TIN TỨC

Nhẹ nhàng bài ca cuộc sống nơi “Những cơn mưa thu” của Thanh Tám

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-19 22:53:20
mail facebook google pos stwis
526 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Thanh Tám, Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Lai Châu là cây viết truyện ngắn khá quen thuộc với bạn đọc. Một số truyện ngắn của Thanh Tám đã được đăng tải trên các trang báo sang trọng Báo Văn nghệ, Trang báo điện tử Vanvn.vn của Hội Nhà văn Việt Nam. Một trong những truyện ngắn của em, tôi tin rằng nhiều người thiện cảm, đó là truyện ngắn Những cơn mưa thu. Một câu chuyện gọn gàng, xinh xắn, gợi trong lòng độc giả những ấm áp, yêu thương như giọng văn nhẹ nhàng, truyền cảm của tác giả vậy.

 

Nhà văn Đỗ Nguyên Thương

 

Truyện ngắn Những cơn mưa thu đã in ở Tạp chí Văn nghệ Lai Châu mở đầu bằng hình ảnh “Mưa rả rích kéo dài cả tháng. Những cơn mưa rừng như thế này làm cho tiết trời ngày hạ trở lên lành lạnh”, từ giọng văn, hình ảnh đến ngôn ngữ, gợi lên trong lòng người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, thanh tao. Bỗng nhiên, tôi bỗng nhớ câu văn của Thạch Lam trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, đoạn mở đầu cũng êm ả “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru” … Truyện ngắn Những cơn mưa thu của Thanh Tám mở ra trong không gian mưa thu, mưa rừng với hình ảnh nhân vật Dịu, Dịu đang khóc vì nhớ mẹ, muốn gửi gắm qua câu chữ “tất cả những cảm xúc của người con xa xứ về người mẹ thân yêu ở miền mây trắng nơi quê nhà”. Mẹ Dịu đã mất, lẽ thường vợ chồng Dịu và con gái sẽ về quê thắp hương ngày giỗ mẹ. Nhưng lần này, chỉ Khâm (chồng Dịu) và con gái về quê. Dịu không về được vì lý do sức khỏe, lại đang thời kỳ thai nghén. Ai là phụ nữ hẳn đều hiểu, thông cảm sâu sắc cho lý do này, nghén là một giai đoạn trong thai kỳ, thường là trong ba tháng đầu. Khi đó, phụ nữ nào nghén nhẹ cũng mệt mỏi, nghén nặng thì nôn, không muốn ăn. Đã hai tháng nay, Dịu ở vào tình trạng đó, “không nuốt nổi một chút thức ăn nào vào bụng. Chỉ cần thức ăn đi qua họng thì lập tức nó quay lại nơi bắt đầu và trào ra. Đến cả sữa Dịu cũng không uống được” nên đành lỡ ngày “húy nhật” của mẹ. Dịu tha hồ khóc khi vắng chồng con, tha hồ khóc bởi nhớ thương và thấy mình có lỗi với mẹ. Vâng, cảm giác tội lỗi ấy cũng là một lẽ thường tình. Nhất lại là tình cảm mẫu tử, giữa mẹ và con gái, yêu thương, gắn bó có một không hai trong cuộc đời này. Và thổn thức trong mưa rừng mùa thu, Dịu nhớ lại những kỷ niệm của 10 năm trước, khi đó Miền anh trai Dịu và Khâm (khi đó là bạn Miền, nay là chồng Dịu) cùng nộp đơn lên dạy học ở Lai Châu, sau khi nộp đơn nhiều nơi ở các tình miền xuôi mà không được tuyển dụng “các tỉnh miền xuôi dư thừa giáo viên do đào tạo ồ ạt” và cả hai anh được nhận công tác tại Lai Châu. Mảnh đất đó, trong ý thức của người dân miền xuôi nói chung và bố mẹ Dịu nói riêng, là một vùng núi xa lắc. Thời đó, giao thông chưa thuận tiện bởi đường sá chưa tốt, cho nên cái cảm giác xa vời vợi càng ám ảnh cha mẹ của Dịu. Chính vậy, “các cụ” giận anh Miền, giận cả Khâm bởi Khâm là người thông báo cho Miền biết thông tin anh xem được trên ti vi là Lai Châu đang thiếu giáo viên, đang có nhu cầu tuyển dụng… Khi nhận giấy báo trúng tuyển, Miền vui bao nhiêu thì cha mẹ anh buồn và lo lắng bấy nhiêu. Mẹ thương con đi xa tận tỉnh biên giới, cha vừa thương vừa lo một nỗi lo rằng con trai đến nơi rừng thiêng nước độc, chuyện vợ con sẽ ra sao khi gia đình anh đang ở tình trạng “độc đinh”. Mẹ khóc cả tuần, cha giận lây sang cả anh Khiêm. Những nỗi lo và sự phản ứng có vẻ tiêu cực ấy lại chính là thước đo tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái. Hiểu tấm lòng cha mẹ, nhưng hai thanh niên Miền và Khiêm vẫn quyết chí ra đi, lập nghiệp ở một tỉnh vùng biên giới.

Rồi một ngày không xa, Dịu lại đi học sư phạm, sau chuyến thăm anh trai ở Lai Châu, thấy tình đồng nghiệp, tình thầy trò, tình làng nghĩa xóm của cư dân nơi anh trai công tác rất ấm áp, Dịu đã nghe theo các anh, nghe theo tiếng gọi của trái tim mình và lại lên Lai Châu dạy học, rồi nên duyên vợ chồng với Khâm. Anh Miền cũng yên bề gia thất tại mảnh đất biên giới Lai Châu. Sau khi mẹ mất, anh Miền muốn đón cha lên nhưng cha anh từ chối vì còn ở quê chăm lo hương khói cho mẹ, chỉ mong các con giỗ tết về thăm là vui rồi.

Câu chuyện được kể với giọng điệu nhẹ nhàng, chân chất. Cốt truyện gọn, bố cục mạch lạc, tình huống không gay cấn nhưng có sự hấp dẫn đối với độc giả. Người đọc hồi hộp cùng Dịu khi Dịu chưa biết thưa chuyện với cha mẹ như thế nào bởi phản ứng khá dữ dội của cha mẹ khi con trai lên Lai Châu dạy học, giờ Dịu lại lên Lai Châu…Người đọc vui cùng niềm vui của Dịu khi ước mơ thành hiện thực. Đất Lai Châu mến khách, học sinh Lai Châu ngoan ngoãn, đáng yêu. Và Lai Châu, trở thành nơi gắn bó với anh em Dịu, vợ chồng Dịu, vợ chồng anh Miền.

Yêu nghề, yêu trẻ nên Miền, Khâm, Dịu vừa dạy, vừa dỗ học sinh, vừa làm công tác tuyên truyền với phụ huynh học sinh “đến nhà học sinh vận động bố mẹ bọn trẻ cho bọn trẻ đến lớp vào đầu năm học mới”. Các thầy cô miền xuôi lên lập nghiệp vùng cao còn lên nương cắt lúa, thu ngô giúp phụ huynh, tạo thiện cảm để “dân vận” cho học sinh được đi học. Sự kiên nhẫn và kỳ công còn thể hiện rõ rệt khi các thầy cô đến tận nhà phụ đạo kiến thức cho học sinh, bất chấp thời tiết mưa hay nắng. Không chỉ dạy trẻ, anh Miền còn đi dạy phổ cập cho thanh niên chưa tốt nghiệp trung học cơ sở.

Dịu nhớ lại ngày ấy, khi Dịu lên thăm anh trai vào một ngày Lai Châu mưa như thác đổ, anh Miền và thầy hiệu trưởng đi dạy phổ cập, cô tranh thủ đọc sách, rồi có lúc cùng anh trai đi dạo quanh bản làng, trong sắc đẹp của hoàng hôn, gặp các chị phụ nữ dân tộc Lự răng đen nhánh như hạt na, thân thiện, gần gũi. Rồi tình yêu nghề của anh Miền, anh Khâm đã truyền lửa cho Dịu. Sau khi tốt nghiệp, cô lên Lai Châu cùng hai anh, bởi lời căn dặn và cái bắt tay thật chặt của anh Khâm, Anh nói nhỏ: “Em đi đường bình an. Năm học mới, các trò nhỏ được gặp lại cô Dịu!” với ánh mắt chứa chan hy vọng… và chính những cặp mắt trong veo của bọn trẻ ở bản Ma Sao, cặp mắt hiền hiền chứa chan hi vọng của anh Khâm cứ bám chặt lấy Dịu… và bởi duyên kỳ ngộ, họ cùng trở thành công dân tốt, giáo viên tâm huyết, trách nhiệm nơi vùng cao, được học sinh tin yêu, phụ huynh quý mến.

Trong đêm mưa rừng, Dịu nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp, mặc mưa rơi, tâm trạng khá dần lên với những hy vọng tươi sáng bởi “Dịu biết, chỉ ít ngày nữa thôi thì những cơn mưa dai dẳng kia sẽ kết thúc nhường không gian cho mùa thu rộn rã tiếng trống ếch khai trường”. Vâng, đã là quy luật “Hết mưa là nắng hửng lên thôi”. Bất luận trong hoàn cảnh nào, chỉ cần con người ta có niềm tin thì tương lai sẽ tươi sáng. Tiếng trống khai trường là âm thanh của rộn rã niềm vui cuộc sống. Kết thúc truyện ngắn như vậy, Thanh Tám gieo vào lòng người đọc một cảm giác nhẹ nhàng, một niềm tin vào ngày mai tươi sáng, giúp người đọc hiểu và thêm yêu mảnh đất, con người Lai Châu.

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm