TIN TỨC

Đối diện với độc giả || Nguyễn Trường

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2022-11-24 08:06:50
mail facebook google pos stwis
1671 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG

(Đọc tập thơ “Đối diện chính mình” của Phạm Trung Tín)

Đối với mỗi người, đối diện với mình để vượt qua chính mình là con đường gian khó nhất. Vì ai cũng biết vượt qua giới hạn của mình phải có quyết tâm, nghị lực và khả năng phi thường. Phạm Trung Tín, với chuyện sáng tác thơ ca đã có được khả năng đó.

Đến nay Phạm Trung Tín đã xuất bản 5 tập thơ: “Dặm dài ký ức”- 2013; “Miền tâm tưởng”- 2014; “Lời của đá”- 2015; “Khoảng thức”- 2017; “Đường chân trời”- 2019. Những tập thơ đầu, Phạm Trung Tín còn làm thơ theo kiểu hồn nhiên, thiên về tả chân, thấy gì ghi nấy thông qua cảm xúc của mình. Nhưng càng làm thơ lâu năm, Phạm Trung Tín càng có nhiều kinh nghiệm qua tiếp xúc với thơ, với các nhà thơ, với kiến thức sách vở và tự chiêm nghiệm... thơ anh đã có bước tiến xa hơn so với chính mình. Nổi bật nhất là tập thơ “Đối diện chính mình”, anh đã vượt được thơ ở dạng tả chân để đến với tầng cao, nhiều tìm tòi, sâu sắc, hiện đại hơn.

Một bài thơ hay yêu cầu cần có ý tưởng sâu sắc, tứ thơ hay, cách diễn đạt độc đáo, mới lạ bằng cảm xúc với nhiều cung bậc...Đối với nhà thơ, tìm được tứ thơ hay coi như hy vọng có một bài thơ hay, chỉ còn người lao động thơ thể hiện nó bằng nghệ thuật nào. Nhà thơ Xuân Diệu đã từng viết: “Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ”. Nhà thơ Huy Cận luôn đi tìm tứ thơ, thậm chí tìm tứ ở bất cứ trường hợp nào: “Có tối vô hầm trốn máy bay/ Tứ thơ chợt đến viết lên tay”. Trong tập thơ này, Phạm Trung Tín cũng có một số bài có tứ hay như bài “ Đối diện chính mình”, qua tứ thơ này tác giả rộng đường suy tư về mình, về thế giới, về thế thái nhân tình:

Cánh buồm bạt gió trùng khơi/ Hư danh ảo ảnh, vời vời thế nhân”

Hay bài “ Cắt móng tay cho mẹ”,  nói về đời mẹ, về phận con hiếu thảo, về cuộc đời...

 “Mười ngón gầy guộc nhăn nheo/ Đồng sâu ruộng cạn, đói nghèo, trả vay.../ Trời thương con được cầm tay/ Để xoa dịu bớt đắng cay phận người”

 Tuy nhiên trong tập chưa có nhiều bài như thế.

 Phạm Trung Tín tốt nghiệp cử nhân kinh tế và cử nhân triết học. Bốn năm học triết học, cùng với việc đọc sách triết, giúp cho anh có cái nhìn và cái cảm của người triết học. “Triết học thường đưa ra các câu hỏi về bản thể, nhận thức, chân lý, đạo đức, thẩm mỹ...”  Nhà triết học thường suy tư về thế giới, thường hay đặt ra nhưng câu hỏi về cuộc đời. Ta là ai? Ta từ đâu đến?... Tuy nhiên triết học và triết trong thơ khác nhau. Thơ là hương thơm, của cây nhang triết học đã được đốt lên. Trịnh Công Sơn từng học triết học trường Tây ở Sài Gòn, có lẽ vì thế ca từ của nhạc sỹ cứ vọng lên những câu hỏi hỏi tưởng vu vơ sương khói mà nghẫm thật sâu sắc: “Đi giữ mọi người, lòng như thầm hỏi, tôi đang nhớ ai?”; “Làm  sao em biết bia đá không đau?”... Phạm Trung Tín cũng có nhiều câu hỏi “thơm hương” triết học trong thơ:

 “Mình là ai, bước phong trần trả vay?” (Đối diện với chính mình)

“Miền cực lạc có thảnh thơi?/ Người đau không? Nỗi đau đời buổi nay?” (Viếng mộ Nguyễn Bính thi nhân)

Thơ đòi hỏi phải có những ý tưởng, mà có lẽ người thưởng thức thơ, cái họ cần nhất là lĩnh hội được ở tác giả những ý tưởng sâu sắc. Truyện Kiều của Nguyễn Du được thế hệ này đến thế hệ khác say mê, trước hết ở giá trị tư tưởng. Không dưng mở đầu Truyện Kiều, Nguyễn Du đã đưa ra tư tưởng: “Trăm năm trong cõi người ta/ Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, đại thi hào đã đưa ra thuyết tài mệnh tương đố. Có khi “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Trong từng đoạn, từng chương đều có những khái quát sâu sắc mang tầm triết học.

Còn cử nhân triết học Phạm Trung Tín có những tư tưởng gì mới? Ngay tựa sách anh đã lấy bài thơ “ Đối diện chính mình” làm tên cho cả tập, người đọc đã mường tượng được nhà thơ sẽ giải bày những sâu thẳm trong tâm hồn mình, có khi chất vấn mình. Độc giả có thể phiêu lưu vào thế giới tâm hồn của chính tác giả:

Mình đối diện chính mình thôi/ Hẹp vòng quay, chậm gót rồi, hoàng hôn/ Cộng trừ chi nữa dại khôn/ Cõi nhân sinh- rối phách hồn lạc xiêu” (Đối diện chính mình)

 Phạm Trung Tín có quãng đời đầu buồn đau vì người vợ yêu sớm đi về cõi phật. Bởi vậy ta hay thấy anh suy tư về một kiếp người, về thế giới bên kia, chính sự chiêm nghiêm, sự suy tư ấy cho người đọc nhiều cảm xúc:

 “Hiền thê ơi, Ngọc Mỹ ơi/ Nơi miên viễn ấy mây trời có xanh?” (Hai mươi mùa nhớ)

 “Trần gian oan nghiệt cỗi cằn/ Trời cao quá để nhân văn rối bời”; “ Trời mây mờ ảo khói hương/ Giếng khơi lấp cạn, góc tường cỏ che/ Đường xưa mờ dấu ngựa xe/ Nhà xưa đổi chủ- tiếng ve rã rời”  (Hai mươi mùa nhớ).

 Nhà thơ hay viết về những người bạn, người thân đã giã từ cõi tạm, đến với cõi miên viễn:

“Vẳng nghe thi khúc cồn cào/ Tái tê di ảnh, nao nao cõi lòng” (Viếng mộ Nguyễn Bính thi nhân).

 Tác giã suy tư về người bạn thơ đã an nghĩ nơi vĩnh hằng:

 “Vẫn biết trần gian là cõi tạm/ Đời người bóng nắng hắt qua sông” (Tiễn thi sỹ Đông Nguyên nơi an nghỉ vĩnh hằng)

 Có lúc anh phiêu diêu trong cõi tâm linh khi đóng vai một người con đã hy sinh trong chiến trường năm xưa, nay mẹ quy tiên, hồn con đón mẹ về trời thật cảm động:

 “Hồn con rước mẹ về trời/ Chín mươi chín tuổi chạm nơi ảo mờ/ Mẹ ơi qua những bể dâu/ Trần gian bời rối sắc màu nghĩa nhân” (Thay lời một người con liệt sỹ rước linh hồn mẹ về cõi vĩnh hằng).

 Trong tập thơ có rất nhiều bài tiển người thân, người đồng đội... về cõi vĩnh hằng, người ở lại suy tư về thế giới này, cõi đời này, đó là những ý tưởng hay, bãng lãng sương khói tâm linh, triết học.

Nếu như tư tưởng vấn đề gần như là hồn cốt của thơ, thì nghệ thuật thể hiện nó có thể là da thịt của bài thơ chăng? Bài thơ hay cần có ít nhất vài ba câu thơ hay trở lên. Câu thơ hay như là công tắc, khi bật lên nó làm sáng bừng bài thơ. Truyện Kiều của Nguyễn Du hay còn bởi trùng điệp những câu thơ hay: “Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường”. Nhà thơ Vương Trọng chọn ra 100 câu thơ hay nhất trong truyện Kiều của Nguyễn Du. Nếu chọn 1000 câu thơ hay cũng có. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cũng có nhiều câu thơ hay trong “Tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo”. Hầu như bài nào cũng có ít nhất vài ba câu thơ hay. Bởi thế tuyển tập thơ này được bạn đọc đón nhận nồng nhiệt. Ví dụ như bài thơ “Sông Lam” có thể lẫy ra những câu thơ hay: “ Khoai lang gàn luống dọc thích bò ngàng”...Kìa gió Lào thổi cong sông Lam” (Sông Lam)

Vậy câu thơ hay là gì? Câu thơ hay nằm ở hình tượng thơ độc đáo, hình ảnh được nhân cách hóa tài tình, có nhiều tầng nghĩa... Trong tập thơ của Phạm Trung Tín cũng có nhiều bài hay, nhiều câu thơ hay:

“Tình đời lạc cõi mông lung/ Tiếng trăng ngơ ngác đêm chùng hương bay” (Hồi tưởng);

 “Sóng đêm/ Biển dỗ khát mềm”(Đêm Bình Thuận);

 “Bám víu thang mây tìm ước vọng/ Tự mình huyền ảo giữa vô biên” (Tình phố núi);

 “Tỷ năm tương tác cơ hàn/ Lỡ đâu ta- quả đất tàn trước trăng” (Uống rượu cùng trăng);

 “Nắng cong bông lúa rưng rưng/ Mặn mòi gió biển nuôi rừng mãi xanh” (Ngọn nguồn hạnh phúc)...

Trong thơ còn có thi điệu. Truyện Kiều dù là thơ lục bát nhưng nhiều lúc Nguyễn Du cũng biến ảo tài tình về thi điệu, khi tả Kiều đánh đàn, nhịp thơ cũng hòa với tiếng đàn. Khi đi xe ngựa trên đường khấp khểnh ổ gà như lòng nàng Kiều ngổn ngang trăm mối thì: “Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”. “Đùng đùng gió giật mây vần/ Một xe trong cõi hồng trần như bay”. Tâm trạng của Kim Trọng khi nghe Kiều đàn cũng bắt nhịp với cung đàn: “ Khi tựa gối, khi cúi đầu, khi vò chín khúc, khi chau đôi mày”. Trong thơ  có âm điệu, có nhịp điệu thơ. Phạm Trung Tín cũng đã có nhiều cố gắng tìm tòi cách thể hiện về thi điệu:

 “Ngỗn ngang cõi thợ, cõi thầy

 Cõi ma, cõi quỷ, vơi đầy, u mê” ( Nhịp 4,2/ 2,2,2,2) (Cõi mình);

 “Chén này: Kết nghĩa- chia phôi

 Chén này: Tạ lỗi mẹ hồi tử sinh

 Chén này: Tri kỷ tri âm

 Ba lần rót- gọi ba sinh...trùng phùng” (Rưới rượu mồ bạn).

Trong tập thơ chủ yếu là thơ lục bát, mà như ta thường nói thơ lục bát dễ làm, khó hay. Phạm Trung tín vẫn trung thành với thơ dân tộc, vậy thi pháp của Phạm Trung Tín là gì khi anh chọn cách thể hiện bằng lối thơ truyền thống? Muốn hay phải có những câu thơ “ sương khói”, hư ảo, nhiều tầng nghĩa... Có lẽ thơ lục bát của anh hay là nhờ cảm xúc bắc cầu qua những câu sang khổ rất thi điệu:

“Bồi hồi gió lạc rừng xa/ Cội thông triền dốc la đà lá ru/ Xuân Hương chiều lãng đãng mù/ Người xưa ơi- gió đồi Cù gợi trêu.

Dã quỳ xanh nụ phong rêu

Mưa giăng mắc lạnh cánh diều thảo nguyên...(Hồi tưởng)

Chúng ta để ý đến hai câu đầu của khổ thứ hai rất động, rất linh hoạt, như ngân nga một tiếng đàn. Trong các bài thơ lục bát của Phạm Trung Tín có rất nhiều câu sang khổ như thế:

... Xa xôi trăng cũng như cười

Cùng ta tròn- khuyết, chín- mười  tỉnh say

 

Mời trăng cạn nhé ly này

Men cay hóa giải đọa đày nhân gian...” (Uống rượu cùng trăng)

Đó là phong cách thơ lục bát của anh, bởi thế thơ anh có giọng điệu riêng, tiếng nói riêng làm nên “thương hiệu” thơ Phạm Trung Tín.  
 

N.T (Bài đăng báo Văn nghệ số 48, ngày 26/11/2022).

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm