TIN TỨC

Nhẹ nhàng bài ca cuộc sống nơi “Những cơn mưa thu” của Thanh Tám

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-19 22:53:20
mail facebook google pos stwis
317 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Thanh Tám, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Lai Châu là cây viết truyện ngắn khá quen thuộc với bạn đọc. Một số truyện ngắn của Thanh Tám đã được đăng tải trên các trang báo sang trọng Báo Văn nghệ, Trang báo điện tử Vanvn.vn của Hội Nhà văn Việt Nam. Một trong những truyện ngắn của em, tôi tin rằng nhiều người thiện cảm, đó là truyện ngắn Những cơn mưa thu. Một câu chuyện gọn gàng, xinh xắn, gợi trong lòng độc giả những ấm áp, yêu thương như giọng văn nhẹ nhàng, truyền cảm của tác giả vậy.

 

Nhà văn Đỗ Nguyên Thương

 

Truyện ngắn Những cơn mưa thu đã in ở Tạp chí Văn nghệ Lai Châu mở đầu bằng hình ảnh “Mưa rả rích kéo dài cả tháng. Những cơn mưa rừng như thế này làm cho tiết trời ngày hạ trở lên lành lạnh”, từ giọng văn, hình ảnh đến ngôn ngữ, gợi lên trong lòng người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, thanh tao. Bỗng nhiên, tôi bỗng nhớ câu văn của Thạch Lam trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, đoạn mở đầu cũng êm ả “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru” … Truyện ngắn Những cơn mưa thu của Thanh Tám mở ra trong không gian mưa thu, mưa rừng với hình ảnh nhân vật Dịu, Dịu đang khóc vì nhớ mẹ, muốn gửi gắm qua câu chữ “tất cả những cảm xúc của người con xa xứ về người mẹ thân yêu ở miền mây trắng nơi quê nhà”. Mẹ Dịu đã mất, lẽ thường vợ chồng Dịu và con gái sẽ về quê thắp hương ngày giỗ mẹ. Nhưng lần này, chỉ Khâm (chồng Dịu) và con gái về quê. Dịu không về được vì lý do sức khỏe, lại đang thời kỳ thai nghén. Ai là phụ nữ hẳn đều hiểu, thông cảm sâu sắc cho lý do này, nghén là một giai đoạn trong thai kỳ, thường là trong ba tháng đầu. Khi đó, phụ nữ nào nghén nhẹ cũng mệt mỏi, nghén nặng thì nôn, không muốn ăn. Đã hai tháng nay, Dịu ở vào tình trạng đó, “không nuốt nổi một chút thức ăn nào vào bụng. Chỉ cần thức ăn đi qua họng thì lập tức nó quay lại nơi bắt đầu và trào ra. Đến cả sữa Dịu cũng không uống được” nên đành lỡ ngày “húy nhật” của mẹ. Dịu tha hồ khóc khi vắng chồng con, tha hồ khóc bởi nhớ thương và thấy mình có lỗi với mẹ. Vâng, cảm giác tội lỗi ấy cũng là một lẽ thường tình. Nhất lại là tình cảm mẫu tử, giữa mẹ và con gái, yêu thương, gắn bó có một không hai trong cuộc đời này. Và thổn thức trong mưa rừng mùa thu, Dịu nhớ lại những kỷ niệm của 10 năm trước, khi đó Miền anh trai Dịu và Khâm (khi đó là bạn Miền, nay là chồng Dịu) cùng nộp đơn lên dạy học ở Lai Châu, sau khi nộp đơn nhiều nơi ở các tình miền xuôi mà không được tuyển dụng “các tỉnh miền xuôi dư thừa giáo viên do đào tạo ồ ạt” và cả hai anh được nhận công tác tại Lai Châu. Mảnh đất đó, trong ý thức của người dân miền xuôi nói chung và bố mẹ Dịu nói riêng, là một vùng núi xa lắc. Thời đó, giao thông chưa thuận tiện bởi đường sá chưa tốt, cho nên cái cảm giác xa vời vợi càng ám ảnh cha mẹ của Dịu. Chính vậy, “các cụ” giận anh Miền, giận cả Khâm bởi Khâm là người thông báo cho Miền biết thông tin anh xem được trên ti vi là Lai Châu đang thiếu giáo viên, đang có nhu cầu tuyển dụng… Khi nhận giấy báo trúng tuyển, Miền vui bao nhiêu thì cha mẹ anh buồn và lo lắng bấy nhiêu. Mẹ thương con đi xa tận tỉnh biên giới, cha vừa thương vừa lo một nỗi lo rằng con trai đến nơi rừng thiêng nước độc, chuyện vợ con sẽ ra sao khi gia đình anh đang ở tình trạng “độc đinh”. Mẹ khóc cả tuần, cha giận lây sang cả anh Khiêm. Những nỗi lo và sự phản ứng có vẻ tiêu cực ấy lại chính là thước đo tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái. Hiểu tấm lòng cha mẹ, nhưng hai thanh niên Miền và Khiêm vẫn quyết chí ra đi, lập nghiệp ở một tỉnh vùng biên giới.

Rồi một ngày không xa, Dịu lại đi học sư phạm, sau chuyến thăm anh trai ở Lai Châu, thấy tình đồng nghiệp, tình thầy trò, tình làng nghĩa xóm của cư dân nơi anh trai công tác rất ấm áp, Dịu đã nghe theo các anh, nghe theo tiếng gọi của trái tim mình và lại lên Lai Châu dạy học, rồi nên duyên vợ chồng với Khâm. Anh Miền cũng yên bề gia thất tại mảnh đất biên giới Lai Châu. Sau khi mẹ mất, anh Miền muốn đón cha lên nhưng cha anh từ chối vì còn ở quê chăm lo hương khói cho mẹ, chỉ mong các con giỗ tết về thăm là vui rồi.

Câu chuyện được kể với giọng điệu nhẹ nhàng, chân chất. Cốt truyện gọn, bố cục mạch lạc, tình huống không gay cấn nhưng có sự hấp dẫn đối với độc giả. Người đọc hồi hộp cùng Dịu khi Dịu chưa biết thưa chuyện với cha mẹ như thế nào bởi phản ứng khá dữ dội của cha mẹ khi con trai lên Lai Châu dạy học, giờ Dịu lại lên Lai Châu…Người đọc vui cùng niềm vui của Dịu khi ước mơ thành hiện thực. Đất Lai Châu mến khách, học sinh Lai Châu ngoan ngoãn, đáng yêu. Và Lai Châu, trở thành nơi gắn bó với anh em Dịu, vợ chồng Dịu, vợ chồng anh Miền.

Yêu nghề, yêu trẻ nên Miền, Khâm, Dịu vừa dạy, vừa dỗ học sinh, vừa làm công tác tuyên truyền với phụ huynh học sinh “đến nhà học sinh vận động bố mẹ bọn trẻ cho bọn trẻ đến lớp vào đầu năm học mới”. Các thầy cô miền xuôi lên lập nghiệp vùng cao còn lên nương cắt lúa, thu ngô giúp phụ huynh, tạo thiện cảm để “dân vận” cho học sinh được đi học. Sự kiên nhẫn và kỳ công còn thể hiện rõ rệt khi các thầy cô đến tận nhà phụ đạo kiến thức cho học sinh, bất chấp thời tiết mưa hay nắng. Không chỉ dạy trẻ, anh Miền còn đi dạy phổ cập cho thanh niên chưa tốt nghiệp trung học cơ sở.

Dịu nhớ lại ngày ấy, khi Dịu lên thăm anh trai vào một ngày Lai Châu mưa như thác đổ, anh Miền và thầy hiệu trưởng đi dạy phổ cập, cô tranh thủ đọc sách, rồi có lúc cùng anh trai đi dạo quanh bản làng, trong sắc đẹp của hoàng hôn, gặp các chị phụ nữ dân tộc Lự răng đen nhánh như hạt na, thân thiện, gần gũi. Rồi tình yêu nghề của anh Miền, anh Khâm đã truyền lửa cho Dịu. Sau khi tốt nghiệp, cô lên Lai Châu cùng hai anh, bởi lời căn dặn và cái bắt tay thật chặt của anh Khâm, Anh nói nhỏ: “Em đi đường bình an. Năm học mới, các trò nhỏ được gặp lại cô Dịu!” với ánh mắt chứa chan hy vọng… và chính những cặp mắt trong veo của bọn trẻ ở bản Ma Sao, cặp mắt hiền hiền chứa chan hi vọng của anh Khâm cứ bám chặt lấy Dịu… và bởi duyên kỳ ngộ, họ cùng trở thành công dân tốt, giáo viên tâm huyết, trách nhiệm nơi vùng cao, được học sinh tin yêu, phụ huynh quý mến.

Trong đêm mưa rừng, Dịu nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp, mặc mưa rơi, tâm trạng khá dần lên với những hy vọng tươi sáng bởi “Dịu biết, chỉ ít ngày nữa thôi thì những cơn mưa dai dẳng kia sẽ kết thúc nhường không gian cho mùa thu rộn rã tiếng trống ếch khai trường”. Vâng, đã là quy luật “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chỉ cần con người ta có niềm tin thì tương lai sẽ tươi sáng. Tiếng trống khai trường là âm thanh của rộn rã niềm vui cuộc sống. Kết thúc truyện ngắn như vậy, Thanh Tám gieo vào lòng người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, một niềm tin vào ngày mai tươi sáng, giúp người đọc hiểu và thêm yêu mảnh đất, con người Lai Châu.

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm