TIN TỨC

Đọc tập thơ ‘Phút giây vĩnh cửu’ của Tần Hoài Dạ Vũ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-01-30 00:15:28
mail facebook google pos stwis
2722 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) – Thật bất ngờ, vừa vui vừa hãnh diện, khi nhận được tập thơ “Phút giây vĩnh cửu” của nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ gởi tặng tôi, do nhân viên bưu điện đem dến. Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã từng tặng tôi nguyên bộ sách “Văn học Dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng” gồm 4 tập, mỗi tập dày trên 500 trang và một số tập thơ mà ông đã xuất bản trong những năm gần đây. Tôi không ngần ngại khoe ra và nói thật lòng mình, bởi vì tôi chỉ là một cây bút nghiệp dư vô danh, mà ông là một cây đại thụ từ lâu trong nền văn học nước nhà.

 

Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ xuất hiên trên thi đàn từ năm 1963 trên các báo văn học có danh ở miền Nam Việt Nam như Bách Khoa, Văn, Phổ Thông… khi ông còn là chàng học sinh học lớp Đệ Tam (lớp 10) tại trường Quốc Học – Huế. Từ đó đến nay gần 60 năm, nhà thơ vẫn theo con đường sáng tác; lặn lội 30 năm khắp quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng, nghiên cứu văn hóa dân gian để viết nên bộ sách vô cùng giá trị mà hiện nay không thể thiếu trong các thư viện của các trường trung học, đại học.


Tập thơ “Phút giây vĩnh cửu” của Tần Hoài Dạ Vũ.

Phút giây vĩnh cửu là một tập thơ văn xuôi mà theo PGS.TS. Trần Hoài Anh nhận xét là “mang ý nghĩa triết luận của một cảm thức hiện sinh”, là “tuyên ngôn sống và tuyên ngôn sáng tạo” của nhà thơ. Còn Võ Mai Trang viết trong lời Bạt như sau: “Lắng lại trong chiêm nghiệm của tâm hồn, có thể nói rằng, thơ xuôi Tần Hoài Dạ Vũ trong thi phẩm Phút giây vĩnh cửu này, là cuộc hành trình đi tìm bản thể”.

Châu Thạch tôi, không có mấy kiến thức về triết lý, chỉ biết cảm nhận thơ theo con tim bình dân của mình, xin nói thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ trong Phút giây vĩnh cửu là “Một tập nhã ca”. Vì sao tôi nói Phút giây vĩnh cửu, thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ, là “Một tập nhã ca”? Vì đó là một tập thơ có hình thức văn chương cô đọng, có thật nhiều ý tưởng trong mỗi dòng thơ, ngắn gọn, đầy ẩn dụ, đầy ngụ ngôn, có tiếng thơ vang vọng 5 cung trầm bổng “Trong như tiếng hạt…, đục như tiếng suối…, tiếng khoan như gió…, tiếng mau như trời đổ mưa”, khiến cho người đọc thơ có tâm trạng không khác gì Kim Trọng nghe Kiều đàn thuở trước, trong thơ Nguyễn Du.

Phút giây vĩnh cửu có tất cả 50 bài thơ không vần. Không vần không có nghĩa là không trôi chảy. Mỗi bài thơ vẫn trôi chảy như những dòng sông có âm thanh của sóng, âm hưởng của dòng trôi giữa gió giữa trăng, qua ghềnh qua thác và êm đềm khi đến bình nguyên có mé nước bình tịnh bên đồng cỏ xanh tươi!

Đầu tiên, bài thơ Hy vọng của trần gian nhân ái ta đã đọc được:

“Niềm vui của trái tim yêu thương là phép mầu của những đám mây phía chân trời hò hẹn. Em thân yêu, hãy dâng bài ca bất tuyệt cho những niềm vui không hẹn trước và hãy đặt lòng em trước ngưỡng cửa của những ước mơ như mây trắng trên trời”… “Tôi đương đi trên con đường dài và tôi luôn thấy ánh sáng của trái tim em”.

Bài thơ cho ta một niềm hy vong lãng mạn tuyệt vời, không là tiền tài danh vọng mà là “Em”. Em là ánh sáng lý tưởng nhân ái của đời anh trong kiếp sống trần gian.

Bài thơ thứ 19 – Mùa xuân đi qua, Tần Hoài Dạ Vũ đã thổ lộ: “Với tất cả nỗi đau dày vò anh nhớ tới em”. Nhà thơ dã yêu em bằng danh dự: “Chưa bao giờ bày tỏ lời tán tụng trước những kẻ quyền lực. Đó chẳng phải là niềm kiêu hãnh vinh danh con người?”. Nhà thơ yêu em bằng trách nhiệm; “Không hề chối bỏ những gì có liên hệ đến đời nhau”. Nhà thơ yêu nhau bằng thủy chung: “Chẳng có nhan sắc nào còn làm trái tim anh xao xuyến, cũng chưa hề có nụ hôn nào khiến anh phải đắm say”. Nhà thơ yêu như thế, nhưng đời thật là phi lý khi “Em đã ra đi, những chiếc hoa kèn thổi mãi tiếng u buồn trong khu vườn vắng, chuỗi cười trong suốt ngày nào đã tắt trong niềm quên lãng và mắt em đã lặn rồi vì sao kỷ niệm. Có bao giờ tình yêu không là nỗi đắng cay?”.

Đọc bài thơ như thẩm thấu vào lòng ta tiếng thở dài cao thượng!

Bài thơ áp chót là bài thơ có tựa đề lấy làm tựa đề của cả tập thơ Phút giây vĩnh cửu. Phút giây là thời gian ngắn, vĩnh cửu là thời gian vô tận. Phút giây mà gọi là vĩnh cửu thì nghe ra tương phản. PGS.TS Trần Hoài Anh trong “Lời Giới thiệu” đã giải thích như sau: “Nhưng là sự tương phản mang tính biện chứng, đặt ra cho người đọc nhiều vấn đề suy nghiệm về thế sự, nhân sinh, về sinh mệnh của thơ”. Châu Thạch tôi nghĩ thô thiển: Phút giây vĩnh cửu là cái phút giây đem đến cho nhà thơ hiểu được, chứng được, ngộ được giá trị vĩnh viễn của cuộc đời.

Vào đề bài thơ Phút giây vĩnh cửu Tần Hoài Dạ Vũ đã viết:

“Tôi không nhớ tôi đã bắt đầu yêu em tự bao giờ. Chỉ biết rằng lòng tôi thổn thức trước gương mặt ẩn hiện cả nỗi đau thương thầm lặng của cuộc đời”. Vậy em ở đây không chỉ là người nữ, mà em ở đây mang hình ảnh niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời. Nhà thơ yêu em như yêu cuộc đời và yêu cuộc đời như yêu em.

Đoạn giữa của bài thơ, nhà thơ viết những câu thơ như sau:

“Đôi môi em ngào ngạt hương hoa hồng, thơm lừng hơn sửa mật, em xinh đẹp biết bao. Này người bạn đời không hôn ước, em tươi đẹp biết bao. Mắt em là mặt biển dậy sóng, miệng em là hương rừng nồng cay, ngực em là hai chùm nho óng ả, rốn em là cốc rượu đầy ắp đắm say”, “hai đầu gối em là hai viên đá quý”… “Tôi đánh mất cả thế giới – hiểu vì sao mình đánh mất – và tự nguyện lao vào ân sủng của tình em.”

Với đoạn thơ tôn vinh em ở trên, nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã viết hoàn toàn một cung nhã ca đầy ảnh tượng lung linh với chữ nghĩa lưu ly màu kim cương. “Em” ở đây không là em bé bỏng mà là em của thiên nhiên, là em của cuộc đời, cũng có thể là em của tạo hóa, là giáo chủ, là cao siêu, là chân lý…

Cuối bài thơ, Tần Hoài Dạ Vũ viết:

“Tình yêu đã phát sinh sự hợp nhất, vẻ dịu dàng, điều thiện, cái đẹp và cả sự viên mãn.

Có bao giờ tôi đã dại khờ nghi ngờ tình yêu? Em là nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức mạnh cho chính phút giây yếu đuối của đời tôi”.

Đến đây, bây giờ, không còn nghi ngờ gì nữa, Tần Hoài Dạ Vũ đã công nhận em chính là “Thượng Đế”, vì em là “Nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức mạnh cho chính phút giây yếu đuối” của đời nhà thơ.

Trong lời Bạt đặt ở cuối sách, Võ Mai Trang đã viết: “Thơ xuôi Tần Hoài Dạ Vũ trong thi phẩm ‘Phút giây vĩnh cửu’ này là cuộc hành trình đi tìm bản thể. Cuộc hàng trình ấy, chuyến đi tưởng như nhẹ nhàng mà khổ ải ấy, có thể không bao giờ đến, nhưng có hề chi”.

Châu Thạch tôi nghĩ khác, Tần Hoài Dạ Vũ đã đến!

PGS.TS Trần Hoài Anh đã viết: “Tập thơ ‘Phút giây vĩnh cửu’ của Tần Hoài Dạ Vũ, vì thế, là cuộc hành trình đi tìm cái tôi bản thể của một thi sĩ đã chọn thơ và tình yêu như một ‘tôn giáo’ để ‘sống’ và ‘thành đạo’ trong cuộc đời”.

Từ đó, Châu Thạch tôi nghĩ, Tần Hoài Dạ Vũ đã khởi đầu cuộc hành trình từ 60 năm trước: “Anh đi xa trên con đường dài của sự sống, của niềm vui sáng tạo và tiếng chim hót bên trời”. Đi để tìm em là niềm hy vọng như đi tìm bản thể của mình: “Phải rồi, trái tim em là ánh sáng, đôi mắt em và bàn tay từ ái của em cũng là ánh sáng luôn chiếu dọi đời anh” (Hy vọng của trần gian nhân ái). Và rồi, Tần Hoài Dạ Vũ đã tìm được chính bản thể của mình, đó là tình yêu dành cho em, cũng chính là ngộ được “lẽ đạo của thơ và tình yêu” để sống: “Em là nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức manh cho chính phút giây yếu đuôi của đời anh” (đoạn cuối của bài thơ Phút giây vĩnh cửu).

Người có tôn giáo trông cậy điều đó vào giáo chủ của mình, còn Tần Hoài Dạ Vũ trông cậy điều đó vào em, nghĩa là cuộc hành trình của nhà thơ đã đến đích mà ông hằng mơ ước, thành đạo trong cõi thơ và sống với tình yêu mà ông dành riêng và trọn cho em.

C.T

Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ xuất hiên trên thi đàn từ năm 1963 trên các báo văn học có danh ở miền Nam Việt Nam như Bách Khoa, Văn, Phổ Thông… khi ông còn là chàng học sinh học lớp Đệ Tam (lớp 10) tại trường Quốc Học – Huế. Từ đó đến nay gần 60 năm, nhà thơ vẫn theo con đường sáng tác; lặn lội 30 năm khắp quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng, nghiên cứu văn hóa dân gian để viết nên bộ sách vô cùng giá trị mà hiện nay không thể thiếu trong các thư viện của các trường trung học, đại học.


Tập thơ “Phút giây vĩnh cửu” của Tần Hoài Dạ Vũ.

Phút giây vĩnh cửu là một tập thơ văn xuôi mà theo PGS.TS. Trần Hoài Anh nhận xét là “mang ý nghĩa triết luận của một cảm thức hiện sinh”, là “tuyên ngôn sống và tuyên ngôn sáng tạo” của nhà thơ. Còn Võ Mai Trang viết trong lời Bạt như sau: “Lắng lại trong chiêm nghiệm của tâm hồn, có thể nói rằng, thơ xuôi Tần Hoài Dạ Vũ trong thi phẩm Phút giây vĩnh cửu này, là cuộc hành trình đi tìm bản thể”.

Châu Thạch tôi, không có mấy kiến thức về triết lý, chỉ biết cảm nhận thơ theo con tim bình dân của mình, xin nói thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ trong Phút giây vĩnh cửu là “Một tập nhã ca”. Vì sao tôi nói Phút giây vĩnh cửu, thơ văn xuôi của Tần Hoài Dạ Vũ, là “Một tập nhã ca”? Vì đó là một tập thơ có hình thức văn chương cô đọng, có thật nhiều ý tưởng trong mỗi dòng thơ, ngắn gọn, đầy ẩn dụ, đầy ngụ ngôn, có tiếng thơ vang vọng 5 cung trầm bổng “Trong như tiếng hạt…, đục như tiếng suối…, tiếng khoan như gió…, tiếng mau như trời đổ mưa”, khiến cho người đọc thơ có tâm trạng không khác gì Kim Trọng nghe Kiều đàn thuở trước, trong thơ Nguyễn Du.

Phút giây vĩnh cửu có tất cả 50 bài thơ không vần. Không vần không có nghĩa là không trôi chảy. Mỗi bài thơ vẫn trôi chảy như những dòng sông có âm thanh của sóng, âm hưởng của dòng trôi giữa gió giữa trăng, qua ghềnh qua thác và êm đềm khi đến bình nguyên có mé nước bình tịnh bên đồng cỏ xanh tươi!

Đầu tiên, bài thơ Hy vọng của trần gian nhân ái ta đã đọc được:

“Niềm vui của trái tim yêu thương là phép mầu của những đám mây phía chân trời hò hẹn. Em thân yêu, hãy dâng bài ca bất tuyệt cho những niềm vui không hẹn trước và hãy đặt lòng em trước ngưỡng cửa của những ước mơ như mây trắng trên trời”… “Tôi đương đi trên con đường dài và tôi luôn thấy ánh sáng của trái tim em”.

Bài thơ cho ta một niềm hy vong lãng mạn tuyệt vời, không là tiền tài danh vọng mà là “Em”. Em là ánh sáng lý tưởng nhân ái của đời anh trong kiếp sống trần gian.

Bài thơ thứ 19 – Mùa xuân đi qua, Tần Hoài Dạ Vũ đã thổ lộ: “Với tất cả nỗi đau dày vò anh nhớ tới em”. Nhà thơ dã yêu em bằng danh dự: “Chưa bao giờ bày tỏ lời tán tụng trước những kẻ quyền lực. Đó chẳng phải là niềm kiêu hãnh vinh danh con người?”. Nhà thơ yêu em bằng trách nhiệm; “Không hề chối bỏ những gì có liên hệ đến đời nhau”. Nhà thơ yêu nhau bằng thủy chung: “Chẳng có nhan sắc nào còn làm trái tim anh xao xuyến, cũng chưa hề có nụ hôn nào khiến anh phải đắm say”. Nhà thơ yêu như thế, nhưng đời thật là phi lý khi “Em đã ra đi, những chiếc hoa kèn thổi mãi tiếng u buồn trong khu vườn vắng, chuỗi cười trong suốt ngày nào đã tắt trong niềm quên lãng và mắt em đã lặn rồi vì sao kỷ niệm. Có bao giờ tình yêu không là nỗi đắng cay?”.

Đọc bài thơ như thẩm thấu vào lòng ta tiếng thở dài cao thượng!

Bài thơ áp chót là bài thơ có tựa đề lấy làm tựa đề của cả tập thơ Phút giây vĩnh cửu. Phút giây là thời gian ngắn, vĩnh cửu là thời gian vô tận. Phút giây mà gọi là vĩnh cửu thì nghe ra tương phản. PGS.TS Trần Hoài Anh trong “Lời Giới thiệu” đã giải thích như sau: “Nhưng là sự tương phản mang tính biện chứng, đặt ra cho người đọc nhiều vấn đề suy nghiệm về thế sự, nhân sinh, về sinh mệnh của thơ”. Châu Thạch tôi nghĩ thô thiển: Phút giây vĩnh cửu là cái phút giây đem đến cho nhà thơ hiểu được, chứng được, ngộ được giá trị vĩnh viễn của cuộc đời.

Vào đề bài thơ Phút giây vĩnh cửu Tần Hoài Dạ Vũ đã viết:

“Tôi không nhớ tôi đã bắt đầu yêu em tự bao giờ. Chỉ biết rằng lòng tôi thổn thức trước gương mặt ẩn hiện cả nỗi đau thương thầm lặng của cuộc đời”. Vậy em ở đây không chỉ là người nữ, mà em ở đây mang hình ảnh niềm vui và nỗi buồn của cuộc đời. Nhà thơ yêu em như yêu cuộc đời và yêu cuộc đời như yêu em.

Đoạn giữa của bài thơ, nhà thơ viết những câu thơ như sau:

“Đôi môi em ngào ngạt hương hoa hồng, thơm lừng hơn sửa mật, em xinh đẹp biết bao. Này người bạn đời không hôn ước, em tươi đẹp biết bao. Mắt em là mặt biển dậy sóng, miệng em là hương rừng nồng cay, ngực em là hai chùm nho óng ả, rốn em là cốc rượu đầy ắp đắm say”, “hai đầu gối em là hai viên đá quý”… “Tôi đánh mất cả thế giới – hiểu vì sao mình đánh mất – và tự nguyện lao vào ân sủng của tình em.”

Với đoạn thơ tôn vinh em ở trên, nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ đã viết hoàn toàn một cung nhã ca đầy ảnh tượng lung linh với chữ nghĩa lưu ly màu kim cương. “Em” ở đây không là em bé bỏng mà là em của thiên nhiên, là em của cuộc đời, cũng có thể là em của tạo hóa, là giáo chủ, là cao siêu, là chân lý…

Cuối bài thơ, Tần Hoài Dạ Vũ viết:

“Tình yêu đã phát sinh sự hợp nhất, vẻ dịu dàng, điều thiện, cái đẹp và cả sự viên mãn.

Có bao giờ tôi đã dại khờ nghi ngờ tình yêu? Em là nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức mạnh cho chính phút giây yếu đuối của đời tôi”.

Đến đây, bây giờ, không còn nghi ngờ gì nữa, Tần Hoài Dạ Vũ đã công nhận em chính là “Thượng Đế”, vì em là “Nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức mạnh cho chính phút giây yếu đuối” của đời nhà thơ.

Trong lời Bạt đặt ở cuối sách, Võ Mai Trang đã viết: “Thơ xuôi Tần Hoài Dạ Vũ trong thi phẩm ‘Phút giây vĩnh cửu’ này là cuộc hành trình đi tìm bản thể. Cuộc hàng trình ấy, chuyến đi tưởng như nhẹ nhàng mà khổ ải ấy, có thể không bao giờ đến, nhưng có hề chi”.

Châu Thạch tôi nghĩ khác, Tần Hoài Dạ Vũ đã đến!

PGS.TS Trần Hoài Anh đã viết: “Tập thơ ‘Phút giây vĩnh cửu’ của Tần Hoài Dạ Vũ, vì thế, là cuộc hành trình đi tìm cái tôi bản thể của một thi sĩ đã chọn thơ và tình yêu như một ‘tôn giáo’ để ‘sống’ và ‘thành đạo’ trong cuộc đời”.

Từ đó, Châu Thạch tôi nghĩ, Tần Hoài Dạ Vũ đã khởi đầu cuộc hành trình từ 60 năm trước: “Anh đi xa trên con đường dài của sự sống, của niềm vui sáng tạo và tiếng chim hót bên trời”. Đi để tìm em là niềm hy vọng như đi tìm bản thể của mình: “Phải rồi, trái tim em là ánh sáng, đôi mắt em và bàn tay từ ái của em cũng là ánh sáng luôn chiếu dọi đời anh” (Hy vọng của trần gian nhân ái). Và rồi, Tần Hoài Dạ Vũ đã tìm được chính bản thể của mình, đó là tình yêu dành cho em, cũng chính là ngộ được “lẽ đạo của thơ và tình yêu” để sống: “Em là nơi ẩn náu, cõi lãng quên và là sức manh cho chính phút giây yếu đuôi của đời anh” (đoạn cuối của bài thơ Phút giây vĩnh cửu).

Người có tôn giáo trông cậy điều đó vào giáo chủ của mình, còn Tần Hoài Dạ Vũ trông cậy điều đó vào em, nghĩa là cuộc hành trình của nhà thơ đã đến đích mà ông hằng mơ ước, thành đạo trong cõi thơ và sống với tình yêu mà ông dành riêng và trọn cho em.

C.T

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm