TIN TỨC
  • Truyện
  • Đò Phiên – Truyện ngắn Tống Ngọc Hân

Đò Phiên – Truyện ngắn Tống Ngọc Hân

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-03-11 16:36:31
mail facebook google pos stwis
2914 lượt xem

Cách cầu ba ki lô mét về phía hạ nguồn là bến đò Phiên. Thuở bà nội Chiêu còn sống, bà kể, bên kia sông, có cái chợ phiên sầm uất và đông đúc nhất vùng. Chợ phiên họp vào các ngày hai, ngày bảy âm lịch trong tháng, người bên này sang đông lắm. Nhất là những ngày giáp tết. Và hầu như bến đò này chỉ có người sang sông vào ngày chợ phiên, nên được gọi luôn là đò Phiên.

Nhà văn Tống Ngọc Hân

Lúc Chiêu còn nhỏ, Chiêu cũng hay theo bố mẹ đi chợ bán hoa đào bên đó. Có những chuyến đò chỉ có vài người còn lại đầy hoa đào. Con đò như chiếc nơ hồng rực cài trên mớ tóc dài suôn lấp lánh ánh bình minh. Kể từ khi xuống thành phố học, đi làm rồi lấy chồng, tính ra, đến mười lăm năm rồi, Chiêu không đi đò Phiên. Không biết bên ấy còn phiên chợ không, còn đông đúc không, khi mà siêu thị mọc ra ở khắp mọi nơi và giờ người ta chọn đi cầu cho tiện.

Trong ký ức của Chiêu, đò Phiên gần như bị vùi lấp bởi bao nhiêu kỷ niệm thời sinh viên, bỗng dưng hôm nay, bến đò lại hiện lên rất lạ. Chuyến xe thưa người, ngồi cạnh Chiêu là một người đàn ông ngoài sáu mươi. Khi lái xe hỏi xuống đâu, người đàn ông nói, cho tôi xuống cổng làng Vân Diệu. Chiêu giật mình, nhưng không nói gì. Chiếc khẩu trang che kín khuôn mặt người đàn ông, chỉ hở hai con mắt và một vết sẹo dài trên trán, Chiêu đoán ông ta chỉ là khách của làng Vân Diệu, cho dù ánh mắt nhìn Chiêu rất quen.

Xe dừng gần cổng làng lúc sáu giờ tối, bị chậm hơn mọi khi hai mươi phút. Trời cuối năm, sáu giờ là tối lắm. Ông ta xách chiếc cặp số màu đen xuống trước. Chiêu xách chiếc va ly nhỏ xuống sau. Dù Chiêu cố để đi chậm lại và giữ khoảng cách với người đàn ông thì cũng không tránh được sự tò mò của những người đàn bà đang hái rau muống dưới ruộng ngay sát con đường đi vào làng.

Người đàn ông đi lệch về một bên như thể một bên chân ông ấy làm bằng bê tông, thẳng tuột, còn bên kia thì ngắn như bị rút bớt lại. Ông cố tình đi chậm và hỏi Chiêu bằng cái giọng méo mó:

– Cô cần tôi giúp không?

– Bác về nhà ai trong làng? Chiêu trả lời bằng một câu hỏi.

Người đàn ông vui vẻ trả lời.

– Tôi chỉ ghé qua làng thôi. Tôi ra đò Phiên.

Chiêu ái ngại.

– Giờ này chắc gì đò còn chạy, cháu nghe nói đò chỉ chạy ngày phiên mà. Sáng mai mới mười bảy, nay mười sáu.

Người đàn ông cười bằng mắt.

– Tôi vẫn đi suốt mà. Chắc cô ít về quê thôi.

Chiêu không nói gì. Nếp sống ở thành phố đã ngấm sâu vào cô, nó khiến con bé hay nói hay cười, hay bắt chuyện người lạ khi xưa biến mất khỏi Chiêu không để lại một chút dấu vết. Đến cổng nhà, Chiêu rẽ vào, ông xách cặp số nhìn theo Chiêu, cho đến khi bị Chiêu bất ngờ quay đầu, phát hiện, thì ông ấy mới đi tiếp.

Buổi tối, hai mẹ con ngồi làm măng để sáng mai nấu canh làm cỗ giỗ bà nội, Chiêu hỏi mẹ.

– Đò Phiên giờ còn chạy không mẹ?

Mẹ bảo: Không, đường xuống bến đò, người làng dấp rong lại cho trẻ con không xuống sau ngày cụ Phóng mất. Làng mình không ai chạy đò nữa vì không kinh tế. Sắm con đò máy bao tiền, người qua sông thì ít, họ bỏ, đi cầu xa nhưng lại hóa gần, chờ đò cũng lâu. Mà bến đò giờ sâu như vực, trông sợ lắm.

Rồi Chiêu hỏi mẹ về người đàn ông sách cặp số đi về phía bờ sông. Mẹ ngơ ngác nói:

– Làng này, ngoài bố con, làm gì có ai như thế.

Cả đêm, Chiêu cứ trằn trọc vì nghĩ đến chuyện người đàn ông lạ có ánh mắt rất quen.


Minh họa (Ảnh: Internet)

Dòng sông đoạn đi bên cạnh làng Vân Diệu không rộng nhưng rất sâu. Suốt mấy chục năm, dòng sông chỉ lở phía làng, bờ rất chựng, hoăm hoắm. Những mùa lũ lớn người trong làng đêm nghe tiếng đất lở thùm thùm không ngủ được. Người làng vẫn bảo nhau, nếu không có cách gì đó trị thủy, thì chả mấy mà mất làng. Thì thoảng, những người trong làng vẫn chỉ cho nhau một vết nứt mới trên những mảnh vườn mà mọi người đã ra sức trồng tre gai để kè giữ. Mẹ Chiêu kể, tính từ khi mẹ về làm dâu đất này, làng mất đi cả trăm mẫu đất bãi trồng ngô và trồng hoa đào bán cho thành phố chơi tết. Cứ lở thôi, những vết lở sâu toang hoác cáu đầy bọt nước nom như miệng con thú dữ còn để lại dấu tích của những con mồi nó vừa chén xong. Mỗi khi sông ngàu đỏ, nước ói vào đồng mang theo bọt rác, ấy là lúc đất lại cồn cào lở. Năm nay khuyết lũ. Cả mùa nước không thấy trận lũ nào, cũng không thấy bờ lở, dòng sông hiền lành như cô gái quê mới lớn ôm ấp trong lòng khát vọng đi xa nhưng không dám tỏ bầy với ai. Từ làng Vân Diệu nhìn sang bên kia sông, bãi ngô xanh biếc bạt ngàn, làng bên ấy rất trù phú vì mỗi năm lại được bồ đắp thêm. Bên ấy bồi, bên này lở. Bên ấy, làng như hình chiếc mâm, bên này, làng như hình chiếc liềm. Bồi mấy chục năm liền nên chợ phiên gần bờ sông ngày xưa bây giờ đã thành trung tâm thương mại to đùng giữa thành phố. Trông người lại nghĩ đến ta. Những người mê tín trong làng nói tại phước làng mỏng nên vậy. Trị thủy đâu có dễ, làm không đến đầu đến đũa, thì sẽ bị thủy trị.

Bố Chiêu là ông già cổ lỗ sỹ nhất làng Vân Diệu. Hễ ai đó nói chuyện sông nước, ông lại thao thao kể về trận đại hồng thủy ngày xưa, khi ông còn là cậu bé mười lăm tuổi. Ông nói, năm ấy, chính ông cụ sinh ra ông là người đem công văn hỏa tốc từ tỉnh về huyện, yêu cầu phá đê để cứu thủ đô. Cả năm sáu xã vùng hạ huyện, nước sông phăng phăng lao vào từ chỗ đê bị phá làm ngập lụt mất bao nhiêu hoa màu, gia súc, gia cầm, chỉ người dân do được lệnh sơ tán chạy lên đồi cao là không ai thiệt mạng cả. Với chiếc thuyền nhỏ, ông bơi lần lượt từ gò này sang gò khác để phát thuốc tiêu chảy cho bà con vì toàn bộ các giếng nước đã bị ngập hết. Bố bảo, “quen mui bén mùi ăn mãi”. Nước đã được rước vào đồng như thế một lần, thì từ sau, nó vẫn nhớ lối cũ mà vào thôi. Làng Vân Diệu là cửa ngõ của nước nên không tránh khỏi. Giờ sông không còn lũ to như xưa, nhưng cứ đến mùa, nước vẫn thúc vào sườn làng Vân Diệu, tạo thành những vết thương đỏ ối, gớm ghiếc. Mỗi lần bố nói, mẹ Chiêu đều gạt đi. Ông lẩm cẩm rồi. Ông rành về nước thế thì tại sao không chiêm luôn một quả gò mà làm nhà cho cao ráo lại cứ bám mạn sông làm gì để vợ con cả đời thấp thỏm. Mỗi lần bố mẹ có dấu hiệu căng thẳng là mấy anh em Chiêu lại bắt đầu can ngăn. Anh trai sẽ bênh mẹ. Đúng đấy, mẹ nói có lý. Ở bờ sông tổn thọ vì lo lắng. Còn chị gái Chiêu sẽ bênh bố. Ai mà cũng bỏ làng đi vì sợ thì bây giờ, chỗ này thành giữa sông rồi. Mấy lại, mới chỉ lở mất bãi làm hoa màu, chứ đã lở nhà ai bao giờ đâu. Làng mình xưa giờ không ai làm lúa, chỉ làm ngô, làm hoa nên mới đổ thừa cho nước. Người trong đê bỏ hoang ruộng đầy kìa, muốn làm lúa thì vào mượn, có sao đâu.

Đêm thứ hai ở nhà mẹ sau hơn nửa năm không về, Chiêu ngủ ngon, bù cho hôm trước. Khoảng gần sáng, Chiêu nghe thấy tiếng gọi đò rất rõ vọng từ bến vào. Đò ơi, ơi đò ơi, có ai đò không? Chiêu nhỏm dậy, xỏ dép, bật điện, đi ra giường ngoài, thấy mẹ nằm quay mặt vào trong, không thấy bố đâu cả. Chiêu ngạc nhiên xen lẫn lo lắng.

– Khuya khoắt như này bố đi đâu rồi?

Chiêu lay mẹ. Mẹ ơi, mẹ…

Mẹ Chiêu tỉnh giấc.

– Ơ hay, con bé này, ngủ đi, sao lại gọi mẹ giờ này?

– Mẹ à, con vừa nghe tiếng gọi đò.

– Ôi giời, cứ nghe vớ nghe vẩn. Làm gì có ai gọi. Tôi chả nghe thấy gì sất.

– Thôi, con vào buồng con. Mà bố đi đâu thế mẹ? Khuya thế này.

– Ơ hay nhỉ cái con bé này. Con mày lên mấy rồi, mày biết không? Bảo ngủ ngoài đây thì cứ chui vào trong ấy, kêu muốn ngủ phòng cũ. Chăn gối lâu không ai nằm hôi mù. Tôi thì bận không mở mắt ra được.

Lúc này thì Chiêu mới tỉnh hẳn. Cô như người mộng du trong ký ức của mình. Rất nhiều lần, trở về nhà, Chiêu hỏi, bố con đâu hả mẹ. Rất nhiều lần gọi điện thoại, Chiêu nói mẹ cho con nói chuyện với bố tí. Trong ký ức của Chiêu không có sự ra đi đột ngột của bố. Không có bất cứ sự khuyết vắng nào trong căn nhà cô từng sinh ra, lớn lên. Bố mẹ cô và những người làng Vân Diệu cả đời lam lũ cặm cụi bám đất bám làng kiếm sống và sống một cuộc đời thanh đạm. Lứa của Chiêu, những đứa đi xa quê thì phần lớn ít trở về. Đứa lấy chồng thành phố, đứa lấy vợ rồi ở lại thành phố, nơi sinh ra lớn lên, nghiễm nhiên trở thành quê cũ, thành cố hương mà câu hát “quê hương là chùm khế ngọt” lâu lắm mới lảng vảng trong đầu một lần.

***

Tuần thứ ba mươi bảy của thai kỳ, bác sỹ nói ối vẩn và cạn quá mức cho phép dù mỗi ngày Chiêu uống đến ba trái dừa tươi. Bác sỹ trưởng khoa quyết định mổ bắt con sau khi tự tay ông siêu âm và xem hình ảnh. Đây là đứa con trai đầu lòng của Chiêu nên đứa bé nhận được rất nhiều sự quan tâm yêu thương của cả gia đình hai bên nội ngoại. Sau liều gây tê vùng, bác sỹ véo vào bụng Chiêu, cô kêu ầm lên. “Đau quá”. Bác sỹ gây tê lẩm bẩm… “ngày nay là ngày gì không biết, đây là ca gây tê thứ ba không thành”. Chiêu bị gây mê toàn thân.

Cô mở mắt ra trong căn phòng sáng choang, nhìn quanh ngơ ngác. Cô khẽ gọi:

– Anh Quang ơi.

Chồng cô từ ngoài bước vào nhìn cô ân cần. “Em đau lắm phải không!? Chiêu lắc đầu. Quang lại hỏi. “Làm sao em khóc? Anh thấy em khóc à?”

– Con đâu anh?

– Ừ, anh vào hai lần, em chưa tỉnh nhưng nước mắt cứ chảy quanh, anh biết là em khóc. Để anh đưa em về phòng hậu phẫu nhé. Con ngoan lắm. Bà nội đang bế.

Phòng hậu phẫu có sáu sản phụ mổ sinh, Chiêu ít tuổi nhất và là người tỉnh dậy sau cùng. Ai cũng bảo họ tỉnh ngay sau khi sinh con vài chục phút, chỉ có Chiêu mê man suốt năm giờ đồng hồ. Chiêu nghiêng người nhìn về phía con trai đỏ hỏn, bé tí. Mẹ chồng cô đặt đứa trẻ vào cạnh cô và nựng cháu.

– Nằm cho có hơi mẹ thôi, chứ mẹ chưa có sữa đâu nhá.

Chiêu không ngừng đưa mắt tìm kiếm khắp căn phòng. Nhưng Chiêu không hỏi. Chỉ tủi thân ứa nước mắt. Thuốc gây mê đưa Chiêu vào cơn mê lạ lùng. Chiêu chạy giữa một triền sông đầy hoa cải vàng để đuổi theo hai con bướm trắng. Đến khi cô ra sát bờ sông thì đất bất ngờ lở xuống, cô rơi xuống sông và chới với giữa dòng tuyệt vọng. Nước cuốn cô đi rất xa. Chiêu mắc vào một chiếc vó bè rất lớn và một ông già kéo cô lên. Ông hỏi cô người đâu, cô nói người làng Vân Diệu. Ông già bảo tôi sống gần hết đời người ở bến sông này mà không nghe tên làng Vân Diệu bao giờ. Và Chiêu bật khóc nức nở.

Chiêu được chuyển về phòng riêng theo yêu cầu của gia đình. Lúc ấy đã mười giờ đêm, nhà cô thì không gần bệnh viện lắm. Nhưng khi cô chuẩn bị lên bàn mổ, chính bố gọi điện thoại bảo bố mẹ đang trên đường đến bệnh viện cơ mà? Sao giờ không thấy ai? Cả các anh chị nữa?

Mười giờ ba mươi phút đêm. Có tiếng bước chân người đi vào phòng. Chiêu quay cổ nhìn ra. Là bố chồng cô. Ông mang theo một bình sữa nóng và nói cô uống cho lại sức và sữa chóng về.

Khuya, lại có tiếng bước chân, Chiêu nhìn ra. Là ông trưởng khoa. Ông ân cần hỏi han và xem mắt thằng bé rất kỹ.

– Vàng da sơ sinh thôi. Ba bảy tuần mà hai cân bảy là ngon lành rồi, khi nào có sữa phải cho cháu bú ngay nhé.

Gần sáng lại có tiếng bước chân, Chiêu nhìn ra cửa. Không có ai cả, có lẽ là cơn gió thốc từ đầu hồi dọc hành lang, va phải cánh cửa phòng nào đó không khép thôi. Đêm dài thế không biết. Không nhịn được nữa. Chiêu hỏi chồng.

– Sao bố mẹ em không tới, cả chị dâu và chị gái đâu? Mọi người đâu cả rồi? Hay em vẫn đang mơ?

Chồng Chiêu mỉm cười.

– Mọi người ngồi ngoài kia, không ai được vào đâu? Vân cãi.

– Sao ông bà nội vào được?

– À, do ông bà đến sớm và đăng kí từ trước. Tiêu chuẩn chỉ có hai người thôi mà.

Mẹ chồng cô nhắc con trai: “Vợ đã hay nhìn ra cửa, mày còn cứ lượn ra lượn vào”.

Ngày thứ hai, cơn đau co tử cung và đau từ hai vết rạch khiến Chiêu tái mặt. Nhưng Chiêu không ngừng thắc mắc và chồng cô tìm cách dối quanh. Đến ngày thứ ba thì chồng cô buộc phải nói thật. Bố cô bị tai nạn trên đường đến bệnh viện do một chiếc ô tô mất lái đâm vào. Cả hai người và chiếc xe bị văng ra xa nhưng mẹ cô chỉ thương nhẹ.

Chiêu cắn răng vào chiếc khăn tay chặt đến nhức nhối, đến mức tự cô không lấy cái khăn ra được. Máu tươi từ vết mổ rỉ ra, thướm qua băng gạc ngấm vào chiếc tã chéo màu hồng mẹ chồng cô buộc ngang bụng cô làm hèm. Chiêu khóc bằng hai bàn tay nắm chặt vào nép giường và nước mắt cô chảy ướt mái tóc dày xổ ra, màu đen chảy lai láng trên nền đất khiến mẹ chồng cố cứ lát lại gom tóc con dâu để lên giường. Tóc cô bết lại như một dải rêu bị người ta vớt lên khỏi nước và vắt lên tảng đá hong nắng. Nếu cô không sinh con ngày hôm nay, thì bố cô có bị tai nạn không? Nếu cô chịu khó uống thêm hai trái dừa nữa một ngày. Nếu cô bảo bố mẹ đừng đến, mẹ chồng con ở đây rồi. Nếu cô đừng lấy chồng xa. Nếu cô đừng sợ dòng sông chỉ lở mà không bồi. Nếu…

Chiêu tự dằn vặt đến mụ mị. Mẹ chồng cô ngồi tựa vào tường bất lực nhìn con dâu vật vã trong cơn đau đớn mà đời bà sáu lần sinh nở không bao giờ phải chịu như thế. Chồng cô nói như van nài.

– Em cố gắng bình tĩnh đi. Con đang cần sữa mà. Em nhìn này, sữa em trong như nước mắt ấy.

Chiêu cũng không hiểu tại sao nước mắt mình lại đi ra bằng con đường ấy. Chả phải mọi người không muốn cô khóc hay sao? Hay là mắt cô đã mờ mịt rồi?!

Ngày Chiêu ra viện về nhà. Bố cô chìa tay đón cháu ở cửa, nhưng cô không đưa.

– Ông sẽ làm ngã cháu đấy.

Không hiểu sao Chiêu lại nói thế. Bố cô có vẻ giận. Ông bỏ đi. Ông bỏ đi khỏi Chiêu và giấc mơ của cô đến tận bây giờ. Giá như bố biết, cháu trai của bố giờ đã năm tuổi, thông minh, nghịch ngợm nhưng rất biết vâng lời.

Mẹ đến bế cháu ngoại đúng vào chiều ba mươi tết. Mẹ hỏi Chiêu:

Có nên hóa cái cặp số đen cùng toàn bộ đơn từ của bố con không? Nhìn thấy nó, mẹ mất ăn mất ngủ.

– Đơn gì hả mẹ?

– Ô hay, mẹ tưởng mẹ đã kể cho con nghe rồi. Bố con kiện kẻ đã làm lở đất làng mình ấy.

– Là ai hả mẹ? Con tưởng do trời thôi chứ.

– Không. Là do con người. Những cái tàu hút cát sỏi phía chân cầu ấy. Chính bọn họ làm dòng sông trở nên hung ác dữ tợn như thế. Bố con cứ xách cặp tài liệu đơn từ đi khắp nơi, gặp hết người này người khác, xin chữ ký khắp lượt người trong làng. Cái xe đâm vào bố mẹ gây tai nạn rồi bỏ chạy ấy, để lại trên áo bố con rất nhiều cát. Mẹ nhận ra những hạt cát làng mình.

Chiêu vội vàng.

– Theo con, mẹ nên hóa cho bố, để bố tiếp tục thực hiện những tâm nguyện dang dở.

Nói xong, Chiêu mới thấy mình vô lý. Mấy chục năm, bố đi khắp đây khắp đó, tìm cách, tìm nơi cứu làng, cứu dòng sông mà chưa đâu vào đâu. Tất cả chỉ là lời hứa hẹn. Bố đã gõ bao nhiêu cánh cửa, đến bao nhiêu cuộc họp. Thậm chí, bố còn nhảy lên xuồng cát, cãi nhau tay đôi với bọn phá hoại, nhưng rút cục, bố đã đạt được điều gì? Giờ về bên kia, nếu muốn bố an nghỉ, thì nhẽ ra không nên hóa đi chiếc cặp số. Nhưng để lại thì mẹ sẽ mãi bị ám ảnh.

Chiêu xuống xe ở bến chính. Chồng cô đợi sẵn. Trên đường về, cô thủ thỉ.

– Tết này vợ chồng mình đưa con về ngoại ăn tết nhé.

Ngồi sau xe, Chiêu đưa mắt nhìn khắp phố xá hối hả những dòng người. Bỗng chồng cô bảo:

– Nhìn cái ông kia kìa, giống bố thế.

Giật mình nhìn theo tay chồng chỉ, Chiêu thấy người đàn ông vác một cành đào rất to chi chít hoa đang trôi trên phố như chuyến đò hoa làng Vân Diệu ngày xưa. Chiêu nói như người ngủ mê.

– Bố vứt cái cặp đi rồi hả bố? Hoa đào làng mình đẹp nhất bố nhỉ!

T.N.H

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mùa hoa gạo đỏ - Truyện ngắn Đặng Thị Phúc Hải
Tháng Ba ở làng Ngái không chỉ đơn thuần là một mùa đi qua. Đó là khoảng thời gian đất trời chạm vào nhau trong một vẻ đẹp hư ảo, khi dòng Kiến Giang trầm mặc như dải lụa xanh rêu, lặng lẽ ôm ấp linh hồn mảnh đất này trong vòng tay bao dung và miên viễn. Trong cái tiết trời giêng hai lất phất mưa phùn ấy, làng Ngái hiện ra như một bức họa thủy mặc đang chuyển mình tỉnh thức, nơi mùi hương nồng nàn của hoa xoan rắc tím những lối nhỏ ngoằn ngoèo, hòa quyện với hơi thở của đất ẩm và tiếng thở dài của những mùa cũ. Từ phía đình Ngái, nơi hai cây gạo già đã đứng đó qua bao mùa mưa nắng, sắc đỏ của những bông hoa gạo bắt đầu thắp lên giữa vòm trời, như những đốm lửa nhỏ âm thầm cháy trong ký ức của cả một làng quê. Ở làng Ngái, mỗi mùa tháng Ba về đều mang theo một nỗi bâng khuâng khó gọi thành tên. Dòng Kiến Giang vẫn chảy chậm rãi như thuở nào, mang theo những câu chuyện của đất, của người, và của những linh hồn từng rời đi nhưng chưa bao giờ thật sự rời khỏi miền ký ức này.
Xem thêm
Thương câu hát cũ – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
“Có những điều không còn ở lại giữa đời, nhưng câu hát cũ thì vẫn ở lại trong lòng người.”Dưới bến phà cũ của một thị trấn ven sông Hậu, người ta quen nhìn thấy con nhỏ Hai Thương ôm cây đờn kìm đi qua mỗi buổi tối. Nó không phải nghệ sĩ nổi tiếng gì, chỉ là đào trẻ của một đoàn cải lương tỉnh lẻ, vậy mà bước chân lúc nào cũng ngay ngắn, như thể sàn đất quê mình chính là sân khấu lớn. Hai Thương sinh ra trong một gia đình có truyền thống ca tài tử. Ngoại nó từng ca vọng cổ trong những đêm cúng đình, giọng trong và cao vút. Má nó theo đoàn hát mấy năm tuổi trẻ, sau lấy chồng rồi nghỉ. Ba nó làm nghề vá lưới, ít nói, nhưng mỗi lần nghe ai mở bản Dạ Cổ Hoài Lang là ngồi im lặng rất lâu. Trong căn nhà lợp tôn nóng hầm hập buổi trưa, tiếng đờn và tiếng ca là thứ âm thanh quen thuộc như tiếng gà gáy sáng.
Xem thêm
Câu cua – Truyện ngắn Lê Văn Tám
Sơn bơi xuồng về, nó ấm ức lắm vì ông Giáo keo kiệt không cho anh em nó mượn cái bình, bình ac quy Đồng Nai nhà nó hết điện đem đi sạc hôm qua, nhanh thì cũng phải hai hôm nữa mơi đủ điện lấy về. Tức lắm, sau này đi học điện, kéo điện về sài cho đã, mua cái tivi màu 50 in coi cho thấy cả cỏ trên sân, thấy cả lông chân cầu thủ, khỏi tivi trắng đen, nạp bình chi cho mệt người. Nó làu nhàu nói với Thành.
Xem thêm
Cát lư hương - Truyện ngắn Lệ Hằng
“Ba, ba… ơ kìa ba!”. Cánh cổng bị chiếc xe va trúng kêu xoảng lên một tiếng khó chịu vô cùng. Tôi nhìn người đàn ông lưng khòm gầy guộc quẩy chiếc nón đội lên đầu rồi dứt khoát đẩy xe cát ra khỏi sân mà chới với gọi theo.
Xem thêm
Đi qua mình truyện ngắn Chu Phương Thảo
Căn nhà nhỏ chìm trong một thứ im lặng quen thuộc đến mức không còn ai đủ sức gọi tên. Không tiếng cãi vã, không lời trách móc, cũng chẳng có một câu xin lỗi hay chia tay nào để khép lại những điều đã nứt vỡ từ rất lâu. Chỉ có hai con người, mỗi người ngồi trong phần tối của riêng mình, lặng lẽ chịu đựng một nỗi đau khác biệt, như thể sự im lặng này đã trở thành cách duy nhất để họ còn có thể ở lại bên nhau.
Xem thêm
Trở lại Phong Điền - Truyện ngắn Kim Quyên
Xe đang qua cầu Cần Thơ. Cây cầu thế kỷ lừng lững soi bóng trên dòng nước bạc mênh mang, những chiếc dây giăng khổng lồ nối từ nóc xuống thân cầu khiến ta không thể hình dung được khối óc và bàn tay con người đã làm nên những chiếc cầu đẹp, hiện đại mang tầm cỡ thế giới. Ban đêm, chiếc cầu mới khoe hết những nét rực rỡ của nó, đèn hoa giăng quanh cầu nhấp nháy khiến khi ngồi trên xe ta có cảm giác đang trôi trên dãy ngân hà của thời hồng hoang nào đó. Phía dưới là dòng sông mênh mông sóng vỗ, những cụm lục bình trôi mãi về nơi chân trời xa tít…
Xem thêm
Cố nhân - Truyện ngắn Cao Duy Sơn
Trở về Cô Sầu, anh đã đi qua hai mươi ba năm, ba tháng, hai mươi ba ngày. Đuôi các con số kết bằng con số ba trùng hợp thật ngẫu nhiên. Bước qua phố nhỏ, mái ngói tuềnh toàng gợi bao ký ức. Thời gian làm con người đổi thay nhưng phố xưa vẫn phố xưa đây.
Xem thêm
Rừng Thiêng - Truyện ngắn Võ Đào Phương Trâm
Rừng mang linh hồn từ máu và nước mắt, những lời nguyền kỳ bí không ít lần vận lên ngôi mộ của những gã ngông nghênh, hằn sâu ấn tích cho những ai vắt cuộc đời mình bằng nghề lộc gỗ mà không hiểu được nguyên tắc từ nơi rừng thiêng nước độc...
Xem thêm
Linh hồn bị giam cầm – Truyện ngắn Angela Kosta
Angela Kosta sinh ra tại Elbasan (Albania) và sống tại Ý từ năm 1995. Bà là Giám đốc điều hành của các Tạp chí: MIRIADE, NUANCES ON THE PANORAMIC CANVAS, BRIDGES OF LITERATURE, biên tập viên, nhà viết tiểu luận, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà xuất bản và nhà quảng bá văn học. Bà đã xuất bản 25 cuốn sách: tiểu thuyết, thơ và truyện cổ tích bằng tiếng Albania, tiếng Ý, tiếng Ả Rập, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh. Tác phẩm của Angela Kosta đã được dịch và xuất bản ở 40 ngôn ngữ nước ngoài và quốc gia. Năm 2023, tạp chí OBELISK tuyên bố bà là dịch giả xuất sắc nhất với bản dịch của nhà thơ đoạt giải Nobel Giosuè Alessandro Giuseppe Carducci.
Xem thêm
Genki và chiếc nắng trước hiên – Truyện ngắn Lê Hoàng Kha
Chiều ấy, nắng chạm rất khẽ vào lưng Genki. Cái bóng của nó in xuống nền gạch. Hơi méo, hơi lệch nhưng rất rõ một cái bóng đủ đầy. Tôi chợt hiểu: con người ta, cả đời đi tìm hai chữ “hoàn hảo”. Nhưng có lẽ, điều đáng quý hơn là “toàn vẹn”. Toàn vẹn trong chính hình dạng của mình. Toàn vẹn trong những gì mình có, chứ không phải trong những gì mình thiếu. Genki không dạy tôi cách trở nên mạnh mẽ, nó dạy tôi cách trở nên dịu dàng với chính mình.
Xem thêm
Như xuân tìm xứ – Truyện ngắn của Tống Phước Bảo
Thằng Ấu nhất quyết chỉ có cha già xuôi ghe từ Cái Rơn xuống chợ đèn dầu mỗi cuối tuần mới biết. Chứ hỏi khắp cái chợ thì ai cũng lắc đầu nguầy nguậy. Đám bán chợ này sinh sau đẻ muộn, khi mà trái sáng đã thôi rơi ngoài phía rạch, hỏa châu thôi làm đèn soi đêm khu bốn.
Xem thêm
Tôi viết truyện ngắn Tết - Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Một buổi chiều khi chị đang tha thẩn trong vườn bên những khóm hoa hồng thì Giêm bước đến và nói gì đó nhưng chị không hiểu. Chị vô cùng lúng túng và khó chịu. Chị muốn bỏ vào nhà. Nhưng thấy Giêm vẫn hào hứng nói chị không lỡ bỏ đi. Đang lúc chị không biết làm cách nào thì chàng nhà văn trẻ xuất hiện. “Cậu làm gì mà mất mặt cả chiều thế. Cậu có nhiệm vụ làm phiên dịch cho chúng tôi đấy’’. Chị gắt một cách vô lý. Hình như Giêm cũng rất mừng khi chàng nhà văn trẻ xuất hiện. Giêm nói một tràng dài. Chị muốn biết Giêm nói gì nhưng không giục chàng nhà văn trẻ dịch. “Tôi cũng không có nhu cầu nghe’’. Chị nói thầm. “Anh ấy bảo nhà anh ấy cũng có một khu vườn nhỏ và đầy hoa hồng – Chàng nhà văn trẻ dịch – Một năm sau khi từ chiến trường Việt Nam trở về, anh ấy bị trầm cảm.
Xem thêm
Người giỏi Sán Trá - Bút ký của Thế Quynh
Vượt dốc Bản Công, chiếc xe Honda Win 100 chạy ì ì, tiếng máy gằn lên nặng nhọc. Ngồi sau tay lái Hờ A Xà - nguyên cán bộ văn hóa xã Bản Công (nay là xã Hạnh Phúc) mà lòng tôi cứ thấp thỏm mỗi lúc vào cua. Hơn chục km, phân nửa thuộc thôn Bản Công đã bê tông hóa, còn lại vẫn là đường đất.
Xem thêm
Con Ngọ và tôi - Truyện ngắn Kim Quyên
Năm đó, con Ngọ 16 tuổi, còn tôi hơn nó 2 tuổi. Nó con ông cậu, em ruột của má tôi nên nó kêu tôi bằng chị. Gia đình bên ngoại nó không có dì cậu nào hết nên nó xem tôi như người chị ruột. Hai chị em gặp nhau là tíu tít không rời.
Xem thêm
Người cận vệ của vua Hàm Nghi - Truyện ngắn của Trần Thúc Hà
Một người ở xuôi thường lên xuống các bản làng dân tộc thiểu số bán muối và mua các sản vật của rừng. Người ấy cũng đã có vài lần đến bản ông, một bản làng tận rừng sâu heo hút trên dãy Trường Sơn, nơi thượng nguồn sông Long Đại, sông Nhật Lệ, sát biên giới với nước Lào.
Xem thêm
Mây trắng Tràng An – Truyện lịch sử Nguyễn Thị Việt Nga
Từng dải dài lững lờ như tơ trời vắt qua bầu không gian xám nhạt. Có cụm mây xốp như gấm, có mảng mây mỏng như làn khói, có vệt rời rạc như hơi thở cuối cùng của một người hấp hối. Tất cả trôi, không âm thanh, không phương hướng. Trôi như đã trôi ngàn năm trên trời đất Tràng An này.
Xem thêm
Hoa vẫn nở - Truyện ngắn của Nguyễn Thị Minh Phương
Hoa vẫn nở của Nguyễn Thị Minh Phương là một truyện ngắn thấm đẫm không khí miền núi, nơi bi kịch gia đình, thân phận người đàn bà và sự mù quáng của lòng ghen được kể lại bằng giọng văn chậm, sâu và nhân ái.
Xem thêm
Khai khẩu - Truyện ngắn của Nguyễn Trường
Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, một người lính tìm gặp Diệu Thúy, trao cho cô lá thư, nói là của ngài Trung tá tỉnh trưởng Kiến Hòa.Diệu Thúy hồi hộp mở thư ra đọc: “Gửi cô Diệu Thúy. Việc cô nhờ tôi đã có kết quả, đúng 11 giờ trưa nay, cô đưa cậu Hai đến dinh tỉnh trưởng, phải đúng giờ”. Bức thư làm Diệu Thúy hiểu và bắt đầu lo. Bởi vì, kể ra cô cũng liều thật, bây giờ ngài trung tá tỉnh trưởng làm được theo lời khẩn cầu của cô, nghĩa là cô phải đáp đền những đề nghị của ngài, mà cái đề nghị đó mới oái oăm làm sao.
Xem thêm