TIN TỨC

Trắng tay mình những cánh ngọc lan tang

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-16 22:05:09
mail facebook google pos stwis
1738 lượt xem

BÙI PHAN THẢO
(Đọc “Người về trong hương” của nhà thơ Huệ Triệu)

Những ngày tháng Bảy âm lịch lại về, một mùa Vu Lan đầy nhớ thương, khắc khoải khi không ít con hẻm, khu phố ở TP Hồ Chí Minh nhiều nhà cùng làm đám giỗ vì người thân mất vì đại dịch COVID-19. Nhà thơ Huệ Triệu, Ủy viên Ban Chấp hành, Trưởng Ban Nhà vặn nữ, Hội Nhà văn TP HCM cũng là người chịu đại tang khi chị mất đi người chồng, con trai mất đi người cha vì đại dịch trong những ngày tháng 8-2021.

Đã 2 năm trôi qua mà vẫn như mới đây thôi, dù ai cũng cố quên đi song vẫn phải nhớ một đoạn đời với ký ức đau buồn. Những ngày đó, vợ chồng nhà thơ Huệ Triệu cùng mắc COVID-19. Nhà thơ may mắn vượt qua được nhưng anh Nhân, chồng chị đã bị đại dịch cướp đi mạng sống. Một mất mát quá lớn, nỗi đau tột cùng, vô tận. Nghĩa vợ chồng sâu nặng, mất đi người chồng là cú sốc cực lớn với nhà thơ thời điểm đó. Những buổi họp Ban Chấp hành sau khi thành phố trở lại trạng thái bình thường mới, chúng tôi đọc được trong mắt Huệ Triệu sự thảng thốt, chị không tin điều đó là sự thật. Nhìn chị như người mất hồn, mà phải thôi, mất đi một phần quan trọng, quý giá nhất của đời người thì ai không điên dại, đớn đau. Nhất là khi gia đình còn bao dự định, bao việc còn dang dở: nhà đang xây, vườn đang tạo lập, nhà sắp đón con dâu…

Dĩ nhiên những nhớ thương rồi cũng phải nén lại, tạm nguôi ngoai để sống tiếp trên cõi đời này. Ở trong sâu thẳm, nỗi nhớ thương dồn nén lại, luôn chực chờ để tuôn trào. Huệ Triệu nén tất cả cảm xúc, yêu thương trong tình yêu cuộc sống, nghĩa tình chồng vợ, gia đình thân thuộc… để viết trường ca “Người về trong hương”, NXB Hội Nhà văn, 2023, xuất bản trong mùa Vu Lan để tưởng nhớ những người đã vĩnh viễn rời xa cuộc sống, những người vẫn ở mãi trong tâm tưởng yêu thương của người thân.

Ở đây, người đọc cùng nhà thơ hòa vào dòng ký ức cùng những cảm xúc nghẹn ngào, đau đớn…Bắt đầu từ góc vườn xanh, từ mùi ngọc lan thơm ngát: “Từng cánh trắng rơi cỏ vườn lặng lẽ/ em gom vào từng nắm dịu dàng hoa”.

Trên lối về vườn xanh đó, cây trái trong vườn vẫn nhớ một bóng hình: “Cái áo cũ sờn gom ngày nắng ngày mưa/ dáng cao gầy thấp thoáng bóng trưa/ anh bảo trồng lên bóng mát cho người”.

Ký ức đưa người đọc về thuở thanh xuân hai vợ chồng nhà thơ vào Nam lập nghiệp. Những nhọc nhằn trôi qua nhường chỗ cho tóc trắng đời người:

Háo hức phương Nam giấc mơ tuổi trẻ/ chẳng biết đâu những đuổi dồn dâu bể/ người xông xênh, kẻ khốn khó cơ hàn/ giờ giống nhau cả thôi một mái đầu sương muối/ nhìn con lớn biết mình luống tuổi”.

Có ai ngờ, đại dịch tràn qua nhân loại, gây ra bao cảnh hoang tàn. TP Hồ Chí Minh lại là một trong những địa phương thiệt hại nặng nề nhất vì đại dịch, từ con số nhân mạng lìa đời đến ảnh hưởng mọi mặt kinh tế - xã hội:

Tan hoang hơn cả tan hoang/ như sóng tràn/ như bão quét/ đại dịch bùng phát lần thứ tư/ còn hơn trúng cơn gió độc/ người chao đảo đất trời chao đảo”

Giữa trùng trùng tai ương bủa vây, nhà thơ thảng thốt bật lên câu hỏi: “Trên đời này có gì quý hơn mạng sống/ còn gì bất hạnh hơn là mất đi quyền được sống?

Câu hỏi của đau thương, dằn vặt, câu hỏi nhói lòng bởi khăn tang đã trắng nhiều hẻm nhỏ, các bệnh viện đầy chật người, những hồi xe cứu thương rú liên hồi trên nhiều ngả đường thành phố; con số những người tử vong vì virus Corona cứ đầy lên các trang báo mỗi ngày. Nhất là những con hẻm nhỏ của quận 4, quận 6, quận 8, quận 10…, từng chùm ca bệnh, từng người theo nhau từ giã cõi đời: “căn nhà chật giờ phía nào cũng trống/ tiếng nấc tủi buồn mẹ bỏ con đi/ nghi ngút khói hương chồng gọi vợ về”. Đã có gia đình 8 người đều mất, bác sĩ sững sờ không gọi được cho ai, chỉ có hồi âm sau tiếng chuông là im lặng bao trùm…

Nhưng với ý chí, tấm lòng nhân hậu, đầy nghĩa tình của người phương Nam và sự tiếp sức, hỗ trợ của cả nước, TP Hồ Chí Minh đã vượt qua đại dịch, trở lại hồi sinh sau những tang thương, mất mát.

Không ai, không điều gì có thể lãng quên, Huệ Triệu lại thảng thốt nhớ những ngày đầy biến cố nghiệt ngã của gia đình, tháng 8-2021. Cả hai vợ chồng phải vào bệnh viện. Anh Nhân chồng chị tình trạng bệnh nặng hơn:

Gương mặt người thương lả gối trong đêm/ em run người trước dự cảm không tên/ sự sống mong manh còn hơn tơ nhện/ em nắm chặt tay anh như níu chặt đời mình”.

24 ngày chống chọi trong khu hồi sức, có lúc tưởng anh khỏe lại qua những dòng tin nhắn mừng vợ sắp được về nhà, khoe ăn được cháo, cả nhà mừng như cơn bão sắp qua. Nhưng rồi bệnh anh trở nặng:

“Cuối chiều anh bắt đầu thở máy/ những chữ những từ lần đầu em thấy/ tai đã ù đi trong dự cảm không lành/ tay run lên em cố nhắn động viên chồng/ biết anh không đọc được nữa đâu/ em nói dối anh mà dối lòng mình sao được”.

Nhưng anh Nhân đã không qua khỏi:

“Ba kiếp nỗi đau cộng lại/ không đau bằng phút giây này em vĩnh viễn mất anh/ hồn thiêng anh hỡi về đây/ để em ôm một vòng tay gió đầy

Những ngày đó chúng tôi biết Huệ Triệu và con trai phải rất kiên cường mới có thể đi qua buồn đau, để hương hồn anh Nhân siêu thoát. Thời gian trôi qua như chớp mắt nhưng buồn đau dài suốt đời người. Trong không gian yêu thương luôn có hình bóng của người chồng, người cha, cỏ cây cũng ngơ ngẩn hồn hoa:

“Mưa tả tơi cành ngọc lan muốt đất/ em trắng tay mình những cánh ngọc lan tang/ thành phố hồi sinh nhưng thiếu mặt bao người/ thành phố hồi sinh mà em mất anh rồi/ nén nhang thơm cả tàn cong im lặng/ đất đón anh tay mẹ cỏ xanh mềm”.

Những ngày tháng Bảy nghi ngút khói hương. Những nỗi đau lại nén chặt, vỡ òa trong nước mắt. Trong khói hương, thấp thoáng bóng người về:

Hôm nay rằm nguyệt quế lại muốt bông/ các con cắm bình hoa ly cánh trắng/ hình như nụ cười ba thoáng nắng/ người về trong hương”.

 (B.P.T)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm