TIN TỨC

Đọc tập thơ ‘Phút giây vĩnh cửu’ của Tần Hoài Dạ Vũ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-30 00:15:28
mail facebook google pos stwis
3130 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Thật bất ngờ, vừa vui vừa hãnh diện, khi nhận được tập thơ “Phút giây vĩnh cửu” của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ gởi tặng tôi, do nhân viên bưu điện đem dến. Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã từng tặng tôi nguyên bộ sách “Văn học Dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng” gồm 4 tập, mỗi tập dày trên 500 trang và một số tập thơ mà ông đã xuất bản trong những năm gần đây. Tôi không ngần ngại khoe ra và nói thật lòng mình, bởi vì tôi chỉ là một cây bút nghiệp dư vô danh, mà ông là một cây đại thụ từ lâu trong nền văn học nước nhà.

 

Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ xuất hiên trên thi đàn từ năm 1963 trên các báo văn học có danh ở miền Nam Việt Nam như Bách Khoa, Văn, Phổ Thông… khi ông còn là chàng học sinh học lớp Đệ Tam (lớp 10) tại trường Quốc Học – Huế. Từ đó đến nay gần 60 năm, nhà thơ vẫn theo con đường sáng tác; lặn lội 30 năm khắp quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng, nghiên cứu văn hóa dân gian để viết nên bộ sách vô cùng giá trị mà hiện nay không thể thiếu trong các thư viện của các trường trung học, đại học.


Tập thơ “Phút giây vĩnh cửu” của Tần Hoài Dạ Vũ.

Phút giây vĩnh cửu là một tập thơ văn xuôi mà theo PGS.TS. Trần Hoài Anh nhận xét là “mang ý nghĩa triết luận của một cảm thức hiện sinh”, là “tuyên ngôn sống và tuyên ngôn sáng tạo” của nhà thơ. Còn Võ Mai Trang viết trong lời Bạt như sau: “Lắng lại trong chiêm nghiệm của tâm hồn, có thể nói rằng, thơ xuôi Tần Hoài Dạ Vũ trong thi phẩm Phút giây vĩnh cửu này, là cuộc hành trình đi tìm bản thể”.

Châu Thạch tôi, không có mấy kiến thức về triết lý, chỉ biết cảm nhận thơ theo con tim bình dân của mình, xin nói thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ trong Phút giây vĩnh cửu là “Một tập nhã ca”. Vì sao tôi nói Phút giây vĩnh cửu, thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ, là “Một tập nhã ca”? Vì đó là một tập thơ có hình thức văn chương cô đọng, có thật nhiều ý tưởng trong mỗi dòng thơ, ngắn gọn, đầy ẩn dụ, đầy ngụ ngôn, có tiếng thơ vang vọng 5 cung trầm bổng “Trong như tiếng hạt…, đục như tiếng suối…, tiếng khoan như gió…, tiếng mau như trời đổ mưa”, khiến cho người đọc thơ có tâm trạng không khác gì Kim Trọng nghe Kiều đàn thuở trước, trong thơ Nguyễn Du.

Phút giây vĩnh cửu có tất cả 50 bài thơ không vần. Không vần không có nghĩa là không trôi chảy. Mỗi bài thơ vẫn trôi chảy như những dòng sông có âm thanh của sóng, âm hưởng của dòng trôi giữa gió giữa trăng, qua ghềnh qua thác và êm đềm khi đến bình nguyên có mé nước bình tịnh bên đồng cỏ xanh tươi!

Đầu tiên, bài thơ Hy vọng của trần gian nhân ái ta đã đọc được:

“Niềm vui của trái tim yêu thương là phép mầu của những đám mây phía chân trời hò hẹn. Em thân yêu, hãy dâng bài ca bất tuyệt cho những niềm vui không hẹn trước và hãy đặt lòng em trước ngưỡng cửa của những ước mơ như mây trắng trên trời”… “Tôi đương đi trên con đường dài và tôi luôn thấy ánh sáng của trái tim em”.

Bài thơ cho ta một niềm hy vong lãng mạn tuyệt vời, không là tiền tài danh vọng mà là “Em”. Em là ánh sáng lý tưởng nhân ái của đời anh trong kiếp sống trần gian.

Bài thơ thứ 19 – Mùa xuân đi qua, Tần Hoài Dạ Vũ đã thổ lộ: “Với tất cả nỗi đau dày vò anh nhớ tới em”. Nhà thơ dã yêu em bằng danh dự: “Chưa bao giờ bày tỏ lời tán tụng trước những kẻ quyền lực. Đó chẳng phải là niềm kiêu hãnh vinh danh con người?”. Nhà thơ yêu em bằng trách nhiệm; “Không hề chối bỏ những gì có liên hệ đến đời nhau”. Nhà thơ yêu nhau bằng thủy chung: “Chẳng có nhan sắc nào còn làm trái tim anh xao xuyến, cũng chưa hề có nụ hôn nào khiến anh phải đắm say”. Nhà thơ yêu như thế, nhưng đời thật là phi lý khi “Em đã ra đi, những chiếc hoa kèn thổi mãi tiếng u buồn trong khu vườn vắng, chuỗi cười trong suốt ngày nào đã tắt trong niềm quên lãng và mắt em đã lặn rồi vì sao kỷ niệm. Có bao giờ tình yêu không là nỗi đắng cay?”.

Đọc bài thơ như thẩm thấu vào lòng ta tiếng thở dài cao thượng!

Bài thơ áp chót là bài thơ có tựa đề lấy làm tựa đề của cả tập thơ Phút giây vĩnh cửu. Phút giây là thời gian ngắn, vĩnh cửu là thời gian vô tận. Phút giây mà gọi là vĩnh cửu thì nghe ra tương phản. PGS.TS Trần Hoài Anh trong “Lời Giới thiệu” đã giải thích như sau: “Nhưng là sự tương phản mang tính biện chứng, đặt ra cho người đọc nhiều vấn đề suy nghiệm về thế sự, nhân sinh, về sinh mệnh của thơ”. Châu Thạch tôi nghĩ thô thiển: Phút giây vĩnh cửu là cái phút giây đem đến cho nhà thơ hiểu được, chứng được, ngộ được giá trị vĩnh viễn của cuộc đời.

Vào đề bài thơ Phút giây vĩnh cửu Tần Hoài Dạ Vũ đã viết:

“Tôi không nhớ tôi đã bắt đầu yêu em tự bao giờ. Chỉ biết rằng lòng tôi thổn thức trước gương mặt ẩn hiện cả nỗi đau thương thầm lặng của cuộc đời”. Vậy em ở đây không chỉ là người nữ, mà em ở đây mang hình ảnh niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời. Nhà thơ yêu em như yêu cuộc đời và yêu cuộc đời như yêu em.

Đoạn giữa của bài thơ, nhà thơ viết những câu thơ như sau:

“Đôi môi em ngào ngạt hương hoa hồng, thơm lừng hơn sửa mật, em xinh đẹp biết bao. Này người bạn đời không hôn ước, em tươi đẹp biết bao. Mắt em là mặt biển dậy sóng, miệng em là hương rừng nồng cay, ngực em là hai chùm nho óng ả, rốn em là cốc rượu đầy ắp đắm say”, “hai đầu gối em là hai viên đá quý”… “Tôi đánh mất cả thế giới – hiểu vì sao mình đánh mất – và tự nguyện lao vào ân sủng của tình em.”

Với đoạn thơ tôn vinh em ở trên, nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã viết hoàn toàn một cung nhã ca đầy ảnh tượng lung linh với chữ nghĩa lưu ly màu kim cương. “Em” ở đây không là em bé bỏng mà là em của thiên nhiên, là em của cuộc đời, cũng có thể là em của tạo hóa, là giáo chủ, là cao siêu, là chân lý…

Cuối bài thơ, Tần Hoài Dạ Vũ viết:

“Tình yêu đã phát sinh sự hợp nhất, vẻ dịu dàng, điều thiện, cái đẹp và cả sự viên mãn.

Có bao giờ tôi đã dại khờ nghi ngờ tình yêu? Em là nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức mạnh cho chính phút giây yếu đuối của đời tôi”.

Đến đây, bây giờ, không còn nghi ngờ gì nữa, Tần Hoài Dạ Vũ đã công nhận em chính là “Thượng Đế”, vì em là “Nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức mạnh cho chính phút giây yếu đuối” của đời nhà thơ.

Trong lời Bạt đặt ở cuối sách, Võ Mai Trang đã viết: “Thơ xuôi Tần Hoài Dạ Vũ trong thi phẩm ‘Phút giây vĩnh cửu’ này là cuộc hành trình đi tìm bản thể. Cuộc hàng trình ấy, chuyến đi tưởng như nhẹ nhàng mà khổ ải ấy, có thể không bao giờ đến, nhưng có hề chi”.

Châu Thạch tôi nghĩ khác, Tần Hoài Dạ Vũ đã đến!

PGS.TS Trần Hoài Anh đã viết: “Tập thơ ‘Phút giây vĩnh cửu’ của Tần Hoài Dạ Vũ, vì thế, là cuộc hành trình đi tìm cái tôi bản thể của một thi sĩ đã chọn thơ và tình yêu như một ‘tôn giáo’ để ‘sống’ và ‘thành đạo’ trong cuộc đời”.

Từ đó, Châu Thạch tôi nghĩ, Tần Hoài Dạ Vũ đã khởi đầu cuộc hành trình từ 60 năm trước: “Anh đi xa trên con đường dài của sự sống, của niềm vui sáng tạo và tiếng chim hót bên trời”. Đi để tìm em là niềm hy vọng như đi tìm bản thể của mình: “Phải rồi, trái tim em là ánh sáng, đôi mắt em và bàn tay từ ái của em cũng là ánh sáng luôn chiếu dọi đời anh” (Hy vọng của trần gian nhân ái). Và rồi, Tần Hoài Dạ Vũ đã tìm được chính bản thể của mình, đó là tình yêu dành cho em, cũng chính là ngộ được “lẽ đạo của thơ và tình yêu” để sống: “Em là nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức manh cho chính phút giây yếu đuôi của đời anh” (đoạn cuối của bài thơ Phút giây vĩnh cửu).

Người có tôn giáo trông cậy điều đó vào giáo chủ của mình, còn Tần Hoài Dạ Vũ trông cậy điều đó vào em, nghĩa là cuộc hành trình của nhà thơ đã đến đích mà ông hằng mơ ước, thành đạo trong cõi thơ và sống với tình yêu mà ông dành riêng và trọn cho em.

C.T

Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ xuất hiên trên thi đàn từ năm 1963 trên các báo văn học có danh ở miền Nam Việt Nam như Bách Khoa, Văn, Phổ Thông… khi ông còn là chàng học sinh học lớp Đệ Tam (lớp 10) tại trường Quốc Học – Huế. Từ đó đến nay gần 60 năm, nhà thơ vẫn theo con đường sáng tác; lặn lội 30 năm khắp quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng, nghiên cứu văn hóa dân gian để viết nên bộ sách vô cùng giá trị mà hiện nay không thể thiếu trong các thư viện của các trường trung học, đại học.


Tập thơ “Phút giây vĩnh cửu” của Tần Hoài Dạ Vũ.

Phút giây vĩnh cửu là một tập thơ văn xuôi mà theo PGS.TS. Trần Hoài Anh nhận xét là “mang ý nghĩa triết luận của một cảm thức hiện sinh”, là “tuyên ngôn sống và tuyên ngôn sáng tạo” của nhà thơ. Còn Võ Mai Trang viết trong lời Bạt như sau: “Lắng lại trong chiêm nghiệm của tâm hồn, có thể nói rằng, thơ xuôi Tần Hoài Dạ Vũ trong thi phẩm Phút giây vĩnh cửu này, là cuộc hành trình đi tìm bản thể”.

Châu Thạch tôi, không có mấy kiến thức về triết lý, chỉ biết cảm nhận thơ theo con tim bình dân của mình, xin nói thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ trong Phút giây vĩnh cửu là “Một tập nhã ca”. Vì sao tôi nói Phút giây vĩnh cửu, thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ, là “Một tập nhã ca”? Vì đó là một tập thơ có hình thức văn chương cô đọng, có thật nhiều ý tưởng trong mỗi dòng thơ, ngắn gọn, đầy ẩn dụ, đầy ngụ ngôn, có tiếng thơ vang vọng 5 cung trầm bổng “Trong như tiếng hạt…, đục như tiếng suối…, tiếng khoan như gió…, tiếng mau như trời đổ mưa”, khiến cho người đọc thơ có tâm trạng không khác gì Kim Trọng nghe Kiều đàn thuở trước, trong thơ Nguyễn Du.

Phút giây vĩnh cửu có tất cả 50 bài thơ không vần. Không vần không có nghĩa là không trôi chảy. Mỗi bài thơ vẫn trôi chảy như những dòng sông có âm thanh của sóng, âm hưởng của dòng trôi giữa gió giữa trăng, qua ghềnh qua thác và êm đềm khi đến bình nguyên có mé nước bình tịnh bên đồng cỏ xanh tươi!

Đầu tiên, bài thơ Hy vọng của trần gian nhân ái ta đã đọc được:

“Niềm vui của trái tim yêu thương là phép mầu của những đám mây phía chân trời hò hẹn. Em thân yêu, hãy dâng bài ca bất tuyệt cho những niềm vui không hẹn trước và hãy đặt lòng em trước ngưỡng cửa của những ước mơ như mây trắng trên trời”… “Tôi đương đi trên con đường dài và tôi luôn thấy ánh sáng của trái tim em”.

Bài thơ cho ta một niềm hy vong lãng mạn tuyệt vời, không là tiền tài danh vọng mà là “Em”. Em là ánh sáng lý tưởng nhân ái của đời anh trong kiếp sống trần gian.

Bài thơ thứ 19 – Mùa xuân đi qua, Tần Hoài Dạ Vũ đã thổ lộ: “Với tất cả nỗi đau dày vò anh nhớ tới em”. Nhà thơ dã yêu em bằng danh dự: “Chưa bao giờ bày tỏ lời tán tụng trước những kẻ quyền lực. Đó chẳng phải là niềm kiêu hãnh vinh danh con người?”. Nhà thơ yêu em bằng trách nhiệm; “Không hề chối bỏ những gì có liên hệ đến đời nhau”. Nhà thơ yêu nhau bằng thủy chung: “Chẳng có nhan sắc nào còn làm trái tim anh xao xuyến, cũng chưa hề có nụ hôn nào khiến anh phải đắm say”. Nhà thơ yêu như thế, nhưng đời thật là phi lý khi “Em đã ra đi, những chiếc hoa kèn thổi mãi tiếng u buồn trong khu vườn vắng, chuỗi cười trong suốt ngày nào đã tắt trong niềm quên lãng và mắt em đã lặn rồi vì sao kỷ niệm. Có bao giờ tình yêu không là nỗi đắng cay?”.

Đọc bài thơ như thẩm thấu vào lòng ta tiếng thở dài cao thượng!

Bài thơ áp chót là bài thơ có tựa đề lấy làm tựa đề của cả tập thơ Phút giây vĩnh cửu. Phút giây là thời gian ngắn, vĩnh cửu là thời gian vô tận. Phút giây mà gọi là vĩnh cửu thì nghe ra tương phản. PGS.TS Trần Hoài Anh trong “Lời Giới thiệu” đã giải thích như sau: “Nhưng là sự tương phản mang tính biện chứng, đặt ra cho người đọc nhiều vấn đề suy nghiệm về thế sự, nhân sinh, về sinh mệnh của thơ”. Châu Thạch tôi nghĩ thô thiển: Phút giây vĩnh cửu là cái phút giây đem đến cho nhà thơ hiểu được, chứng được, ngộ được giá trị vĩnh viễn của cuộc đời.

Vào đề bài thơ Phút giây vĩnh cửu Tần Hoài Dạ Vũ đã viết:

“Tôi không nhớ tôi đã bắt đầu yêu em tự bao giờ. Chỉ biết rằng lòng tôi thổn thức trước gương mặt ẩn hiện cả nỗi đau thương thầm lặng của cuộc đời”. Vậy em ở đây không chỉ là người nữ, mà em ở đây mang hình ảnh niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời. Nhà thơ yêu em như yêu cuộc đời và yêu cuộc đời như yêu em.

Đoạn giữa của bài thơ, nhà thơ viết những câu thơ như sau:

“Đôi môi em ngào ngạt hương hoa hồng, thơm lừng hơn sửa mật, em xinh đẹp biết bao. Này người bạn đời không hôn ước, em tươi đẹp biết bao. Mắt em là mặt biển dậy sóng, miệng em là hương rừng nồng cay, ngực em là hai chùm nho óng ả, rốn em là cốc rượu đầy ắp đắm say”, “hai đầu gối em là hai viên đá quý”… “Tôi đánh mất cả thế giới – hiểu vì sao mình đánh mất – và tự nguyện lao vào ân sủng của tình em.”

Với đoạn thơ tôn vinh em ở trên, nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã viết hoàn toàn một cung nhã ca đầy ảnh tượng lung linh với chữ nghĩa lưu ly màu kim cương. “Em” ở đây không là em bé bỏng mà là em của thiên nhiên, là em của cuộc đời, cũng có thể là em của tạo hóa, là giáo chủ, là cao siêu, là chân lý…

Cuối bài thơ, Tần Hoài Dạ Vũ viết:

“Tình yêu đã phát sinh sự hợp nhất, vẻ dịu dàng, điều thiện, cái đẹp và cả sự viên mãn.

Có bao giờ tôi đã dại khờ nghi ngờ tình yêu? Em là nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức mạnh cho chính phút giây yếu đuối của đời tôi”.

Đến đây, bây giờ, không còn nghi ngờ gì nữa, Tần Hoài Dạ Vũ đã công nhận em chính là “Thượng Đế”, vì em là “Nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức mạnh cho chính phút giây yếu đuối” của đời nhà thơ.

Trong lời Bạt đặt ở cuối sách, Võ Mai Trang đã viết: “Thơ xuôi Tần Hoài Dạ Vũ trong thi phẩm ‘Phút giây vĩnh cửu’ này là cuộc hành trình đi tìm bản thể. Cuộc hàng trình ấy, chuyến đi tưởng như nhẹ nhàng mà khổ ải ấy, có thể không bao giờ đến, nhưng có hề chi”.

Châu Thạch tôi nghĩ khác, Tần Hoài Dạ Vũ đã đến!

PGS.TS Trần Hoài Anh đã viết: “Tập thơ ‘Phút giây vĩnh cửu’ của Tần Hoài Dạ Vũ, vì thế, là cuộc hành trình đi tìm cái tôi bản thể của một thi sĩ đã chọn thơ và tình yêu như một ‘tôn giáo’ để ‘sống’ và ‘thành đạo’ trong cuộc đời”.

Từ đó, Châu Thạch tôi nghĩ, Tần Hoài Dạ Vũ đã khởi đầu cuộc hành trình từ 60 năm trước: “Anh đi xa trên con đường dài của sự sống, của niềm vui sáng tạo và tiếng chim hót bên trời”. Đi để tìm em là niềm hy vọng như đi tìm bản thể của mình: “Phải rồi, trái tim em là ánh sáng, đôi mắt em và bàn tay từ ái của em cũng là ánh sáng luôn chiếu dọi đời anh” (Hy vọng của trần gian nhân ái). Và rồi, Tần Hoài Dạ Vũ đã tìm được chính bản thể của mình, đó là tình yêu dành cho em, cũng chính là ngộ được “lẽ đạo của thơ và tình yêu” để sống: “Em là nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức manh cho chính phút giây yếu đuôi của đời anh” (đoạn cuối của bài thơ Phút giây vĩnh cửu).

Người có tôn giáo trông cậy điều đó vào giáo chủ của mình, còn Tần Hoài Dạ Vũ trông cậy điều đó vào em, nghĩa là cuộc hành trình của nhà thơ đã đến đích mà ông hằng mơ ước, thành đạo trong cõi thơ và sống với tình yêu mà ông dành riêng và trọn cho em.

C.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm