TIN TỨC

Hồi hộp trước “phút bù giờ” của Minh Đan

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-08-17 16:13:45
mail facebook google pos stwis
1931 lượt xem

XUÂN TRƯỜNG

Minh Đan là ai? Và từ đâu đến? Nàng đã xuất hiện trước chúng ta như một Sứ giả của tình thương và trách nhiệm giữa cuộc đời này.

Ai đã từng đi qua đường 19 ngang thị trấn Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định và lưu luyến môi thơm với hương vị đặc sản: chim mía, rượu Bàu Đá, thịt bò chua như muốn cầm chân ta mãi mãi.

Ai đã từng tham quan lễ hội Đống Đa - Quang Trung vào mồng năm Tết cổ truyền với tiếng trống trận vang dội núi rừng, và lưu lại đôi phút tại khu vườn xưa với cây Me và giếng nước hơn hai trăm năm, ở Kiên Mỹ, Bình Thành, nơi phát tích của Nhà Tây Sơn.

Ai đã có lần ngồi trên bến Trường Trầu mà nghe Sông Kôn chảy bao thăng trầm vào lịch sử, nghe tiếng thét của Nữ tướng Bùi Thị Xuân khiến voi quỳ.

Lữ Ngọc Minh Đan đã sinh ra từ miền đất ấy, lớn lên rồi ra đi học hành, rồi trưởng thành tại TP.Hồ Chí Minh. 

Tôi thấy hình như chị luôn mang theo bên mình nét trầm tư của những cổ thành Đồ Bàn, thành Hoàng Đế và thành Bình Định, nơi có Trường Thi và những câu thơ của Bàn Thành Tứ Hữu, dần chìm vào huyền tích kinh xưa. Ấy vậy, Minh Đan làm thơ rồi trở thành nhà thơ cũng là điều hiển nhiên.

Nhưng tại sao lại “Phút bù giờ”? Phải chăng Minh Đan muốn ẩn dụ cái khẩn trương, cái ước vọng, lòng nguyện cầu, cái tốt đẹp trong bóng đá vào cuộc đời này và thôi thúc những tấm lòng từ tâm, những trí tuệ, những đôi tay, đôi vai hãy dấn thân chung sức cứu rỗi những phận người đau khổ, không may, những hoàn cảnh gieo neo, đơn độc. Kêu gọi khẩn trương con người hãy tỉnh táo mà đối xử với thiên nhiên như một cái đạo, không được tàn phá thiên nhiên để rồi nhận lấy hậu quả khốc liệt, điêu tàn.  Hãy loại bỏ những lòng tham-sân-si ra khỏi xã hội để nâng lên cuộc sống con người.  Hãy đoàn kết yêu thương, hết mình vì nhau trong những nghịch cảnh, mở rộng con đường từ trái tim đến trái tim. Theo Minh Đan, tất cả đều phải khẩn trương, không được vô cảm với nhau. Minh Đan luôn luôn phát hiện cái mặt trái của tồn tại xã hội, phê phán cái xấu, cái ác, cái vô cảm của con người trong thời đại hôm nay để mở đường cho cái thiện và lòng chân thành, nhân ái vốn là bản chất của con người được phục hồi làm đẹp và bình yên cho cuộc sống. Do vậy, toàn tập thơ, ta thấy thoáng những nỗi buồn, nhưng cái buồn trong veo của nhà thơ, buồn để tìm vui cho tha nhân, cho thiên hạ. Thường cách viết như vậy rất khó, nhưng trong sáng tạo nghệ thuật mà chọn cái khó cho hướng đi riêng mình thì lại ít ai làm được.

Cách nói dễ nghe, dễ gần, ngôn ngữ giàu hình tượng và âm thanh. Đây, ta thử đến với bài “Mẹ đơn thân” trích trong phần Khâu múi nhớ:

bao nhiêu yêu thương khâu kín một hình hài (?)

em rửa cơn buồn

bằng thứ mùi đàn bà phá giá

sợi tóc buộc câu yêu

lá vàng môi buông thả

nước mắt ứa nhựa thân xanh

 

ngồi dệt giấc mơ bằng sợi tầm gai

khỏa thân cởi mùa

gọi nhau qua vách gió

ngỡ lòng mình quý nhân

trong vòng tay người thương

 

ngờ đâu

lá vàng rơi lòng em những cánh chán chường

mùa thu đi qua

tiếng đàn bầu xéo xắt

đếm tháng ngày méo tròn dằng dặc

 

vui nụ cười trẻ thơ.

 

Nhà Thơ Tạ Hữu Thiện có viết rằng: “Ai lớn lên không từng yêu đương/ Ai biết yêu không từng hò hẹn/ Việc ấy lẽ thường”. Đúng vậy, đó là lẽ thường nhưng trong cái lẽ thường này nó xuất hiện không biết bao nhiêu cái bất thường, làm điêu đứng cả đời người, gây ra dang dở đau thương và từ đó có lẽ người đàn bà đơn thân xuất hiện. Họ đau khổ đến tận cùng của yêu đương lại bật ra những bản lĩnh, phi thường tự chọn cho mình một con đường đi riêng về tương lai vẫn bình sinh trước thiên hạ, hồn nhiên như tuổi thơ càng làm cho niềm tin cứ đầy lên phía trước.

Em rửa cơn buồn/ bằng thứ mùi đàn bà phá giá” đau quá, như không thể nào đau hơn được nữa. Ai dám bảo người đàn bà đơn thân không hạnh phúc, họ thay cả đàn ông, họ giàu trải nghiệm. Vui thay, những nhà văn đơn thân phụ trách tiết mục tâm tình cởi mở mà tôi hay đọc trên các Báo ngày xưa, mỗi khi những cặp vợ chồng hay những đôi tình nhân sắp đổ vỡ họ viết thư đến cho các chị. Các chị đã trả lời những gì mà các đôi vợ chồng sắp tan vỡ lại đoàn tụ và họ dắt nhau đến cảm ơn tác giả và có biết bao người đàn bà đơn thân trên thế giới lại là Nguyên thủ quốc gia.

Minh Đan không phải là người trong cuộc, nhưng trách nhiệm và tình thương đã khiến tác giả bật ra những câu thơ gan ruột làm lay động lòng người. Những câu thơ ngắn gọn, không thừa ý giãn tứ, nhưng sức khái quát cao, mà ta khó lòng đi hết chiều sâu của nó. Chính hình tượng và âm thanh đã làm nên vần điệu cho thơ tự do của Minh Đan.

Những cụm từ “yêu thương khâu kín”, “rửa cơn buồn”, “mùi đàn bà phá giá”, “sợi tóc buộc câu yêu”, “khỏa thân cởi mùa”, “gọi nhau qua vách gió”… đã gợi nên hình tượng và âm thanh vang ra trong không gian thơ Minh Đan.

Và đây nữa, một sự buông bỏ dứt khoát mà không phải ai cũng làm được - đó là buông bỏ Tình nhân, dứt áo ra đi trở về với cái hồn nhiên, làm bạn với cô đơn để bớt cô đơn. Đúng vậy, không dưng mà Nhạc sĩ Đài Phương Trang đã viết “yêu cô đơn như tình nhân” - cái thông điệp đầy ý nghĩa, là hướng đi mở ra cho những người đã chán chường bao nỗi đa đoan của tình yêu:      

khi cảm xúc nhượng bộ

lý trí vứt mạnh tình nhân vào sọt rác

chẳng cần tìm lý do cho điều đã mất

                                       

bao lần khiêu vũ trong mưa

tự nâng bước mình qua ngày giông gió

thăng hoa với cô đơn

......

thanh thản buông

em đàn bà không cần tình nhân.

                   

Thường khi Minh Đan không viết hoa chữ đầu dòng, những câu thơ trí luận sẽ dài ra như một dòng chảy cảm xúc vào vũ trụ nhân sinh để mà phát hiện những tồn tại nhứt nhối của xã hội. Đúng vậy, thơ là hành trình không có đích, nó tồn sinh trong loài người và là phạm trù vô hạn. Cách viết như vậy, tôi nghĩ rằng không phải bắt chước theo văn chương Tây, hay mấy ông bà Nobel gì đâu mà là rất Việt Nam.

Thơ không nuôi được ai nhưng thơ sẽ đến với con người cả khi hạnh phúc và lúc đau thương. Thơ là người phát hiện vấn đề, chứ không phải là người giải quyết vấn đề nên nhiều lúc ta thấy thơ như bất lực, như trong bài Mưa:

cầm trên tay tập thơ

nghĩ về đồng xu l

ước mỗi âm tiết mua được ổ bánh mì cầm hơi

dỗ dành em phút đói lòng khát nước

ước mỗi bản thảo gói được nắm xôi niềm tin của ngày mai

thả vào ngón tay em hạt đơm nóng hổi

 

Ngôn ngữ của Minh Đan đôi khi không còn là ký tự để giải nghĩa mà là những vật liệu có tâm hồn biết xích lại và giãn ra để tạo hình tượng và âm thanh.

Tôi xin chúc mừng các nhà thơ trẻ của Bình Định đã thành danh ở Sài Gòn như Trần Lê Sơn Ý, Ngô Liêm Khoan, Minh Đan, Nguyễn Trần Thiên Lộc, Trần Võ Thành Văn, Nguyễn Trần Khải Duy… một ngày mai thành công tốt đẹp.

Không thể nào nói hết những gì muốn nói cho thơ Minh Đan. Khép lại trang viết, tôi xin chúc Minh Đan và các nhà thơ đất võ giàu sức sáng tạo và đi trọn với nghiệp của mình. 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm