TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Có một nguồn thi hứng về văn hóa Óc Eo trong thơ Đồng bằng Sông Cửu Long

Có một nguồn thi hứng về văn hóa Óc Eo trong thơ Đồng bằng Sông Cửu Long

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2021-09-20 11:45:11
mail facebook google pos stwis
5284 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – 1. Văn hóa Óc Eo là di sản văn hóa vô giá góp phần minh chứng cho quá trình khai phá, mở mang, phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có từ ngàn xưa. Nó chứa đựng những giá trị lớn cả về vật chất lẫn tinh thần trong đời sống của dân tộc Việt Nam nói chung và cư dân ở ĐBSCL nói riêng. Vì thế, từ sau năm 1975 đến nay đã có nhiều cuộc Hội thảo khoa học, nhiều công trình khảo cứu về nền văn hóa rực rỡ này, để trên cơ sở đó làm rõ những điều bí mật bị chìm lấp qua hàng ngàn năm lịch sử; đồng thời, góp phần khẳng định, tôn vinh và gìn giữ những gì cao quý mà các bậc tiền nhân đã làm nên. Trong bối cảnh đó, nhiều nhà thơ ở ĐBSCL, nhất là những nhà thơ ở An Giang đã có những vần thơ xúc động giãi bày tâm tình và tự hào về cái đẹp của văn hóa Óc Eo còn lưu giữ được nơi đây.


Di tích về một vương quốc Phù Nam.

Khác với nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học, nhà thơ tiếp cận, khám phá hiện vật của văn hóa Óc Eo bằng trí tưởng tượng và sự liên tưởng – một nét đặc trưng của nghệ thuật sáng tạo thơ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ trình bày những cảm nhận của họ về văn hóa Óc Eo qua những bài thơ tiêu biểu được chọn in trong các tuyển tập thơ của nhiều tác giả, cụ thể là: 30 năm thơ An Giang, Tự dưng mà nhớ An Giang (Tuyển tập thơ viết về An Giang), Thơ Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020 (Tác phẩm từ cuộc thi thơ khu vực ĐBSCL lần thứ VI năm 2020) và một vài bài thơ in ở các tập thơ khác.

2. Theo chúng tôi, không phải ngẫu nhiên mà trong các tuyển thơ trên có nhiều bài thơ được xuất phát từ cảm hứng về văn hóa Óc Eo. Có thể nói, chính cái đẹp, cái quý rất đáng tự hào trân trọng của di sản văn hóa này đã tạo cho thi nhân nguồn thi hứng để họ sáng tạo nên nhiều vần thơ hay. Những cảm nhận của họ được xuất phát từ nhiều chiều kích khác nhau khi nhìn ngàn xưa để kết nối với hôm nay, cũng như nhìn hôm nay để nghĩ về ngàn xưa.

Tìm về Di chỉ Óc Eo, Võ Thị Kim Liên quan niệm đó không chỉ là di chỉ văn hóa một thời, không chỉ là huyền thoại, mà mãi mãi vẫn còn đây chứng tích về vương quốc Phù Nam phồn hoa. Nhà thơ quan niệm, giữa cuộc sống hôm nay đừng quên nhắc chuyện ngày xưa, bởi âm thanh cuộc sống xa xưa luôn vọng về và ở đâu đây có “tiếng nói cười của trai gái Óc Eo ngày ấy” và cả “tiếng cồng chiêng nhảy múa”. Nhà thơ lòng tự dặn lòng, theo quy luật phát triển, cuộc đời ngày một đẹp hơn nhưng đừng quên cuộc sống hôm nay bắt đầu từ ngày hôm qua:

“Đất chín rồng phù sa mãi đắp bồi

Óc Eo thêm tầng trầm tích

Vốc nắm đất cha ông nhiều mật

Ta biết Óc Eo xưa trong máu thịt bây giờ”.

Cũng với cái nhìn từ hôm nay nghĩ về ngàn xưa, qua bài thơ Ở Óc Eo – Vọng Thê, từ cảnh sắc thực tại ngút ngàn một màu xanh của lúa, tràm và cỏ, Nguyễn Lập Em vẫn nhận ra nơi đây in dấu một thời đại phồn thịnh sau dâu bể của đời:

“Dấu vết nghìn năm in rõ

Biển lùi xa lưu lại bãi sò

Người xưa từng sống chết đói no

Nơi đã từng phồn thịnh đền đài, thương cảng”.   

Thực tại trên khiến nhà thơ băn khoăn, trăn trở bởi trên mảnh đất này còn ẩn chứa biết bao điều chưa có lời giải đáp. Điệp khúc “nơi nào năm xưa…” như xoáy sâu vào nhận thức và gợi cho người đọc nghĩ về những cảnh, những người và cả những lo toan, ước mơ, khát vọng của người xưa. Trước di sản văn hóa Óc Eo, “ngẩng nhìn trời cao”, “cúi nhìn đất nâu”, nhà thơ cảm nhận:

“Gió từ ngàn xưa. Nghìn năm bụi phủ

Biển về bao la. Thành chìm xuống nơi này

Tôi ngỡ gặp người của nghìn năm cũ

Sương gió đi về theo gió, theo mây”.

Còn ở bài thơ Trên đất Óc Eo, Hồ Thanh Điền đã suy tưởng về quá khứ trong sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại, của ngày xưa và của bây giờ, qua đó giãi bày những nỗi niềm, ước mơ về sự chân tình, sung túc và bình yên cho thực tại cuộc sống nơi đây. Bằng trí tưởng tượng, nhà thơ tái hiện cảnh ngày xưa, khi Óc Eo là kinh đô của vương quốc Phù Nam sầm uất với “thương cảng lắm tàu ghe”, “ì xèo mua bán”, còn bây giờ “tôi mơ chiếc xuồng ba lá” giữa những cánh đồng mùa mưa lũ để “gỡ con cá con cua, vớt con ốc bươu vàng, nhổ cọng bông súng trắng, hái cọng rau muống xanh”…; “tôi mơ ngôi chợ quê đầu mối” “không có gian manh của chốn thương trường”. Nhà thơ hình dung xã hội ngày xưa với sự phát triển rực rỡ còn được lưu dấu sau hơn ngàn năm lịch sử dù có trải qua bao cuộc bể dâu và mong muốn cuộc sống hiện tại ở miền đất này sẽ có nhiều đổi thay:

“Ở đây ngày xưa là lò luyện kim nấu đồng chế tạo mũi tên, mũi giáo,

nấu vàng đúc hình người phụ nữ bụng mang dạ chửa

Để bây giờ tôi mơ sấy củ khoai mì khoai ngọt, đông lạnh con cá,

con tôm, ép nước trái cây đổi lấy đồng ngoại tệ”…

Cũng đến và suy ngẫm Trên đất Óc Eo, Phạm Nguyên Thạch băn khoăn tự hỏi: “Có không thành phố sầm uất bán buôn/ Cảng biển vào ra thương thuyền tấp nập”, bởi hiện tại chỉ là “Gạch đá ngàn năm im lặng nhìn tôi”. Với nhà thơ, cái lặng im đó ẩn giấu bao điều bí mật, tất cả cảnh vật dù lặng yên giữa không gian hoang vắng nhưng nó đều mang hồn của cuộc sống và thời đại đã qua. Những chứng tích còn lại của một thời phồn hoa qua kiểu “kiến trúc cung đình”, “đồng tiền giao lưu Hy Lạp” và qua nhiều di vật khác bị chôn vùi hàng thế kỉ sau biến động của vũ trụ đã làm cho nhà thơ “xao lòng” thương nhớ:

“Gió cõi nào về lất phất hương xuân

Gò Cây Thị, Cây Trôm, núi Ba Thê nhốt gió

Nhìn phù điêu người mang thai chờ sinh nở

Cứ xao lòng…”

Nếu ở hai bài thơ nói trên của Hồ Thanh Điền và Phạm Nguyên Thạch, dấu ấn về văn hóa phồn thực được biểu hiện ở hình ảnh thơ: “mơ gặp người đàn bà chửa khuỳnh chân múa trên đất Óc Eo xưa”, hay “Nhìn phù điêu người mang thai chờ sinh nở”, thì Đức Ngân khi Về núi Ba Thê lại cảm nhận được nét văn hóa tâm linh qua những dấu tích xưa của “Óc Eo thành quách huyền thoại”. Nhà thơ nhận thấy cảnh sắc nơi đây như “Một thoáng tình về trong gió đưa”, như có hồn và có sức gợi về quá khứ xa xăm, để rồi sau hơn ngàn năm, vết tích huyền thoại: “tiên tắm trên hồ núi/ Vội vã về trời sót dấu chân” còn lưu lại có sức làm xao lòng người hiện tại. Có những cảnh mang ý nghĩa văn hóa tinh thần và có sức gợi liên tưởng mãnh liệt còn đọng mãi với thời gian:

“Thạch đại đao chém mòn gió núi

Chót ông tà còn mãi với thời gian”

Tìm về với di sản văn hóa Óc Eo, dẫu Một thoáng Phù Nam, Mỹ Hằng vẫn cảm nhận được nỗi buồn ở Linh Sơn hoang vắng trước cảnh “lá rụng đầy mặt sân” và trong tiếng “bìm bịp kêu văng vẳng”. Nhà thơ như nghe rõ âm thanh “thì thầm” của cuộc sống ngày xưa vọng nói về:

“Núi Ba Thê mơ màng

Nghe ngàn viên đá nhỏ

Thì thầm chuyện Phù Nam”

Nhà thơ tâm tình với “anh” qua nhiều cung bậc cảm xúc: “Làm sao anh biết được”, “Thôi anh đừng thương tiếc”, “Anh ơi anh có biết” cũng là để tâm tình với chính mình, giãi bày nỗi lòng của mình trước cái dĩ vãng buồn thương như đã thấm vào cảnh vật, làm cho “hòn đá cũng cô đơn”, “chiếc lá cũng biết buồn”, và “mây ngàn năm còn sầu” để rồi nặng lòng nuối tiếc trước bao cảnh phồn hoa, nay đã hoang tàn bởi bao cuộc bể dâu của đời.

Cũng trong tâm thế đó, trước không gian Óc Eo với những hiện vật xưa còn lại, Trần Thị Xuân Bích đã gửi gắm nỗi buồn tiếc nuối trong bài thơ Óc Eo. Nhà thơ cảm nhận được biết bao điều “ngủ quên trong lòng đất” mà nặng lòng trăn trở, để rồi như nghe được âm thanh “gạch xô thành tiếng vọng”, băn khoăn cho những kiếp người “ở chốn phiêu bồng” và lặng lẽ:

“Cúi mình nghe đất thở

Nặng lòng tròn câu thơ”.

Với Phù Nam, Lê Quang Trạng nhận thấy, người đời có cách nhìn, cách nghĩ khác nhau về quá khứ trước thực tế của đời sống. Theo cảm nhận của nhà thơ, họ tìm đến “thành quách phồn hoa”, “tháp uy nghiêm”, “tượng thần dát vàng” đã chìm lấp ngàn năm với những mục đích khác nhau và đó cũng là lẽ thường. Thực tế, ít nhiều họ đã tìm được điều mong muốn:

“người đàn ông quê đào cho mình mớ bạc cắc đổi rượu chiều vơi

người thợ dự đoán cho mình mấy trăm viên gạch cổ

người truy tích tìm cho mình hai nghìn năm loang lổ

tôi tìm cho mình quyển sách mục nơi đâu”.

Ẩn chứa đằng sau những câu thơ trên là sự trăn trở của nhà thơ trước những gì còn mất của vương quốc Phù Nam. Người đời hôm nay tìm thấy dưới những “lớp phù sa màu mỡ của cánh đồng” là bao điều quý giá còn lại của người xưa, là “quyển sách mục” lưu lại một thời phát triển rực rỡ của Phù Nam đã bị chìm lấp sau lớp phù sa đó, để càng biết giữ gìn, tự hào về cái có từ ngàn xưa và tự hào hơn cái có bây giờ khi lịch sử dân tộc đã sang trang.

Ý thức sâu sắc về vùng đất Ba Thê, nơi lưu giữ bao điều linh thiêng của vương quốc Phù Nam, Phùng Chí Mưu đến với văn hóa Óc Eo, thắp Một nén hương lòng để mong tìm được “không gian bốn mặt” và băn khoăn tự hỏi: “Có phải mặt thứ tư trong trầm tích Óc Eo”. Nhà thơ cho rằng, những điều mất đi bởi bao cuộc bể dâu nay được hồi sinh, “nảy mầm trong những bức phù điêu”. Cũng từ mạch suy tưởng đó, những huyền thoại về một vương quốc xa xưa bị nhiều tầng thời gian của hàng ngàn năm bao phủ, nay được mở ra trước mắt nhà thơ, như là: “thành quách nguy nga tráng lệ”, “công nương hoàng tử mỹ miều”, “vua chúa anh minh”, “đạo quân thiện chiến”, “tao nhân mặc khách” và “thương cảng Ba Thê sầm uất, lẫy lừng”,… Nhà thơ tự hỏi, tự trả lời để giãi bày nỗi trăn trở thao thức của mình trước cảnh còn mất trong quá khứ xa xưa, để rồi càng trân trọng hơn về những điều còn lại:

“Đao đá ngàn cân ai treo vách núi

Bàn cờ tiên giăng sẵn thế quân cơ

Bàn chân tiên vẫn chờ người ướm thử

Suối nước tiên cho ai muốn thành tiên”.

Cách cảm nhận của nhà thơ về những giá trị lịch sử – văn hóa còn lại nói trên vừa chứa đựng sự tiếc nuối, vừa thấm đượm tinh thần nhân văn trong cách nhìn, cách nghĩ về quá khứ.

 

 

Nền văn hóa Óc Eo được phân bố chủ yếu tại khu vực miền Tây.

Về Óc Eo với tâm trạng bâng khuâng khi đứng trước cảnh thành quách sụp đổ, gạch đá trơ trọi, hoang tàn, Nguyễn Lập Em đã tưởng tưởng nên cuộc gặp gỡ với “người nghìn năm” để Hỏi chuyện người nghìn năm và qua đó, cảm nhận được nỗi niềm của người thiên cổ về chuyện thế sự và kiếp người giữa cuộc đời bao biến động. Nhà thơ như nghe được từ lòng đất Óc Eo lời nhắn gửi của người xưa mà nặng lòng trăn trở về số phận của con người và thời đại đã qua với mong muốn có được lời giải đáp:

“Ai hạnh phúc đắng cay

Ai vui buồn, thành bại

Và ai nữa hiền lương, nhân ái

Ai gây chiến tranh gieo thù, chuốc oán

Ai yêu thương ai

Và những ai chưa kịp sống đời mình?”.

Có thể nói, từ cuộc gặp gỡ với “người ngàn năm”, Nguyễn Lập Em đã suy ngẫm chuyện xưa để nói về chuyện nay, chuyện của muôn đời qua những vần thơ trăn trở thấm đượm tính nhân văn.

Cũng nhìn nay và nghĩ về xưa, với điểm nhìn hiện tại từ Một góc phương Nam, Trương Công Thuốt viết về quê hương mình không chỉ với niềm tự hào trước cảnh “đàn ong no mật”, “được mùa sen tràm”, “lúa trĩu trong vườn chín ngọt”… mà còn nặng lòng vấn vương khi nghĩ về vương quốc Phù Nam hàng ngàn năm trước, nghĩ về những kiếp người đã từng khai phá, dựng xây vùng đất này:

“Chừng như ngàn năm trước có một tộc người quây quần gò Ba Thê

Sinh con đẻ cháu

Bão bùn tràn

Người Phù Nam về đâu?”

Còn ở bài thơ Đêm Óc Eo, Trần Hữu Phước nghe huyền thoại về vương quốc Phù Nam một thời phát triển rực rỡ đầy kiêu hãnh bị chôn vùi, “chìm trong lòng đất lạnh” với tâm trạng nuối tiếc. Trước những gì còn lại qua bao biến động dữ dội, nhà thơ không nén được sự xót xa và thốt lên:

“Chân núi mòn sóng biển

Vỏ sò trắng cánh đồng

Nhìn những viên gạch hồng

Xót xa thành quách cổ”.

Suy ngẫm về thời đại đã qua trong nỗi niềm bâng khuâng, thương nhớ, nhà thơ thêm tự hào về đất và người Óc Eo anh hùng thủy chung và cuộc sống “vui sầm uất” của Óc Eo hiện tại.

Khác với Trần Hữu Phước, từ điểm nhìn hiện tại trước những vẻ đẹp thanh bình của một miền quê khiến ai đến đây đều cảm thấy “hương tình ấm đượm buổi chiều quê” và “lòng dạ ngẩn ngơ bay”, khi Về Thoại Sơn, Nguyễn Văn Khánh nghĩ về xã hội xa xưa trước những di sản văn hóa của vương quốc Phù Nam. Nhà thơ cảm nhận được cái hồn đất, hồn người đọng lại trong cảnh vật đó:

“Anh theo em về vùng Ba Thê …

Linh Sơn Tự nép mình bên đỉnh núi

Gò Cây Thị rêu phong dấu cũ

Viên gạch nào cũng nhắc gợi ngày xa…”.

Cũng cùng tâm trạng đó, dù chỉ Một thoáng Thoại Sơn, Hữu Nhân không chỉ tự hào, xao xuyến với cảnh tình hiện tại ở nơi đây như: “hoa khoe sắc thắm dưới hàng cây xanh”, “hương lúa chín” và “nụ cười em”, mà còn trĩu nặng nỗi buồn trước những gì còn lại của Óc Eo xưa:

“Ai xuôi ta ghé Vọng Đông

Mà lòng trĩu nặng cánh đồng Ba Thê

Một Óc Eo tự ngàn xưa

Với Linh Sơn Tự nắng thưa thớt chiều”.

Đến với Thoại Sơn, Trần Tâm đã có cách tiếp cận riêng khi Tâm tình với Thoại Sơn, nhà thơ gọi đối tượng tâm tình Óc Eo là “em”. Với cách gọi này, nhà thơ quan niệm đến với Óc Eo là đến với người thân yêu và thực tế, đã tạo được sự kết nối vô hình của mối quan hệ gắn bó rất đỗi thân tình để chia sẻ nỗi buồn thương về một thời dĩ vãng. Bằng sự kết nối đó, nhà thơ như thấu hiểu nỗi gian nan vất vả trong cảnh “máu trộn bùn non” và như nghe được “âm vang một thời của cha ông đi mở đất”. Lời thơ cũng là lời tâm tình nhắn gửi với người đời xin hãy trân trọng, giữ gìn được những điều thiêng liêng còn lại của vương quốc Phù Nam một thời vàng son:

“bao bí ẩn vùi mình trong lớp đá xanh rêu

thành quách tiêu điều

thấp thoáng hương hồn Phù Nam vương quốc

ơi! Óc Eo

hiện diện của em nói lên điều gì giữa đời thường quay quắt

em là có thật

thì xin hãy nhẹ nhàng đừng làm đất mẹ Thoại Sơn đau!”.

Khi tìm dấu xưa Trên thềm cổ Óc Eo, Bùi Văn Bồng đã cảm nhận được di vật  Óc Eo còn đâu đây trong “cát mịn bùn non”, “trong đất đá phủ dày”,… nó rất xa mà cũng rất gần với cuộc sống hôm nay:

“Ấm nồng hiện vật trên tay

Nối xưa sau với đủ đầy riêng chung

Trong âm thanh của vô cùng

Đất nâu giữ lại một vùng quê riêng

Những tiếng cồng, những tiếng chiêng

Kiếm cung giữ cõi, lời thiêng giữ nhà”.

Hơn hết, với cái nhìn trân trọng, tự hào đối với dấu xưa đã tìm được, nhà thơ khẳng định những hiện vật còn lại dù trải qua thời gian đằng đẳng, nắng mưa, gió bụi dập vùi nhưng vẫn hiện rõ dấu tích, công lao của các bậc tiền nhân đã dày công khai phá dựng xây miền đất này.

3. Nhìn chung, qua tìm hiểu nguồn thi hứng về văn hóa Óc Eo, chúng tôi nhận thấy, số bài thơ được viết từ nguồn thi hứng này tuy chưa nhiều nhưng đã thể hiện được những nỗi niềm tình cảm và nhận thức của con người hôm nay về quá khứ xa xưa. So với những nguồn thi hứng khác của thơ ĐBSCL sau năm 1975, nguồn thi hứng về văn hóa Óc Eo như một dòng chảy lặng lẽ, thâm trầm và rất da diết, bền bỉ. Nó có sức gợi và làm xao xuyến nỗi niềm của thi nhân để từ đó với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, họ có thể sáng tạo nên những vần thơ hay. Ở mức độ nào đó, điều này ảnh hưởng đến sức lan tỏa của di sản văn hóa Óc Eo trong đời sống dân tộc. Chúng tôi những mong dòng chảy này sẽ tiếp tục bồi đắp nhiều hơn cho phù sa thơ ĐBSCL để trên cơ sở đó, càng ngày càng có thêm nhiều bài thơ hay bắt nguồn từ thi hứng về di sản văn hóa Óc Eo.

Cần Thơ, 9/2021

         N.L.Đ

TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:

1 .Nhiều tác giả (2006), 30 năm thơ An Giang, Văn nghệ An Giang.

2. Nhiều tác giả (2008), Thơ viết về An Giang, Văn nghệ An Giang.

3. Nhiều tác giả (2020), Tự dưng mà nhớ An Giang, NXB Văn hóa – Văn nghệ và Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật An Giang.

4. Nhiều tác giả (2021), Thơ Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020(Tác phẩm từ cuộc thi thơ Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ VI, năm 2020), NXB Văn hóa – Văn nghệ và Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật An Giang.

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm