TIN TỨC

Hoài niệm quê hương trong thơ Nguyễn Quang Thuyên

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-10-12 01:37:28
mail facebook google pos stwis
632 lượt xem

ĐỖ NGUYÊN THƯƠNG

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Nguyễn Quang Thuyên vốn là “dân xây dựng” - Giám đốc Vinaconex 3 Phú Thọ , quê Tam Nông, Phú Thọ. Ai từng gặp anh thời điểm hiện tại sẽ có thiện cảm bởi nụ cười có duyên, thân thiện. Ấy là Nguyễn Quang Thuyên của hôm nay, hay chí ít cũng là cảm nhận của tôi, rằng nhiều năm trước, gặp anh sẽ ngỡ anh khó tính, có sự bụi bặm phong trần của nghề nghiệp, có vẻ lạnh lùng và cảm giác khó gần. Anh là “dân ngoại đạo” nhưng đã 10 tập thơ được xuất bản. Tập thơ “Đưa em về quê nội”, NXB Hội Nhà văn 2024 của anh vừa đạt giải A của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Phú Thọ (Giải thưởng hàng năm, năm 2024).

 

Bìa tập thơ Đưa em về quê nội của nhà thơ Nguyễn Quang Thuyên

 

Trong dịp tổng kết năm 2024, sau khi lên khán đài nhận giải, anh tặng bạn bè tập thơ “Đưa em về quê nội” của mình. Tôi cũng may mắn nằm trong danh sách được tặng. Tiếp xúc với Nguyễn Quang Thuyên, thấy anh không khó gần như mình từng nghĩ. Và tập thơ của anh thuyết phục được tôi và đông đảo độc giả, có lẽ trước hết bởi đề tài. Tập thơ của anh có 36 bài, chia ba phần với những tên gọi giàu chất thơ: Phần thứ nhất Ngàn năm thương nhớ gồm 14 bài, viết về Hà Nội trong dịp kỷ niệm 1000 năm Kinh đô Thăng Long - Hà Nội. Phần thứ 2 Mùa dự cảm, có 11 bài viết về Bác Hồ kính yêu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các danh nhân lịch sử và những người mà tác giả quý mếnvà phần thứ 3 Thành phố và những người không ngủ có 11 bài viết về quê hương Tam Nông thân yêu của chính mình. Mỗi phần đều có nét đẹp riêng. Tôi thích phần thứ 3 hơn cả. Ở đó, anh viết về quê hương. Vâng quê hương, đó là hai tiếng thân thương tự trong sâu thẳm tân can mỗi người. Hai tiếng quê hương thiêng liêng ấy khi hiển hiện thành thơ, sẽ là chùm khế ngọt, là bờ sông có trẻ nô đùa mỗi khi trốn học, dẫu bị đòn roi vẫn không thấy ấm ức. Quê hương là nơi ai đi xa cũng nhớ nhiều... Những ý thơ của Giang Nam và Đỗ Trung Quân đã ăn sâu vào đời sống, thành hành trang tinh thần có thể hiển hiện cả khi ăn, khi ngủ ... đối với công chúng yêu thơ, yêu mảng đề tài quê hương. Với đề tài hấp dẫn nhưng nhiều tác giả thành công, Nguyễn Quang Thuyên tìm được gì cho mới khi anh đang cày xới trên cánh đồng đã cũ? Hãy đọc và cảm nhận để thấy một Nguyễn Quang Thuyên không lạnh lùng, để thấy một Nguyễn Quang Thuyên không vì công việc hoặc thương trường bận rộn mà sao nhãng quê hương...     

Bài thơ Về làng khởi nguồn cho cảm xúc gắn bó của người con xa quê

Lâu lâu mới ghé thăm làng/Thăm còn đường cũ thăm hàng cây xưa/Một thời tắm nắng gội mưa/bồi hồi cứ tưởng như vừa hôm qua. Đó là những câu thơ lục bát từng ngân nga trong tâm trí độc giả bởi âm điệu và vần luật chặt chẽ nhưng quan trọng hơn là bởi cảm xúc rất thật, cảm xúc mang tính phổ quát, hầu như ai đọc cũng có cảm giác tác giả nói hộ lòng mình. Hai cặp lục bát, nếu thoạt nghe sẽ ngỡ mâu thuẫn vì thời gian xa cách đã lâu Lâu lâu mới về nhưng câu thứ tư lại là bồi hồi cứ tưởng như vừa hôm qua. Nhưng, nếu ai từng trải nghiệm cảm giác này sẽ thấy không hề mâu thuẫn bởi câu thứ nhất là sự thật, còn câu 4 chỉ là tưởng. Vâng, có được cảm tưởng ấy, phải là người gắn bó sâu nặng với quê hương và yêu quê hương thật nhiều. Từ tình yêu và sự gắn bó ấy nên khi trở về, tác giả thấy cảnh vật như bừng sáng và rộn rã âm thanh, ánh sắc lung linh giữa trưa hè thơm mát hương chè mênh mang đồng nội. Tiếng chim líu lo hót xóm xa ngõ gần như khiến bức tranh thêm sống động, rộn rã. Và, “Về lại tuổi thơ” còn là cả một hành trình kỷ niệm ắp đầy gắn với không gian quen thuộc và thời gian lần lượt như cuốn phim quay chậm... Nơi ấy có điệp trùng sóng lúa, có tiếng mẹ ru hời theo suốt cuộc đời trai trẻ, có những kỷ niệm canh cánh trong tiềm thức khiến người con thành đạt xa quê sử dụng như một hành trang tinh thần ắp đầy và giàu có. Vâng, làm nên sự giàu có ấy, không thể không kể đến bài thơ “Khúc niệm làng” với lời đề tặng Kính tặng quê hương Thượng Nông của tôi. Bài thơ viết theo thể thơ tự do, sự đan xen ngắn, dài của các câu thơ phản ánh đúng diễn biến tâm trạng, gắn với mỗi kỷ niệm là một nét dáng đặc tả riêng Như thước phim quay chậm. Trong đó, có sự “chợt nhớ”, có nỗi niềm thương mênh mang… và có kỷ niệm thương ông bà từ thuở trước/ bao kiếp người trở trăn, tảo tần, sống còn với đất/ mà áo, cơm, giấc ngủ … mấy khi đầy! Cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc và cả giác ngủ cũng không được tròn đầy bởi lẽ biết bao trăn trở, biết bao lo toan cho gánh nặng cuộc sống còn khó khăn, còn thiếu ăn, thiếu mặc. Không trải nghiệm, không yêu cuộc sống, không gắn bó và sống sâu sắc với cuộc đời này, Nguyễn Quang Thuyên không thể sáng tác được những vần thơ, những câu thơ như chắt ra từ gan ruột, bào xé tâm can đến như vậy.

Một đời ta lại ru ta/ cho vơi nỗi khát, cho hòa niềm vui/ sao trời, thì đã ngủ vùi/ mà sao mình hết đứng, ngồi, lại đi. Muốn thiên nhiên đồng hành, đồng điệu, cho thỏa nỗi nhớ, cho vơi nỗi niềm nhưng thời gian vẫn chảy trôi theo quy luật ngàn đời và sao trời cũng vậy, có chu kỳ, có “thời gian biểu” rõ ràng, nên cũng “ngủ vùi”, còn lại một mình tác giả, đong đầy tâm trạng, đứng ngồi không yên. Khi thức cùng sao trời để hoài nhớ, để yêu thương đã là đáng quý, đáng trân trọng; nhưng cả khi sao trời đi ngủ, con người vẫn thức… vẫn đứng, ngồi không yên thì sự trân quý còn tăng lên gấp bội. Kỷ niệm không quên tức là hành trang của nhà thơ ngày ngày thêm giàu có.

 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thuyên

 

Nguyễn Quang Thuyên, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, cây bút đã không còn lạ lẫm trên thi đàn, nhất là với quê hương Đất Tổ đã thật sự thành công khi viết tập thơ này. Đưa em về quê nội có sự chân thật của cảm xúc, có sự thăng hoa của hồn thơ và có cả cách sử dụng ngôn từ thật sự linh hoạt. Có những câu chữ đặt riêng lẻ sẽ vô nghĩa hoặc không có giá trị biểu đạt, nhưng khi được cảm xúc làm chất liệu thì sự kết dính hình thành và khổ thơ mang vẻ độc đáo riêng:

Chẳng là, hẳn lẽ, cũng khi/ ta luênh loang với những gì trong ta/ rằng không, ắt, lẽ, sẽ, là/ hồn nhiên như hạt sương sa…thế rồi

Sau chữ “thế rồi” là điệp trùng ký ức. Tiếp bài thơ này, là bài thơ “Về quê anh đi em”, với lời đề tặng: Kính tặng quê hương Tam Nông của tôi. Nếu trước đó là  Kính tặng quê hương Thượng Nông của tôi, tức là phạm vi nhỏ hơn, tặng làng, tặng xã  thì đến đây là bài thơ tặng huyện (đơn vị hành chính cũ) rộng lớn hơn. Khi mời Về quê anh đi em, tác giả mang theo trong mình lòng tự hào sâu sắc với địa danh Tam Nông nơi Bác Hồ dừng chân/ đường chiến khu Việt Bắc.. tự hào vì Tam Nông có “Cổ thành Hưng Hóa”, đó cũng chính là “tỉnh Hưng” được nhắc trong thơ Tố Hữu Ai về Hưng Hóa, ai xuống khu ba, ai vào khu bốn…Hưng Hóa là tỉnh lỵ thời Pháp thuộc, Hưng Hóa có cột cờ uy linh, từng lưu danh sử sách… Hưng Hóa vượt qua sự băng hoại của thời gian để lưu dấu miền ký ức của triệu trái tim người con xa quê như Nguyễn Quang Thuyên.

Nói về quê hương, Nguyễn Quang Thuyên đã nói bằng niềm thương nỗi nhớ, và nói bằng sự biết ơn với bầu trời ký ức đầy ắp ân tình. Thơ địch thực là “Tiếng lòng” như cách nói của Diệp Tiếp và tiếng lòng đau đáu của Nguyễn Quang Thuyên đã chạm được mạch nguồn cảm xúc của độc giả. Niềm vinh dự với Giải A hôm nay là sự ghi nhận xứng đáng của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Phú Thọ trao tặng cho công lao và tài năng của nhà thơ quê Thượng Nông, Tam Nông, Phú Thọ Nguyễn Quang Thuyên. Cảm ơn tác giả, cảm ơn nhà thơ đã nói thay tâm trạng bao người. “Đưa em về quê nội” là một trong những tập thơ đáng đọc và đáng nhớ.

Phú Thọ, 2/10/2025

Đ.N.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm