác ca khúc tiêu biểu như Làng quan họ quê tôi (Nguyễn Trọng Tạo, thơ Nguyễn Phan Hách, 1978); Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò ví dặm (Trần Hoàn, thơ Đỗ Quý Doãn, 1981); Đất nước lời ru (Văn Thành Nho, thơ Nguyễn Khoa Điềm, 1984); Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ Trương Nam Hương, 1984); Huyền thoại mẹ (Trịnh Công Sơn, 1985); Gửi về quan họ (Đức Miêng, 1985); Sao em nỡ vội lấy chồng (Trần Tiến, 1990); Ca dao em và tôi (An Thuyên, 1993); Lời ru (Lê Minh, những năm 90 của thế kỷ XX); Bài ca đất phương Nam (Lư Nhất Vũ, thơ Lê Giang, 1997); Chảy đi sông ơi (Phó Đức Phương, 1997); Tình đất (Tuấn Phương, 1998); Người ơi hãy về (Tuấn Phương, 2000); Quê em mùa nước lũ (Tiến Luân, 2000); Khúc hát sông quê (Nguyễn Trọng Tạo, 2002); Khách đến chơi nhà (Lê Minh, 2005); Bà tôi (Nguyễn Vĩnh Tiến, 2005); À í a (Lê Minh Sơn, 2005); Tìm em câu ví sông Lam (A Páo, 2019), Tìm về (Tiến Minh, 2025); Phù Đổng Thiên Vương (Hồ Hoài Anh, 2025)...

Trên thực tế, ca dao, tục ngữ được các nhạc sĩ sử dụng với tần số lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Điều này xuất phát từ thành tựu về ngôn ngữ của văn học dân gian chủ yếu tập trung ở mảng thơ ca. Mặt khác, tục ngữ cô đọng hàm súc và giàu triết lí, còn ca dao là tiếng hát trái tim của người lao động, rất giàu chất trữ tình và có nhạc tính cao. Ca dao chính là những bài hát không có nhạc đệm, người xưa ngẫu hứng hát lên khi tức cảnh sinh tình. Sau đó nhờ những người lao động có tâm hồn nghệ sĩ dày công trau chuốt, uốn nắn mà mỗi miền quê lại có những khúc dân ca sâu lắng, ngọt ngào, mang màu sắc riêng. Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhạc và thơ đã nâng cánh cho những câu ca dao đẹp bay xa hơn, đi sâu hơn vào những vùng khuất lấp trong trái tim và trở thành những câu thơ trong trí nhớ con người.

Là văn hóa nội sinh, văn hóa bản địa, văn hóa dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng luôn là nơi lưu giữ nhiều nhất những mã, những cốt văn hóa truyền thống, thể hiện rõ nét bản sắc độc đáo của dân tộc Việt. Do vậy để đổi mới và nâng cao tính dân tộc, các nhạc sĩ đã cố gắng vận dụng linh hoạt, sáng tạo những chất liệu dân gian (đặc biệt những giá trị tinh hoa) vào trong các ca khúc của mình.

Dễ nhận thấy nhất là việc dùng âm nhạc phương Tây để biến những bài đồng dao thành những ca khúc thiếu nhi. Đồng dao chính là thể loại văn học, dân gian dành riêng cho trẻ nhỏ, có ngôn từ mộc mạc, giai điệu đơn sơ, không có những quãng cách xa, không có những âm vực rộng, dễ hát, dễ thuộc, được trẻ thơ yêu thích vì cách cảm, cách nghĩ phù hợp với lối tư duy, phô diễn của các em. Những năm 90 của thế kỉ XX, nhạc sĩ Phạm Tuyên là người vận dụng đồng dao để sáng tác văn học cho thiếu nhi thành công nhất. Vị nhạc sĩ gạo cội của làng âm nhạc Việt Nam đã có hàng loạt bài hát được các em yêu thích như Bà còng đi chợ, Cái cò đi đón cơn mưa, Con chim chích chòe, Gánh gánh gồng gồng, Rềnh rềnh ràng ràng...

Dĩ nhiên, để sáng tác ca khúc cho các lứa tuổi khác, việc tiếp nhận tinh hoa của văn học dân gian đòi hỏi tinh tế hơn, sao cho những mã nghệ thuật dân gian mang hồn cốt Việt phải hóa thân, phải hòa tan một cách nhuần nhụy vào ca từ, giai điệu của từng câu hát.

Trên thực tế, những ca khúc trữ tình của dòng nhạc dân gian có thể được hình thành trên cơ sở một ý tưởng trong thành ngữ dân gian (Gà trống nuôi con - Lê Minh Sơn, Kẻ cắp bà già - Hoàng Thùy Linh); một biểu tượng (Trầu cau - Phan Huỳnh Điểu, Con cò - Lưu Hà An); một gợi ý từ nhân vật trong các câu chuyện cổ (Cô Tấm ngày nay - Ngọc Châu, Giọt đàn Thạch Sanh - Tuấn Khanh); từ một làn điệu dân ca (Câu giã bạn - Trọng Loan, Khách đến chơi nhà - Lê Minh); một câu tục ngữ, hay một điển tích dân gian (Chú Cuội chơi trăng - An Thuyên, Vầng trăng cổ tích - Phạm Đăng Khương; điển tích vọng phu trong Người đàn bà hóa đá - Trần Lập, trong Vọng phu của Lê Minh, thơ Việt Dũng)...

Những nhà soạn nhạc cũng có thể khéo léo cắt dán chất liệu dân gian để đưa vào một vị trí nào đó như tên bài hát, mở đầu, ở giữa hay kết thúc ca khúc. Qua khảo sát chúng tôi thấy, dân ca quan họ và hát ru được sử dụng nhiều nhất và đạt hiệu quả thẩm mĩ lớn nhất trong ca khúc dân gian đương đại. Đặc biệt là hát ru, thể loại đã góp phần sinh thành một dòng chảy sâu lắng mãi mãi lưu dấu thời gian. Trước 1975 có Mẹ yêu con (Nguyễn Văn Tý), Lời ru trên nương (Trần Hoàn, thơ Nguyễn Khoa Điềm), Địu con đi nhà trẻ (Đào Ngọc Dung)... Sau 1975 là Lời mẹ ru (Trịnh Công Sơn), Câu hát mẹ ru (Phạm Tuyên), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Hát ru người mẹ lính (An Thuyên), Lời ru Âu Lạc (Nguyễn Minh Sơn), Tìm về lời ru (Đào Đăng Hoàn)... Chưa kể còn biết bao mảnh vỡ từ lời ru của mẹ đã lặn sâu vào từng con chữ tạo nên trong lòng người những nỗi niềm giăng mắc khôn nguôi. Bởi đó là khúc hát của tình mẫu tử, là dòng sữa mẹ thứ hai nuôi dưỡng tâm hồn bé thơ khôn lớn nên người, là sợi dây thiêng liêng gắn kết mỗi chúng ta với quê hương xứ sở. Xin hãy lắng nghe lời ca của một bài hát ru thời hiện đại:

Ngậm lời ru mẹ ngày xưa

Bà đưa mẹ đến giấc trưa say nồng

Mà nay mẹ bế mẹ bồng

Mẹ ru con cả tấm lòng thương yêu

Lời ru bay bổng cánh diều

Thân cò lặn lội sớm chiều sang sông

Lời ru ai đó ngóng trông

Muốn về quê mẹ mà không có đò...

(Lời ru, nhạc Lê Minh, lời Hoàng Hạnh)

Trên cái nền hát ru mênh mang, sâu lắng, da diết buồn là tình mẫu tử thiêng liêng, là hình ảnh thân cò lặn lội, là cánh diều tuổi thơ, là nỗi niềm của người con gái lấy chồng xa nhớ mẹ, là nghĩa tình chồng vợ thủy chung, là hình ảnh dòng sông bến nước con đò... Tất cả những trầm tích văn hóa từ một chuỗi bài ca dao đồng loạt phát sáng tạo hiệu ứng lớn bất ngờ đã nối kết trái tim bao thế hệ...

Có cả một hệ thống những ca khúc dân gian đương đại đạt chất lượng cao được hình thành trên cơ sở việc chiết xuất tinh hoa văn hóa quan họ nói chung và dân ca quan họ nói riêng mà một trong những nhạc phẩm xuất sắc nhất là Làng quan họ quê tôi của Nguyễn Trọng Tạo (thơ Nguyễn Phan Hách). Trong phút giây thăng hoa, phiêu bồng, người nghệ sĩ tinh tế và đa tài đã khéo léo đưa được những giá trị tinh hoa mang hồn vía Kinh Bắc vào bài hát, nhờ thế mà có được một giai phẩm tuyệt vời thấm đẫm hồn làng, hồn đất, khiến bao kẻ tha hương nghe xong rưng rưng, nhất tâm những muốn tìm về: Làng quan họ quê tôi/ Tháng Giêng mùa hát bội/ Những đêm trăng hát gọi/ Con sông Cầu làng bao xanh/ Ngang lưng làng quan họ xanh xanh/ Làng quan họ quê tôi, những chiều bao thương nhớ/ Tiếng ca đầu ngọn gió, nón quai thao nói gì người ơi/ Nón quai thao như nói nói gì người ơi!…

Sau 1975, tác giả An Thuyên có một loạt tác phẩm xuất sắc nhờ tựa trên những chất liệu dân gian: Ca dao em và tôi, Em chọn lối này, Cầu thang chín bậc, Neo đậu bến quê… Lê Minh có Khách đến chơi nhà, Về hội Lim, Lời ru (thơ Minh Hạnh). Đức Miêng có Gửi về quan họ, Trầu cau quan họ, Chiếc nón ba tầm; Trần Tiến có Ngẫu hứng giao duyên, Trung Đức với Nhớ về hội Lim; Nguyễn Chung với Tìm em trong chiều hội Lim, Minh Dương với Quan họ anh về (thơ Nguyễn Thiện)… Hóa thân vào những khúc hát đương đại, các chất liệu dân gian đồng loạt phát sáng tạo nên những giá trị mới làm cho người nghe vừa thêm yêu mến quê hương, đất nước vừa được nâng cao nhạc cảm.

Tiêu biểu là Khách đến chơi nhà - nhạc Lê Minh, lời Đỗ Việt Dũng. Nương vào bài quan họ cổ cùng tên, Khách đến chơi nhà cuốn hút công chúng, có diện phủ sóng rất rộng chính là nhờ sự tích hợp khéo léo cả một hệ thống chất liệu dân gian đắt giá: một không gian quan họ, một không khí quan họ, một cảnh sắc quan họ... và một bầu khí quyển nên thơ của canh hát quan họ với lề lối mời nước, mời trầu, với những làn điệu đã trở thành kinh điển: Khách đến chơi nhà, Người ở đừng về, Ra ngõ mà trông, Qua cầu gió bay... Cùng bao nhiêu giá trị văn hóa đặc sắc vùng Kinh Bắc, mà rộng hơn là cả một vùng văn hóa Bắc Bộ: lòng hiếu khách, cách nói phong tình, buông lơi, tình tứ: rỗi hơi ai lại phải lòng, người dưng nhớ người dưng... Rồi lối ăn mặc nền nã của người gái ngoan quan họ: váy chùng cửa võng, áo tứ thân, khăn mỏ quạ và ánh mắt đắm đuối thả thương thả nhớ tưởng vô tình mà rất đỗi hữu tình: Khách đến chơi nhà rằng mấy khi khách đến chơi nhà/ Giót lời hát xuống chén trà mời nhau/ Để anh say một miếng trầu dẫu rằng vẫn biết qua cầu gió bay/ Giá em đừng hát hay, giá em đừng nền nã/ Đừng áo tứ thân, đừng khăn mỏ quạ/ Đừng nói câu người ơi người ở đừng về? Trót buông ánh mắt ngập ngừng để người dưng nhớ người dưng thế này/ Giá miếng trầu đừng cay/ Giá chén trà đừng chát/ Giá người ngoan đừng hát/ Thì dỗi hơi ai lại phải lòng để bây giờ ra ngõ ấy mấy trông ra ngõ mà trông…

Để viết về làng quê Việt thì không gì tối ưu bằng sử dụng chất liệu dân gian. Điều đó cắt nghĩa vì sao nhiều tác giả thời kì Đổi mới như Trần Tiến, An Thuyên, Lê Minh, Lê Minh Sơn, Nguyễn Vĩnh Tiến... đã rất thành công. Theo Trần Tiến, nhiều bài hát của ông như Sao em nỡ vội lấy chồng, Thượng đế buồn được làm theo “đơn đặt hàng” nhưng nhờ biết tựa vào văn hóa truyền thống nên chúng không chỉ chiếm được tình cảm của đông đảo khán giả mà còn có sức sống rất bền lâu.

Nếu Sao em nỡ vội lấy chồng được hoài thai nhờ gợi ý từ câu ca dao Nam Bộ: Bướm vàng đậu trái mù u/ Lấy chồng càng sớm lời ru càng buồn thì Thượng đế buồn lại được ra đời nhờ ánh sáng toát ra từ câu tục ngữ Trời sinh voi, trời sinh cỏ, mà người nghệ sĩ tài hoa thời đại hội nhập đã có được bằng con đường phản tiếp nhận. Chất liệu dân gian như những viên quặng quý đã được những người nghệ sĩ cao tay tôi luyện, biến thành những thỏi vàng ròng. Còn Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp, thơ Trương Nam Hương, 1984) mang âm hưởng dân ca Nam Bộ. Với lối hát nhẹ nhàng, mộc mạc, thủ thỉ như lời kể chuyện gợi nhớ những khúc hò ru, hò đưa em hoặc dân ca ngũ cung... gợi về tình yêu quê hương, gợi về nỗi nhớ tuổi thơ bên dòng sông quê hương êm đềm. Mà không hình thức nghệ thuật nào có sức lan tỏa lớn như âm nhạc. Nhờ thế, những bài hát Việt giàu chất dân gian, giàu chất nhân văn có thể bay cao, bay xa, giúp công chúng hiểu biết thêm về cái hay, cái đẹp và thắp lên trong họ niềm tự hào về nền văn hóa dân tộc Việt ngàn đời.

Tìm em câu ví sông Lam của A Páo là một bài hát trữ tình sâu lắng, ngọt ngào được khán thính giả yêu thích là nhờ dựa trên những làn điệu dân ca xứ Nghệ. Bài hát gợi nhớ câu ví dặm về mối tình truyền kiếp lỡ làng - một mô típ quen thuộc trong ca dao - dân ca Nghệ Tĩnh thuở nào: Anh đến tìm hoa thì hoa đã nở/ Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông. Đôi trai gái trong Tìm em câu ví sông Lam cũng trao nhau thương nhớ, cũng thề thốt hẹn hò: Một câu ví anh trao/ Nửa câu ví em thương/ Củ sắn củ khoai mồ hôi chát mặn/ Thương anh rồi nhớ đợi nghe em… Nhưng khi chàng trai trở về thì người ấy đã sang sông lấy chồng, khiến tình duyên đứt gánh, anh ngẩn ngơ một mình lặng lẽ đi tìm câu ví sông Lam, mong thấy lại chút hương xưa…

Bài hát Tìm về mà tác giả Tiến Minh viết (2025) dành cho bộ phim truyền hình đình đám Cha tôi người ở lại lại hay ở một khía cạnh khác. Qua giọng hát ngọt ngào của nghệ sĩ ưu tú Thái Sơn, ca khúc càng trở nên vô cùng cuốn hút. Những câu dân ca (trong đó có hát ru) chứa chan tình mẹ, tình cha, tình người, tình đất, dường như đã đánh thức cả một vùng kí ức xanh trong bao trái tim tưởng đã ngủ quên, khiến những kẻ tha hương thổn thức và khao khát trở về: Theo câu dân ca tìm về/ Để lại thấy bóng quê cha ngồi/ Se gió rơi tiếng sáo diều thảnh thơi/ Hương lúa non mới lên đồng lả lơi/ Theo câu dân ca tìm về/ Theo yêu thương ta tìm về/ Tuổi thơ theo suốt dọc triền đê/ Ngẩn ngơ em hé nụ tình quê/ Ới a tìm về lời ruNăm canh trường mẹ ôm giấc ngủ/ À ơi ơi à/ Gió đưa la đà/ Vẫn đi theo những chặng đường con qua/ Bến sông con đò/ Vẫn đây trông chờ/ Nếu thương nhau tìm về bên nhau/ Nhé người.

 

Màn trình diễn "Phù Đổng Thiên Vương" của ca sĩ Đức Phúc tham gia cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision tổ chức ở Liên bang Nga.

 

Gần đây nhất, ngày 20/9/2025, ca sĩ trẻ Đức Phúc vừa giành giải thưởng lớn tại cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision tổ chức ở Liên bang Nga với bài Phù Đổng Thiên Vương. Bài hát được khơi nguồn từ truyền thuyết Thánh Gióng - một trong 3 truyền thuyết đứng đầu kho tàng truyền thuyết Việt Nam và lấy cảm hứng trực tiếp từ bài thơ Tre Việt Nam của nhà thơ Nguyễn Duy.

Hóa thân vào các ca khúc trữ tình đương đại, chất liệu dân gian được tái sinh tạo thêm những giá trị mới đã góp phần nuôi dưỡng và phát triển nền âm nhạc dân tộc theo đúng định hướng tiên tiến và đậm đà bản sắc, giúp cho các bài hát dân ca đương đại ca từ đã đẹp, giai điệu lại mềm như lụa, có thể chạm vào đáy sâu tâm hồn biết bao người...

Như vậy, chính những bài hát đậm đà chất dân gian đã tích cực góp phần nâng cao tính dân tộc cho nền âm nhạc Việt. Nhờ chất dân gian mà tân nhạc - hình thức văn hóa có nguồn gốc phương Tây xa lạ đã được Việt hóa để thật sự trở thành âm nhạc của Việt Nam.

Hướng vận động này một lần nữa khẳng định, muốn đi xa thì phải trở về. Chúng ta chỉ có thể bằng nhân loại khi đi sâu vào tâm hồn của dân tộc mình. Vì thế có thể nói rằng, trở về cội nguồn dân tộc đó chính bí quyết làm nên thành công của dòng âm nhạc dân gian hiện đại. Để bảo tồn và phát huy vốn âm nhạc dân gian cổ truyền, bên cạnh việc phổ biến rộng rãi những bài dân ca truyền thống, hay đặt lời mới cho những làn điệu dân ca cổ, việc đưa chất liệu dân gian vào các nhạc phẩm dân gian đương đại để làm mới chúng, chính là một hướng đi thực sự hữu hiệu.

Cũng thuộc xu hướng đưa chất liệu dân gian vào các tác phẩm âm nhạc đương đại, nhưng bài hát À Lôi - bản rap của Doble 2T và Masew (2023) lại là một trường hợp có nhiều khác biệt. Tác phẩm từng gây bão trên mạng xã hội bởi sự độc lạ. Tuy cũng đưa những yếu tố dân gian truyền thống vào âm nhạc đương đại nhưng nếu các tác giả chọn thể loại nhạc quê hương, trữ tình thì À Lôi chọn ráp - một thể loại rất tân kì mới du nhập vào Việt Nam chưa lâu. À Lôi là một câu nói đặc trưng của dân tộc Tày nghĩa là Hả, trời ơi, chỉ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Quả thật, hầu hết đều thấy ngỡ ngàng, khi chứng kiến ca sĩ đọc rap trên nền nhạc sáo mèo, hòa cùng nhạc điện tử. Còn nữa: trong MV ca dao, tục ngữ, tiếng dân tộc đứng chung với tiếng Anh, lối nói hiện đại đứng cạnh lối nói bình dân, ca sĩ đọc rap trong trang phục dân tộc, giữa phong cảnh miền núi phía Bắc đẹp đến nao lòng… Có thể nói, đây một hướng tìm tòi, một thử nghiệm táo bạo. Bước đầu MV đã tức thời tạo được hiệu ứng lớn (nhất là với giới trẻ). Song độ bền vững của nó còn phải chờ sự kiểm chứng của thời gian…

Sau 50 năm kể từ ngày đất nước thống nhất (1975 - 2025), dòng âm nhạc dân gian đương đại phát triển rực rỡ với hàng loạt bài hát đã trở thành những khúc ca đi cùng năm tháng, góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới nền âm nhạc nước nhà theo đúng định hướng: vừa nâng cao tính dân tộc, vừa đưa âm nhạc truyền thống gần hơn với giới trẻ và hội nhập ngày một sâu rộng vào dòng chảy chung của âm nhạc thế giới.

Trần Thị Trâm/Báo Văn Nghệ

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm