TIN TỨC

Đọc tác phẩm DƯỚI MÁI NHÀ XANH của Tôn Nữ Thu Thủy

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-10-29 19:46:13
mail facebook google pos stwis
2217 lượt xem

NGUYÊN BÌNH

Nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy (TNTT) đã có chổ đứng vững vàng trên văn đàn Việt đương đại kể từ thập niên 90 của thế kỷ trước. Thơ của chị để lại nhiều ấn tượng đẹp trong lòng bạn bè văn nghệ trong và ngoài nước. Xin mượn lời của những tác giả đã từng viết về chị trên các trang báo, tạp chí có tiếng tăm thay lời giới thiệu chân dung văn học nhà thơ xứ Huế.

“Nhắc đến phụ nữ Huế, tôi thường nghĩ ngay đến nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy. Hơn 20 năm quen biết, tôi chưa bao giờ thấy chị đánh mất sự nhẹ nhàng, dịu dàng và tươi tắn - những điều hết sức đặc trưng của phụ nữ Huế”.

                  Song Văn (Báo phụ nữ TPHCM).

“Suốt hành trình sáng tạo, chỉ bằng giọng điệu thì thầm của một phụ nữ gốc gác cố đô, nhà thơ Tôn Nữ Thu Thủy chinh phục bạn đọc theo cách lặng lẽ và nhẹ nhàngTrồng cây tùng để làm tin/ Mở lồng thả hết cánh chim cho trời”.

                 Lê Thiếu Nhơn (Văn Chương TPHCM).

“Trong dòng văn chương của "nhóm Huế" đương đại, tên Tôn Nữ Thu Thuỷ quen thuộc trên các tạp chí như Sông Hương, Nhớ Huế, Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Văn Nghệ Quân Đội...

Nói về văn chương, chị bộc bạch: “Điều lo sợ là những câu thơ của mình tẻ nhạt, sáo mòn, cũ kỹ đi. Vậy thì không được lặp lại chính mình, phải tự lột xác, phải ấp ủ, trở trăn thao thức, nhiều khi phải chịu bao nỗi đớn đau - như một người mẹ sinh ra con mình”.

                 Đọc "Mắt lá" của Tôn Nữ Thu Thuỷ. Kim Quyên. (Tạp chí sông Hương 27/07/2009).

Ở đây, tôi không có tham vọng phát họa “chân dung văn học” nhà thơ mà chỉ bộc bạch những cảm xúc khi đọc tác phẩm DƯỚI MÁI NHÀ XANH (DMNX) của Tôn Nữ Thu Thủy (TNTT) qua góc nhìn của một người bạn yêu mến thơ chị.

Tiếng thì thầm trong thơ TNTT cứ vọng mãi, vọng mãi trong lòng tôi như tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân vang sớm chiều trong lớp lớp mù sương ký ức. Dấu ấn đầu tiên khi lần giở từng trang DMNX thật đẹp trong tôi.  Thơ TNTT như mật ngôn chuyển tải triết lý nhân sinh một cách lặng lẽ trong không gian tịch mịch Huế, nơi nhà thơ sinh ra và lớn lên. Đó là phong thái lịch lãm kín đáo ẩn tàng dưới vẻ nền nã của chiếc áo dài tím nữ sinh Đồng Khánh xưa kia chị mặc.

TNTT lặng lẽ và thư thả chiêm nghiệm lẽ sinh diệt của tự nhiên bằng ánh mắt thấu cảm sự vận động bên trong của bản thể:

Bên trong và bên ngoài bức tường trong suốt

Cuộc sống mấy cõi sinh thành 

Gió đi qua không nói gì

Mưa rơi không nói gì

Nắngchiều hôm không nói gì

Cả cơn bão đi qua không nói gì

Mặt trăng xuyên đêm không nói gì

Mặt trời qua suốt ban ngày không nói gì.

Không gian trắng

Hương của lặng im.

(Hương lặng im)

Cảm quan về thế giới chung quanh nhà thơ trong “dưới mái nhà xanh” đậm chất màu triết lí vô thanh. Đó là sự im lặng của sinh sôi, là sự trưởng thành tịch nhiên giữa vũ trụ trong bản thể sự vật. “Không gian trắng” theo tôi không hề là không gian rỗng, không gian chết mà là không gian sinh động hòa quyện của triệu triệu sắc màu. Đó là không gian tâm linh khi ta tĩnh tọa, là sự nhiệm mầu của mối giao hòa âm dương. Và trong thời khắc đó, nhà thơ thấu thị được mùi hương của vô thức, cảm nhận được “Hương của lặng im”. Luôn đứng ở góc nhìn tinh khôi, thơ TNTT tiềm tàng niềm lạc quan về mọi hiện tượng diễn ra quanh mình, hồn của tự nhiên tràn ngập trái tim nhà thơ và bừng sáng trong cảm xúc. Chính vì vậy, thơ TNTT trong DMNX vắng bóng nỗi buồn thế kỷ, dù cuộc đời tác giả trải qua bao biến thiên nhọc nhằn của thế hệ chúng tôi.

Nguồn nắng rót niềm ấm áp vô tận

Có phải bầu trời cũng tự nhủ sẽ xanh hơn

(Ngoài cửa)

Phải chăng TNTT viết tặng cho chị YN, cho mình và cả cho tôi và các bạn, cái thời cầm bút viết mà không hề nghĩ đến chữ nghĩa có thể nuôi sống mình hay không, bởi theo chị, đằng sau khổ ải là “miền sáng trong”. Tôi cảm nhận được tia hy vọng lấp lánh trong ánh mắt nhà thơ sau màn lệ nhòa:

Chị viết

Như đày ải chính mình

Lọc trong nước mắt

Gửi gắm

Dấu vết khổ đau, hạnh phúc, con đường

…..

Chị viết

Như đi về miền sáng trong

(Con đường) Tặng chị YN.

Trong tâm thức nhà thơ, cái đẹp kì vĩ của vũ trụ và nét dấu yêu trong căn nhà nhỏ bé của mình luôn tồn tại, dù đó là khoảnh khắc đối diện với thách thức, chạm mặt với gian khổ. Tâm tư chị luôn sáng tươi để nuôi dưỡng cho những bông hoa tím trong chiếc bình hoài niệm không “làm sao héo cũ” trước mưa nắng thời gian, cho nên, cuộc sống chị chan chứa niềm an hòa. Giữa cái xô bồ đua chen vật chất của xã hội, chị vững vàng cất giữ niềm tin vô tận ấy, xác tín hướng đi của cuộc đời trong “vườn tâm tưởng” của mình. Đọc DMNX, tôi như được hít thở không khí của ban mai trong lành, tâm hồn nhẹ nhàng, bao dung hơn, phải chăng, đây là sứ mệnh của thơ mà TNTT gieo hạt?

Những ngày đẹp

Có bao giờ phai đi

Bầu trời xanh mãi thầm thì

…..

Đóa hoa màu tím vừa nở

Làm sao héo cũ

Trong vườn tâm tưởng tôi

(Cuộc sống)

Theo TNTT, cái đẹp bao giờ cũng sinh ra từ sự hòa hợp của tự nhiên, từ mầm thiện lương nhân ái trong tâm hồn con người. Lúc ngắm hoa tiểu quỳnh trong vườn nhà, chị chợt nhận ra:

Hoa sinh ra từ xanh trong

Hoa sinh ra từ chân thành

Thiết tha giữa trời và đất

Ngày xuân ân cần bao dung

(Hoa Tiểu Quỳnh giữa tinh sương)

 

Thật sự đó là một cái nhìn kiêm ái nhu hòa của một tâm hồn Huế trong nội tâm thi nhân, nó tỏa hương khi bắt gặp cảm xúc.

Nói đến thơ TNTT là phải nói đến tâm thức Huế ẩn sâu trong hồn thơ chứa chan khói ấm của nhà vườn, của dòng sông Hương thơm mát. Hình như chị không cần phải tìm tòi, trong tâm hồn ứa tràn cảm niệm về nơi chôn nhau cắt rốn, luân chuyển lặng thầm trong máu thịt. Tôi yêu quá những ngọn “lá vườn” xanh mướt tình yêu từ bàn tay mạ, ở đó, tàu lá chuối là những mảnh gốm ngọc bích xanh biếc, gần gủi mà cổ tích, hiện tại mà quá khứ hằn sâu:

Mảnh gốm xanh lá chuối*

Cứa vào chiều

Nhớ thương

……

Men gốm nắng chiều

Ánh lên màu lá

Đường gân xanh

Vẫn là lá chuối trong vườn của mẹ

Ở nội thành

Mẹ ơi

(Mẹ và lá vườn)

Tôi khao khát trở về mảnh vườn kí ức tôi ẩn hiện trong thơ chị, tôi cứ ngỡ chị viết cho mình, thân quen biết bao:

Bỗng dâng đầy một nỗi riêng

Mộc hoa vẫn nở bên viền gạch nâu

Khóm hoàng trang, gốc mãng cầu

Đất trời luôn biết nơi đâu quê nhà

Nụ cười của mẹ trong hoa

Con từ mạch thở nghe ra nỗi mình

(Thềm xưa)

Xin cam đoan với các bạn rằng, sen trắng trong thơ TNTT là sen hồ Tịnh Tâm tỏa hương dịu dàng không gian thành nội, tôi như được nhà thơ gọi mời về thăm quê nhà trong một chuyến hành hương, sau bao năm lưu lạc, thú vị vô cùng:

Đóa hoa trắng hơn lòng giấy

Nâng mặt hồ thành trời mây

Hòa lẫn vào chiều vừa đến

Tâm hoa dâng hương nơi này.

(Sen)

Đặc biệt nhất là khi viết về một di tích ở Paris, thì cái hồn Huế vẫn phảng phất đâu đây trong từng hơi thở, mà nếu lơ đãng đánh mất từ “nhân sư”, thì ta ngỡ mình đang lạc trong hoàng thành Huế cổ xưa:

Thiếp ngủ trong đêm

Khi mảng trời xám xanh cho khoảng thềm sân cũ

Mái ngói nâu, những bức tường

Các họa tiết bước ra, phù điêu trên đỉnh tường nhà cổ

Khuôn mặt người hoa lá nhân sư

Nơi thời gian chưa nhòa

(Tòa nhà Bourse – Lille)

 

Ngôn ngữ thơ TNTT là sự cô đặc hồn chữ thanh tao, chắc lọc từ kiến văn rộng mang sắc thái của con người Huế trầm mặc. Nhưng không phải vì thế mà thơ chị mất đi tính hiện đại, mà ngược lại, trở thành điểm đặc sắc cuốn hút người đọc. Theo tôi, cấu trúc của từng câu thơ, bài thơ luôn mới mẻ, không có sự lặp lại chính mình như chị đã từng bộc bạch. Tôi cho rằng “Chiếc đàn biển” là bài thơ tiêu biểu sắc thái đặc trưng mang tính hiện đại rất riêng TNTT:

Nơi đất và trời mở ra một cõi quạnh hiu

Hàng phím trắng xê dịch. Bù đắp vào nơi hao khuyết

Những ân thanh cuộn xô, bùng vỡ

Lên cao và chìm sâu.

 

Để làm dịu lại nỗi đau

Tôi xoay trở, nghiêng nghiêng, bám tay vào phím đàn sóng trắng

Trùng khơi đáp lời.

(Chiếc đàn biển)

 

Với nhãn quan tinh tường và sự liên tưởng ý nhị, nhà thơ TNTT nắm bắt những phút chạm bất chợt thật tinh tế:

Dõi tìm người tượng đá

Gặp lại người hôm nay

Đôi mắt từ thuở nọ

Nhìn ra sớm mai này.

(Tháng giêng)

 

Nhìn đời với ánh nhìn rộng lượng bao dung, thơ chị thể hiện khát vọng đem cả vạn vật xích lại bên nhau, người với người hòa ái, chia sẻ vui buồn, tôi nghĩ, đây là thông điệp mà nhà thơ muốn gởi gắm:

Người xóa cả thẳm sâu ngăn trở

Rừng cây đất đá bên nhau

Những số phận già nua chia sẻ

Nụ cười hiểu rõ dài lâu

(Ngày trẻ như dương cầm)

 

Trong suốt hành trình thơ DMNX, hình ảnh quê hương đất nước những nơi chị đi qua mang màu sắc rất lạ mà thân thương, qua những bài thơ Với Cam Hải, Trà núi, Đường gốm sứ, Sài Gòn phố, Chiều qua cửa sông Hàm Luông, Qua cầu Thê Húc v.v. Khi ra du lịch nước ngoài, chị tâm tình thủ thỉ “Với sông Seine”: “Tiếng nhạc làm bước chân chậm lại/Để còn quay trở lại/Sông Seine một ngày nào”. Tuyết của mùa đông châu Âu được nhà thơ viết: “Phủ lên những con đường những mái nhà/ Ai biết niềm vui ai biết nỗi buồn/Những hạt lệ khô”.

Tôi vẫn còn tiếc nuối khi gấp lại tập thơ. Hơi thở của niềm đam mê văn chương trong chị vẫn còn vương vương trên trang sách. Tôi đồng cảm với tâm hồn TNTT vì tôi cũng là người con xứ Huế, lớn lên và học hành bên bờ Hương Giang, cùng đi về qua cầu Trường Tiền để đến giảng đường. Còn các bạn thì sao? Mời bạn cùng chia sẻ tâm tình với những vần thơ Tôn Nữ.

Chúc TNTT an vui, tiếp tục sáng tác và hoạt động văn nghệ đóng góp nhiều hơn nữa cho văn chương Việt.

Bà Rịa, 30/12/2021.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm