TIN TỨC

Hoài niệm quê hương trong thơ Nguyễn Quang Thuyên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-12 01:37:28
mail facebook google pos stwis
1141 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nguyễn Quang Thuyên vốn là “dân xây dựng” - Giám đốc Vinaconex 3 Phú Thọ , quê Tam Nông, Phú Thọ. Ai từng gặp anh thời điểm hiện tại sẽ có thiện cảm bởi nụ cười có duyên, thân thiện. Ấy là Nguyễn Quang Thuyên của hôm nay, hay chí ít cũng là cảm nhận của tôi, rằng nhiều năm trước, gặp anh sẽ ngỡ anh khó tính, có sự bụi bặm phong trần của nghề nghiệp, có vẻ lạnh lùng và cảm giác khó gần. Anh là “dân ngoại đạo” nhưng đã 10 tập thơ được xuất bản. Tập thơ “Đưa em về quê nội”, NXB Hội Nhà văn 2024 của anh vừa đạt giải A của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Thọ (Giải thưởng hàng năm, năm 2024).

 

Bìa tập thơ Đưa em về quê nội của nhà thơ Nguyễn Quang Thuyên

 

Trong dịp tổng kết năm 2024, sau khi lên khán đài nhận giải, anh tặng bạn bè tập thơ “Đưa em về quê nội” của mình. Tôi cũng may mắn nằm trong danh sách được tặng. Tiếp xúc với Nguyễn Quang Thuyên, thấy anh không khó gần như mình từng nghĩ. Và tập thơ của anh thuyết phục được tôi và đông đảo độc giả, có lẽ trước hết bởi đề tài. Tập thơ của anh có 36 bài, chia ba phần với những tên gọi giàu chất thơ: Phần thứ nhất Ngàn năm thương nhớ gồm 14 bài, viết về Hà Nội trong dịp kỷ niệm 1000 năm Kinh đô Thăng Long - Hà Nội. Phần thứ 2 Mùa dự cảm, có 11 bài viết về Bác Hồ kính yêu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các danh nhân lịch sử và những người mà tác giả quý mếnvà phần thứ 3 Thành phố và những người không ngủ có 11 bài viết về quê hương Tam Nông thân yêu của chính mình. Mỗi phần đều có nét đẹp riêng. Tôi thích phần thứ 3 hơn cả. Ở đó, anh viết về quê hương. Vâng quê hương, đó là hai tiếng thân thương tự trong sâu thẳm tân can mỗi người. Hai tiếng quê hương thiêng liêng ấy khi hiển hiện thành thơ, sẽ là chùm khế ngọt, là bờ sông có trẻ nô đùa mỗi khi trốn học, dẫu bị đòn roi vẫn không thấy ấm ức. Quê hương là nơi ai đi xa cũng nhớ nhiều... Những ý thơ của Giang Nam và Đỗ Trung Quân đã ăn sâu vào đời sống, thành hành trang tinh thần có thể hiển hiện cả khi ăn, khi ngủ ... đối với công chúng yêu thơ, yêu mảng đề tài quê hương. Với đề tài hấp dẫn nhưng nhiều tác giả thành công, Nguyễn Quang Thuyên tìm được gì cho mới khi anh đang cày xới trên cánh đồng đã cũ? Hãy đọc và cảm nhận để thấy một Nguyễn Quang Thuyên không lạnh lùng, để thấy một Nguyễn Quang Thuyên không vì công việc hoặc thương trường bận rộn mà sao nhãng quê hương...     

Bài thơ Về làng khởi nguồn cho cảm xúc gắn bó của người con xa quê

Lâu lâu mới ghé thăm làng/Thăm còn đường cũ thăm hàng cây xưa/Một thời tắm nắng gội mưa/bồi hồi cứ tưởng như vừa hôm qua. Đó là những câu thơ lục bát từng ngân nga trong tâm trí độc giả bởi âm điệu và vần luật chặt chẽ nhưng quan trọng hơn là bởi cảm xúc rất thật, cảm xúc mang tính phổ quát, hầu như ai đọc cũng có cảm giác tác giả nói hộ lòng mình. Hai cặp lục bát, nếu thoạt nghe sẽ ngỡ mâu thuẫn vì thời gian xa cách đã lâu Lâu lâu mới về nhưng câu thứ tư lại là bồi hồi cứ tưởng như vừa hôm qua. Nhưng, nếu ai từng trải nghiệm cảm giác này sẽ thấy không hề mâu thuẫn bởi câu thứ nhất là sự thật, còn câu 4 chỉ là tưởng. Vâng, có được cảm tưởng ấy, phải là người gắn bó sâu nặng với quê hương và yêu quê hương thật nhiều. Từ tình yêu và sự gắn bó ấy nên khi trở về, tác giả thấy cảnh vật như bừng sáng và rộn rã âm thanh, ánh sắc lung linh giữa trưa hè thơm mát hương chè mênh mang đồng nội. Tiếng chim líu lo hót xóm xa ngõ gần như khiến bức tranh thêm sống động, rộn rã. Và, “Về lại tuổi thơ” còn là cả một hành trình kỷ niệm ắp đầy gắn với không gian quen thuộc và thời gian lần lượt như cuốn phim quay chậm... Nơi ấy có điệp trùng sóng lúa, có tiếng mẹ ru hời theo suốt cuộc đời trai trẻ, có những kỷ niệm canh cánh trong tiềm thức khiến người con thành đạt xa quê sử dụng như một hành trang tinh thần ắp đầy và giàu có. Vâng, làm nên sự giàu có ấy, không thể không kể đến bài thơ “Khúc niệm làng” với lời đề tặng Kính tặng quê hương Thượng Nông của tôi. Bài thơ viết theo thể thơ tự do, sự đan xen ngắn, dài của các câu thơ phản ánh đúng diễn biến tâm trạng, gắn với mỗi kỷ niệm là một nét dáng đặc tả riêng Như thước phim quay chậm. Trong đó, có sự “chợt nhớ”, có nỗi niềm thương mênh mang… và có kỷ niệm thương ông bà từ thuở trước/ bao kiếp người trở trăn, tảo tần, sống còn với đất/ mà áo, cơm, giấc ngủ … mấy khi đầy! Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc và cả giác ngủ cũng không được tròn đầy bởi lẽ biết bao trăn trở, biết bao lo toan cho gánh nặng cuộc sống còn khó khăn, còn thiếu ăn, thiếu mặc. Không trải nghiệm, không yêu cuộc sống, không gắn bó và sống sâu sắc với cuộc đời này, Nguyễn Quang Thuyên không thể sáng tác được những vần thơ, những câu thơ như chắt ra từ gan ruột, bào xé tâm can đến như vậy.

Một đời ta lại ru ta/ cho vơi nỗi khát, cho hòa niềm vui/ sao trời, thì đã ngủ vùi/ mà sao mình hết đứng, ngồi, lại đi. Muốn thiên nhiên đồng hành, đồng điệu, cho thỏa nỗi nhớ, cho vơi nỗi niềm nhưng thời gian vẫn chảy trôi theo quy luật ngàn đời và sao trời cũng vậy, có chu kỳ, có “thời gian biểu” rõ ràng, nên cũng “ngủ vùi”, còn lại một mình tác giả, đong đầy tâm trạng, đứng ngồi không yên. Khi thức cùng sao trời để hoài nhớ, để yêu thương đã là đáng quý, đáng trân trọng; nhưng cả khi sao trời đi ngủ, con người vẫn thức… vẫn đứng, ngồi không yên thì sự trân quý còn tăng lên gấp bội. Kỷ niệm không quên tức là hành trang của nhà thơ ngày ngày thêm giàu có.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thuyên

 

Nguyễn Quang Thuyên, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cây bút đã không còn lạ lẫm trên thi đàn, nhất là với quê hương Đất Tổ đã thật sự thành công khi viết tập thơ này. Đưa em về quê nội có sự chân thật của cảm xúc, có sự thăng hoa của hồn thơ và có cả cách sử dụng ngôn từ thật sự linh hoạt. Có những câu chữ đặt riêng lẻ sẽ vô nghĩa hoặc không có giá trị biểu đạt, nhưng khi được cảm xúc làm chất liệu thì sự kết dính hình thành và khổ thơ mang vẻ độc đáo riêng:

Chẳng là, hẳn lẽ, cũng khi/ ta luênh loang với những gì trong ta/ rằng không, ắt, lẽ, sẽ, là/ hồn nhiên như hạt sương sa…thế rồi

Sau chữ “thế rồi” là điệp trùng ký ức. Tiếp bài thơ này, là bài thơ “Về quê anh đi em”, với lời đề tặng: Kính tặng quê hương Tam Nông của tôi. Nếu trước đó là  Kính tặng quê hương Thượng Nông của tôi, tức là phạm vi nhỏ hơn, tặng làng, tặng xã  thì đến đây là bài thơ tặng huyện (đơn vị hành chính cũ) rộng lớn hơn. Khi mời Về quê anh đi em, tác giả mang theo trong mình lòng tự hào sâu sắc với địa danh Tam Nông nơi Bác Hồ dừng chân/ đường chiến khu Việt Bắc.. tự hào vì Tam Nông có “Cổ thành Hưng Hóa”, đó cũng chính là “tỉnh Hưng” được nhắc trong thơ Tố Hữu Ai về Hưng Hóa, ai xuống khu ba, ai vào khu bốn…Hưng Hóa là tỉnh lỵ thời Pháp thuộc, Hưng Hóa có cột cờ uy linh, từng lưu danh sử sách… Hưng Hóa vượt qua sự băng hoại của thời gian để lưu dấu miền ký ức của triệu trái tim người con xa quê như Nguyễn Quang Thuyên.

Nói về quê hương, Nguyễn Quang Thuyên đã nói bằng niềm thương nỗi nhớ, và nói bằng sự biết ơn với bầu trời ký ức đầy ắp ân tình. Thơ địch thực là “Tiếng lòng” như cách nói của Diệp Tiếp và tiếng lòng đau đáu của Nguyễn Quang Thuyên đã chạm được mạch nguồn cảm xúc của độc giả. Niềm vinh dự với Giải A hôm nay là sự ghi nhận xứng đáng của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ trao tặng cho công lao và tài năng của nhà thơ quê Thượng Nông, Tam Nông, Phú Thọ Nguyễn Quang Thuyên. Cảm ơn tác giả, cảm ơn nhà thơ đã nói thay tâm trạng bao người. “Đưa em về quê nội” là một trong những tập thơ đáng đọc và đáng nhớ.

Phú Thọ, 2/10/2025

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm