TIN TỨC

Cuộc du ngoạn bằng thơ đầy cảm xúc

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-11-22 18:33:31
mail facebook google pos stwis
1878 lượt xem

HOA NGỌC DUNG
Bài tham luận đọc tại buổi ra mắt tập “Những dấu chân thơ” của nhà thơ Trần Kim Dung.

NHỮNG DẤU CHÂN THƠ” Là tập thơ thứ Ba của tác giả Trần Kim Dung do nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành vào đầu tháng Sáu năm 2023. Đúng như tựa đề, chị đã đi nhiều nơi, hiện diện ở nhiều chỗ. Hầu hết các vùng miền, các danh thắng của Việt Nam, chị đều có mặt. Từ các nước Châu Âu xa xôi, đến các nước Châu Á rộng lớn, Châu Úc ở phía Nam Bán cầu… Bất cứ nơi đâu, gót son lướt qua, là ở đó tiếng lòng của chị đồng thời cất lên với niềm cảm hứng dâng trào bằng trái tim thổn thức những nhịp đập rộn ràng, tự nhiên, thiết tha, đằm thắm như sự vốn có của thiên nhiên, của đất trời của lòng người và của chính sự thôi thúc réo gọi của những địa danh nơi chị đã từng bước chân tới!... Toàn bộ tập thơ tự vang lên như những bản hùng ca vọng mãi giữa đất trời đầy kiêu hãnh hào hùng!...


Nhà thơ Trần Kim Dung

Lòng chị khoan thai nhẹ nhàng và không dấu nỗi niềm tự tôn của một dân tộc anh hùng, vừa trải qua cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chưa lâu, đã làm nên kỳ tích mà cả Đông Nam Á phải xuýt xoa ngưỡng mộ. khi xây dựng đường hầm độc đáo sát đáy, vượt sông Sài Gòn, có chiều dài hơn một cây số bằng công nghệ hiện đại thời 4,0 vơi sáu làn xe hai chiều riêng biệt:

“Tôi đi dưới vạn sao mai

Ngỡ huyền thoại, ngỡ trăng cài đáy sông

Ngõ vào sâu hút mênh mông

Bỗng một thoáng đã nắng hồng Thủ Thiêm

Nối hai bờ thật dịu êm

Như là câu chuyện thần tiên thuở nào”.

Đọc những câu thơ hồn nhiên, gần gũi ấy, lòng ta như lắng lại. Cảm nhận cái đẹp, và tầm lớn lao của một công trình thế kỷ. Mà chính người Việt mình làm nên, theo công nghệ Nhật Bản hiện đại, có tuổi thọ lên đến hàng trăm năm. Công trình thế kỷ ấy là sự thật, là đương nhiên, nhưng lại ở một vị tri “ẩn mình”, nằm lặng “dưới đáy sông”, vị trí mà ít người trông thấy, ít người biết đến… Chính nguồn cảm hứng của tác giả khiến cho sự lan tỏa của sự vĩ đại, chạm vào hồn người, nhiều trường hợp biêt, hiểu qua những vần thơ của thi nhân khi đọc “Bầu trời dưới đáy sông” của chị…

Thế đấy, khi tiếng lòng của tác giả cất lên bởi tình yêu tha thiết quê hương đất nước. Bởi sự chân thật của một tấm lòng biết ơn sâu sắc những con người đã tạo nên công trình có một không hai, trên mảnh đất từng trải qua nhiều máu và nước mắt của dân tộc ta, qua hai cuộc chiến tranh. Cũng là mảnh đất cháy bỏng yêu thương, đầy quyết tâm và tràn trề nghị lực này!... Hoàn toàn bằng cảm xúc. Không mang tính vụ lợi hay quảng cáo truyền thông mà thấm vào lòng người tự nhiên như sự tự nhiên của sự sống!...

Lần theo “Những dấu chân thơ”, độc giả còn được chứng kiến biết bao điều kỳ thú như những “chuyến du ngoạn không đồng”. Chính sự phong phú về kiến thức lịch sử, địa lý, xã hội… sự chịu đọc, chịu nhớ và tìm hiểu nhiều điển tích, điển cố… mà qua từng bài thơ chị đã ghi chú công phu, rành rẽ những chi tiết, mà nhiều người khi đọc chưa bắt gặp bao giờ!

Ta hãy lắng nghe cảm xúc của chị khi đến nơi nguồn cội của phái Thiền Tông (tu thiền hành đạo) của người Việt đã được Phật Hoàng Trần Nhân Tông sáng lập từ đầu thế kỷ thứ 14, sau khi Ngài đã lãnh đạo quân, dân Nhà Trần hai lần đánh thắng oanh liệt quân Nguyên Mông năm 1285 và năm 1288.

Sau khi nhường ngôi cho Thái tử Anh Tông năm 1293. Chỉ vì tâm nguyện cầu mong cho Quốc Thái, Dân An mà Ngài đã đến nơi non thiêng nước biếc Yên Tử, tu thiền hành đạo, lập phái Thiền Tông! Bất kể gió mưa giá rét và biết bao thú dữ rình rập. Ta mới hiểu ý chí sắt đá và quyết tâm làm việc thiện, việc đạo của Ngài!.... Cho đến nay nơi đây vẫn chênh vênh, núi cao vực thẳm, mặc dù đã có hai tuyến cáp treo vẫn còn phải leo bộ cả hơn 4 tiếng đồng hồ mới tới đỉnh. Chùa Đồng (tạo tác bằng đồng nguyên chất 100% để chống lại mọi thời tiết khắc nghiệt), ngự ở độ cao 1.068 m với mực nước biển. So với nhiều núi cao khác thì Chùa Đồng chưa phải chiếm ưu thế. Nhưng về độ khó để lên tới đỉnh, như sự hiểm trở của lối đi, sự chênh vênh của từng vách đá, sự trơn trượt của rêu phong và đặc biệt là thời tiết thất thường, lúc nắng, lúc mưa, ẩm thấp. Với những trận gió từ đâu ào ào thổi tới như muốn hát tung tất ca! Chính vì vậy ta càng khâm phục sự chịu đựng và nghị lực phi thường của Phật Hoàng. Và cũng chính vì vậy khi tiếng thơ của Trần Kim Dung cất lên ta mới hiểu hết ý nghĩa của sự trường tồn về lòng ngưỡng mộ cũng như niềm cảm phục của nhân dân đối với ngài:

“Đây Chùa Đồng giao thoa trời đất

Khói hương hoa ngút ngát quyện mây trời

Mái cong vén sương, vén mây lên đỉnh núi

Chuông khánh ngân dài nghiêng ngả khắp trùng khơi”.

Bởi vậy cho đến bây giờ, và có lẽ mãi muôn sau, sự tri ân của chúng sinh và của toàn dân tộc với vị Phật Hoàng vẫn luôn là: “Khói hương hoa ngút ngát quyện mây trời”!

Lần theo “Những dấu chân thơ”, Ta còn bắt gặp biết bao điều thú vị. Đó là những con người, những câu chuyện ngỡ như chỉ có trong huyền thoại. Những cảnh vật tựa như nhưng bức tranh đẹp chỉ có trong cõi đào nguyên! Tác giả đã dẫn chúng ta đi suốt từ Bắc Vào Nam, từ miền Trung ra miền Bác. Đâu đâu ta cũng có cảm giác ngỡ ngàng như thực, như mơ!...

Đất và trời Phú Yên nơi ngập tràn nắng gió. Nơi trời phú cho bao dịa danh nổi tiếng, lừng danh… Ghềnh Đá Đĩa đã tồn tại bao đời nay, cả triệu, triệu năm “thi gan cùng tuế nguyệt”. Ghềnh đá như các lớp đĩa xếp chồng lên nhau, mỏi hết cả mắt nhìn… Trần Kim Dung đã có tư duy khám phá đặc biệt (có lẽ chưa ai nói tới). Chị đã tưởng tượng và hình dung nơi đây đã từng diễn ra một cuộc yến tiệc vô cùng to lơn, vô cùng hoành tráng của trời đất giao hòa, mà khi xong việc không đủ thời gian để cất giấu:

“Tiệc triệu năm đã qua rồi

Chỉ còn lưu niệm cho trời biển xanh

Ai đem đá xếp nên ghềnh

Chơi vơi mây gió dập dềnh sóng xô?”

Mới hiểu rằng sự tưởng tượng của thi nhân rộng lớn và sâu săc biết nhường nào!?...

Ta lại theo gót chân chị về với Cao Bằng nơi biên cương của tổ quốc, nơi có núi Các Mác, suối Lê Nin. Có hang Pắc Bó. Nơi Bác Hồ kính yêu của toàn dân tộc đã dừng chân và trở thành căn cứ địa cách mạng những ngày tiền khởi nghĩa. Để bây giờ Cao Bằng đã không ngừng phát triển sinh sôi. Cuộc sống của người dân đã hoàn toàn đổi mới. Vật chất sung túc dồi dào, sản vật dư dã giao thương kết nối sôi động cả núi rừng:

“Cô gái Dao gùi sương xuống chợ

Mộc nhĩ, nấm hương, hạt dẻ, măng rừng

Cô gái Nùng gánh cả nương ngô nếp

Trám chín, “thịt bò gác bếp”, mật ong”.

Hình ảnh đep, nên thơ ấy, khiến lòng ta gợn chút bâng khuâng, hứng khởi, khi nghĩ về đất nước đã hết sự ngăn cách giữa miền ngược, miền xuôi. Ở đâu con người cũng hoàn toàn được sống tự do, tự tại, tổ quốc nơi nào “cũng đẹp như tranh”!...

Chị viết về Điện Biên, về đồi A1 với một tấm lòng phấn khích tự hào. Vẫn như đang thấy đoàn dân công không sợ gian lao nguy hiểm mà quyết đưa hàng ra tiền tuyến kịp thời. Trong tâm tưởng của mình, chị đang hình dung những chiến sĩ quả cảm, không sợ hy sinh, băng qua bom lửa, quyết cắm được lá cờ tổ quốc trên nóc hầm tướng Đờ Cát Tờ ri.

Chị cũng không quên kính cẩn nghiêng mình trước anh linh bao anh hùng, liệt sĩ trên đồi A1 đã hy sinh cho nền độc lập tự do của tổ quốc hôm nay! Chị cũng không khỏi không trăn trở và đắng lòng xót xa cho bao chiến sĩ vô danh, để làm rạng danh cho đất nước:

“Ngày anh đi có tên tuổi, họ hàng

Có quê hương, xóm làng yêu quý

Có cha mẹ thương yêu, anh chị

Nay tên anh gửi vào lòng đất quê xa”.

Đọc thơ mà ta cảm giác cay nơi khóe mắt, và mặn ở trên môi!...

Cứ lần theo từng bước chân của chị, chúng ta sẽ lần lượt đi từ Bắc, chí Nam. Từ xứ Lạng, mái đình Trà Cổ những nơi địa đầu của tổ quốc linh thiêng. Về xứ Thanh mảnh đất địa linh nhân kiệt. Nơi xuất thế ba triều vua của dân tộc vẻ vang. Ta được đến Vũng tàu, Côn Đảo nơi cực Đông của tổ quốc Việt Nam. Ta lại về Đất Mũi Cà Mau, Kiên Giang đến Phú Quốc Đảo Ngọc, cực Nam cuối cùng của đất nước thân yêu!... Nơi đâu trong thơ Trần Kim Dung cũng đều là những bức tranh thủy mặc với những nét chấm phá, đầy đủ những màu sắc thắm dịu, tươi mát nhẹ nhàng; Với độ ánh sáng trong suốt, lung linh huyền diệu! Những khắc họa làm mê mẩn hồn người!...

Và chị cũng đã làm sống dậy sự quật cường và hồn thiêng dân tộc, hồn thiêng sông núi:

“Đây biển năm xưa thuyền giặc chìm la liệt

Tiếng hò reo, tiếng kèn giục dậy làng

Đền Quan Lạn hôm nay quân tướng về dậy sóng

Trống hội, quạt cờ nghiêng ngả bến Sông Mang”.

Hay:

“Gặp ghềnh Dầu giữa trùng dương

Đền Nguyễn Trung Trực khói hương ngút trời

Nghe đâu đây vọng một lời

“Nước Nam hết cỏ, hết người đánh Tây”.

Vượt qua biên giới nước mình, tác giả đặt chân đến trời Tây như Thụy Sĩ, nước Ý, rồi đất nước của Napoléon đại đế … Những nơi chị đến, ở đâu cảm xúc của chị cũng dâng trào và rồi cứ thế lần lượt các tác phẩm văn học bằng văn vần lại lần lượt ra đời, để ngợi ca, để lan tỏa những điều tốt đẹp của những nền văn minh mà cả nhân loại đã phải ngã mũ cúi chào. Là Thành Roma cổ kính, là đấu trường La Mã cổ đại, là đỉnh Anpơ huyền thoại như tranh. Là nhà thờ Đức Bà với kiến trúc lộng lãy, mang nét linh thiêng huyễn hoặc mà cả thế giới chỉ có một mà thôi! Đó là con sông Seine (Xen) huyền thoại đẹp bậc nhất hành tinh… Là biết bao nét đẹp lung linh đã đi vào thơ chị tự nhiên như cuộc “du lịch bằng thơ” mà độc giả may mắn được đi cùng:

“Nhà thờ Đức Bà nơi đây

Chín thế kỷ đã làm say lòng người”

Hay:

“Eiffel (Ép fen) vờn đỉnh mây mờ

Sông Seine mắt biếc lặng lờ thuyền trôi”

Rồi đến:

“Anpơ tuyết phủ trắng trời

Như rồng uốn lượn đất trời châu Âu”!...

Chị trở về châu Á, đến Ăngko, đến Vạn Lý Trường Thành. Nơi người xưa đã tạo nên những kỳ quan như thế! Đến nước Úc phía Nam bán cầu. Nhà Hát Con Sò là biểu tượng cho nước Úc vĩ đại!...

“Những bước chân thơ” của Trần Kim Dung như một cuốn phim thời sự phản ánh cuộc sống đương đại từ Á, sang Âu … Cũng như phản ánh công cuộc xây dựng đất nước thân yêu của chúng ta trong thời kỳ đổi mới. với nền công nghiệp thứ tư (4.0). Chị đã đưa độc giả đến những nơi chị đến. Và khán giả không khỏi ngạc nhiên trước cái đẹp, cái hùng vĩ của đất nước mà họ chỉ có dịp được biết qua “cuộc du ngoạn bằng thơ” đầy cảm xúc và công phu của tác giả.

Xin được chúc mừng tác phẩm mới này của chị! Chính nó đã làm thổn thức bao trái tim của độc giả khi được trân trọng đón nhận tác phẩm đáng đọc này.


Nhà thơ Hoa Ngọc Dung trong một buổi sinh hoạt của Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TPHCM.

Tháng 9/2023.

ĐỌC THƠ KIM DUNG

                           Nguyễn Văn Thưởng


Đọc thơ của chị Kim Dung

Bao nhiêu thắng cảnh như bừng sáng hơn

Vũng Tàu, Côn Đảo, Đồ Sơn

Bản Dốc, Yên Từ, Chùa Nôm, Vân Đồn

Sa Pa, Đảo Ngọc, Sầm Sơn

Thiên nhiên hòa với tâm hồn thơ ca.

Vi vu khắp nẻo gần xa

Hết Trung, Nam, Bắc lại ra nước ngoài

Đến đâu chị cũng có bài

Trong thơ sử, địa cả hai song toàn.

Còn khi đến với Đằng Giang

Ngắm hoa chị lại mơ màng tuổi xuân.

 

Hồn thơ sâu nặng nghĩa nhân

Người - thơ hòa hợp mười phân vẹn mười.

                                                   Tháng 9/2023

Nhà thơ Nguyễn Văn Thưởng trong một buổi sinh hoạt của Hội thơ Nghệ Tĩnh tại TPHCM.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm