TIN TỨC

Hồi hộp trước “phút bù giờ” của Minh Đan

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-17 16:13:45
mail facebook google pos stwis
1776 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Minh Đan là ai? Và từ đâu đến? Nàng đã xuất hiện trước chúng ta như một Sứ giả của tình thương và trách nhiệm giữa cuộc đời này.

Ai đã từng đi qua đường 19 ngang thị trấn Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định và lưu luyến môi thơm với hương vị đặc sản: chim mía, rượu Bàu Đá, thịt bò chua như muốn cầm chân ta mãi mãi.

Ai đã từng tham quan lễ hội Đống Đa - Quang Trung vào mồng năm Tết cổ truyền với tiếng trống trận vang dội núi rừng, và lưu lại đôi phút tại khu vườn xưa với cây Me và giếng nước hơn hai trăm năm, ở Kiên Mỹ, Bình Thành, nơi phát tích của Nhà Tây Sơn.

Ai đã có lần ngồi trên bến Trường Trầu mà nghe Sông Kôn chảy bao thăng trầm vào lịch sử, nghe tiếng thét của Nữ tướng Bùi Thị Xuân khiến voi quỳ.

Lữ Ngọc Minh Đan đã sinh ra từ miền đất ấy, lớn lên rồi ra đi học hành, rồi trưởng thành tại TP.Hồ Chí Minh. 

Tôi thấy hình như chị luôn mang theo bên mình nét trầm tư của những cổ thành Đồ Bàn, thành Hoàng Đế và thành Bình Định, nơi có Trường Thi và những câu thơ của Bàn Thành Tứ Hữu, dần chìm vào huyền tích kinh xưa. Ấy vậy, Minh Đan làm thơ rồi trở thành nhà thơ cũng là điều hiển nhiên.

Nhưng tại sao lại “Phút bù giờ”? Phải chăng Minh Đan muốn ẩn dụ cái khẩn trương, cái ước vọng, lòng nguyện cầu, cái tốt đẹp trong bóng đá vào cuộc đời này và thôi thúc những tấm lòng từ tâm, những trí tuệ, những đôi tay, đôi vai hãy dấn thân chung sức cứu rỗi những phận người đau khổ, không may, những hoàn cảnh gieo neo, đơn độc. Kêu gọi khẩn trương con người hãy tỉnh táo mà đối xử với thiên nhiên như một cái đạo, không được tàn phá thiên nhiên để rồi nhận lấy hậu quả khốc liệt, điêu tàn.  Hãy loại bỏ những lòng tham-sân-si ra khỏi xã hội để nâng lên cuộc sống con người.  Hãy đoàn kết yêu thương, hết mình vì nhau trong những nghịch cảnh, mở rộng con đường từ trái tim đến trái tim. Theo Minh Đan, tất cả đều phải khẩn trương, không được vô cảm với nhau. Minh Đan luôn luôn phát hiện cái mặt trái của tồn tại xã hội, phê phán cái xấu, cái ác, cái vô cảm của con người trong thời đại hôm nay để mở đường cho cái thiện và lòng chân thành, nhân ái vốn là bản chất của con người được phục hồi làm đẹp và bình yên cho cuộc sống. Do vậy, toàn tập thơ, ta thấy thoáng những nỗi buồn, nhưng cái buồn trong veo của nhà thơ, buồn để tìm vui cho tha nhân, cho thiên hạ. Thường cách viết như vậy rất khó, nhưng trong sáng tạo nghệ thuật mà chọn cái khó cho hướng đi riêng mình thì lại ít ai làm được.

Cách nói dễ nghe, dễ gần, ngôn ngữ giàu hình tượng và âm thanh. Đây, ta thử đến với bài “Mẹ đơn thân” trích trong phần Khâu múi nhớ:

bao nhiêu yêu thương khâu kín một hình hài (?)

em rửa cơn buồn

bằng thứ mùi đàn bà phá giá

sợi tóc buộc câu yêu

lá vàng môi buông thả

nước mắt ứa nhựa thân xanh

 

ngồi dệt giấc mơ bằng sợi tầm gai

khỏa thân cởi mùa

gọi nhau qua vách gió

ngỡ lòng mình quý nhân

trong vòng tay người thương

 

ngờ đâu

lá vàng rơi lòng em những cánh chán chường

mùa thu đi qua

tiếng đàn bầu xéo xắt

đếm tháng ngày méo tròn dằng dặc

 

vui nụ cười trẻ thơ.

 

Nhà Thơ Tạ Hữu Thiện có viết rằng: “Ai lớn lên không từng yêu đương/ Ai biết yêu không từng hò hẹn/ Việc ấy lẽ thường”. Đúng vậy, đó là lẽ thường nhưng trong cái lẽ thường này nó xuất hiện không biết bao nhiêu cái bất thường, làm điêu đứng cả đời người, gây ra dang dở đau thương và từ đó có lẽ người đàn bà đơn thân xuất hiện. Họ đau khổ đến tận cùng của yêu đương lại bật ra những bản lĩnh, phi thường tự chọn cho mình một con đường đi riêng về tương lai vẫn bình sinh trước thiên hạ, hồn nhiên như tuổi thơ càng làm cho niềm tin cứ đầy lên phía trước.

Em rửa cơn buồn/ bằng thứ mùi đàn bà phá giá” đau quá, như không thể nào đau hơn được nữa. Ai dám bảo người đàn bà đơn thân không hạnh phúc, họ thay cả đàn ông, họ giàu trải nghiệm. Vui thay, những nhà văn đơn thân phụ trách tiết mục tâm tình cởi mở mà tôi hay đọc trên các Báo ngày xưa, mỗi khi những cặp vợ chồng hay những đôi tình nhân sắp đổ vỡ họ viết thư đến cho các chị. Các chị đã trả lời những gì mà các đôi vợ chồng sắp tan vỡ lại đoàn tụ và họ dắt nhau đến cảm ơn tác giả và có biết bao người đàn bà đơn thân trên thế giới lại là Nguyên thủ quốc gia.

Minh Đan không phải là người trong cuộc, nhưng trách nhiệm và tình thương đã khiến tác giả bật ra những câu thơ gan ruột làm lay động lòng người. Những câu thơ ngắn gọn, không thừa ý giãn tứ, nhưng sức khái quát cao, mà ta khó lòng đi hết chiều sâu của nó. Chính hình tượng và âm thanh đã làm nên vần điệu cho thơ tự do của Minh Đan.

Những cụm từ “yêu thương khâu kín”, “rửa cơn buồn”, “mùi đàn bà phá giá”, “sợi tóc buộc câu yêu”, “khỏa thân cởi mùa”, “gọi nhau qua vách gió”… đã gợi nên hình tượng và âm thanh vang ra trong không gian thơ Minh Đan.

Và đây nữa, một sự buông bỏ dứt khoát mà không phải ai cũng làm được - đó là buông bỏ Tình nhân, dứt áo ra đi trở về với cái hồn nhiên, làm bạn với cô đơn để bớt cô đơn. Đúng vậy, không dưng mà Nhạc sĩ Đài Phương Trang đã viết “yêu cô đơn như tình nhân” - cái thông điệp đầy ý nghĩa, là hướng đi mở ra cho những người đã chán chường bao nỗi đa đoan của tình yêu:      

khi cảm xúc nhượng bộ

lý trí vứt mạnh tình nhân vào sọt rác

chẳng cần tìm lý do cho điều đã mất

                                       

bao lần khiêu vũ trong mưa

tự nâng bước mình qua ngày giông gió

thăng hoa với cô đơn

......

thanh thản buông

em đàn bà không cần tình nhân.

                   

Thường khi Minh Đan không viết hoa chữ đầu dòng, những câu thơ trí luận sẽ dài ra như một dòng chảy cảm xúc vào vũ trụ nhân sinh để mà phát hiện những tồn tại nhứt nhối của xã hội. Đúng vậy, thơ là hành trình không có đích, nó tồn sinh trong loài người và là phạm trù vô hạn. Cách viết như vậy, tôi nghĩ rằng không phải bắt chước theo văn chương Tây, hay mấy ông bà Nobel gì đâu mà là rất Việt Nam.

Thơ không nuôi được ai nhưng thơ sẽ đến với con người cả khi hạnh phúc và lúc đau thương. Thơ là người phát hiện vấn đề, chứ không phải là người giải quyết vấn đề nên nhiều lúc ta thấy thơ như bất lực, như trong bài Mưa:

cầm trên tay tập thơ

nghĩ về đồng xu l

ước mỗi âm tiết mua được ổ bánh mì cầm hơi

dỗ dành em phút đói lòng khát nước

ước mỗi bản thảo gói được nắm xôi niềm tin của ngày mai

thả vào ngón tay em hạt đơm nóng hổi

 

Ngôn ngữ của Minh Đan đôi khi không còn là ký tự để giải nghĩa mà là những vật liệu có tâm hồn biết xích lại và giãn ra để tạo hình tượng và âm thanh.

Tôi xin chúc mừng các nhà thơ trẻ của Bình Định đã thành danh ở Sài Gòn như Trần Lê Sơn Ý, Ngô Liêm Khoan, Minh Đan, Nguyễn Trần Thiên Lộc, Trần Võ Thành Văn, Nguyễn Trần Khải Duy… một ngày mai thành công tốt đẹp.

Không thể nào nói hết những gì muốn nói cho thơ Minh Đan. Khép lại trang viết, tôi xin chúc Minh Đan và các nhà thơ đất võ giàu sức sáng tạo và đi trọn với nghiệp của mình. 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm