TIN TỨC

Trắng tay mình những cánh ngọc lan tang

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-09-16 22:05:09
mail facebook google pos stwis
1664 lượt xem

BÙI PHAN THẢO
(Đọc “Người về trong hương” của nhà thơ Huệ Triệu)

Những ngày tháng Bảy âm lịch lại về, một mùa Vu Lan đầy nhớ thương, khắc khoải khi không ít con hẻm, khu phố ở TP Hồ Chí Minh nhiều nhà cùng làm đám giỗ vì người thân mất vì đại dịch COVID-19. Nhà thơ Huệ Triệu, Ủy viên Ban Chấp hành, Trưởng Ban Nhà vặn nữ, Hội Nhà văn TP HCM cũng là người chịu đại tang khi chị mất đi người chồng, con trai mất đi người cha vì đại dịch trong những ngày tháng 8-2021.

Đã 2 năm trôi qua mà vẫn như mới đây thôi, dù ai cũng cố quên đi song vẫn phải nhớ một đoạn đời với ký ức đau buồn. Những ngày đó, vợ chồng nhà thơ Huệ Triệu cùng mắc COVID-19. Nhà thơ may mắn vượt qua được nhưng anh Nhân, chồng chị đã bị đại dịch cướp đi mạng sống. Một mất mát quá lớn, nỗi đau tột cùng, vô tận. Nghĩa vợ chồng sâu nặng, mất đi người chồng là cú sốc cực lớn với nhà thơ thời điểm đó. Những buổi họp Ban Chấp hành sau khi thành phố trở lại trạng thái bình thường mới, chúng tôi đọc được trong mắt Huệ Triệu sự thảng thốt, chị không tin điều đó là sự thật. Nhìn chị như người mất hồn, mà phải thôi, mất đi một phần quan trọng, quý giá nhất của đời người thì ai không điên dại, đớn đau. Nhất là khi gia đình còn bao dự định, bao việc còn dang dở: nhà đang xây, vườn đang tạo lập, nhà sắp đón con dâu…

Dĩ nhiên những nhớ thương rồi cũng phải nén lại, tạm nguôi ngoai để sống tiếp trên cõi đời này. Ở trong sâu thẳm, nỗi nhớ thương dồn nén lại, luôn chực chờ để tuôn trào. Huệ Triệu nén tất cả cảm xúc, yêu thương trong tình yêu cuộc sống, nghĩa tình chồng vợ, gia đình thân thuộc… để viết trường ca “Người về trong hương”, NXB Hội Nhà văn, 2023, xuất bản trong mùa Vu Lan để tưởng nhớ những người đã vĩnh viễn rời xa cuộc sống, những người vẫn ở mãi trong tâm tưởng yêu thương của người thân.

Ở đây, người đọc cùng nhà thơ hòa vào dòng ký ức cùng những cảm xúc nghẹn ngào, đau đớn…Bắt đầu từ góc vườn xanh, từ mùi ngọc lan thơm ngát: “Từng cánh trắng rơi cỏ vườn lặng lẽ/ em gom vào từng nắm dịu dàng hoa”.

Trên lối về vườn xanh đó, cây trái trong vườn vẫn nhớ một bóng hình: “Cái áo cũ sờn gom ngày nắng ngày mưa/ dáng cao gầy thấp thoáng bóng trưa/ anh bảo trồng lên bóng mát cho người”.

Ký ức đưa người đọc về thuở thanh xuân hai vợ chồng nhà thơ vào Nam lập nghiệp. Những nhọc nhằn trôi qua nhường chỗ cho tóc trắng đời người:

Háo hức phương Nam giấc mơ tuổi trẻ/ chẳng biết đâu những đuổi dồn dâu bể/ người xông xênh, kẻ khốn khó cơ hàn/ giờ giống nhau cả thôi một mái đầu sương muối/ nhìn con lớn biết mình luống tuổi”.

Có ai ngờ, đại dịch tràn qua nhân loại, gây ra bao cảnh hoang tàn. TP Hồ Chí Minh lại là một trong những địa phương thiệt hại nặng nề nhất vì đại dịch, từ con số nhân mạng lìa đời đến ảnh hưởng mọi mặt kinh tế - xã hội:

Tan hoang hơn cả tan hoang/ như sóng tràn/ như bão quét/ đại dịch bùng phát lần thứ tư/ còn hơn trúng cơn gió độc/ người chao đảo đất trời chao đảo”

Giữa trùng trùng tai ương bủa vây, nhà thơ thảng thốt bật lên câu hỏi: “Trên đời này có gì quý hơn mạng sống/ còn gì bất hạnh hơn là mất đi quyền được sống?

Câu hỏi của đau thương, dằn vặt, câu hỏi nhói lòng bởi khăn tang đã trắng nhiều hẻm nhỏ, các bệnh viện đầy chật người, những hồi xe cứu thương rú liên hồi trên nhiều ngả đường thành phố; con số những người tử vong vì virus Corona cứ đầy lên các trang báo mỗi ngày. Nhất là những con hẻm nhỏ của quận 4, quận 6, quận 8, quận 10…, từng chùm ca bệnh, từng người theo nhau từ giã cõi đời: “căn nhà chật giờ phía nào cũng trống/ tiếng nấc tủi buồn mẹ bỏ con đi/ nghi ngút khói hương chồng gọi vợ về”. Đã có gia đình 8 người đều mất, bác sĩ sững sờ không gọi được cho ai, chỉ có hồi âm sau tiếng chuông là im lặng bao trùm…

Nhưng với ý chí, tấm lòng nhân hậu, đầy nghĩa tình của người phương Nam và sự tiếp sức, hỗ trợ của cả nước, TP Hồ Chí Minh đã vượt qua đại dịch, trở lại hồi sinh sau những tang thương, mất mát.

Không ai, không điều gì có thể lãng quên, Huệ Triệu lại thảng thốt nhớ những ngày đầy biến cố nghiệt ngã của gia đình, tháng 8-2021. Cả hai vợ chồng phải vào bệnh viện. Anh Nhân chồng chị tình trạng bệnh nặng hơn:

Gương mặt người thương lả gối trong đêm/ em run người trước dự cảm không tên/ sự sống mong manh còn hơn tơ nhện/ em nắm chặt tay anh như níu chặt đời mình”.

24 ngày chống chọi trong khu hồi sức, có lúc tưởng anh khỏe lại qua những dòng tin nhắn mừng vợ sắp được về nhà, khoe ăn được cháo, cả nhà mừng như cơn bão sắp qua. Nhưng rồi bệnh anh trở nặng:

“Cuối chiều anh bắt đầu thở máy/ những chữ những từ lần đầu em thấy/ tai đã ù đi trong dự cảm không lành/ tay run lên em cố nhắn động viên chồng/ biết anh không đọc được nữa đâu/ em nói dối anh mà dối lòng mình sao được”.

Nhưng anh Nhân đã không qua khỏi:

“Ba kiếp nỗi đau cộng lại/ không đau bằng phút giây này em vĩnh viễn mất anh/ hồn thiêng anh hỡi về đây/ để em ôm một vòng tay gió đầy

Những ngày đó chúng tôi biết Huệ Triệu và con trai phải rất kiên cường mới có thể đi qua buồn đau, để hương hồn anh Nhân siêu thoát. Thời gian trôi qua như chớp mắt nhưng buồn đau dài suốt đời người. Trong không gian yêu thương luôn có hình bóng của người chồng, người cha, cỏ cây cũng ngơ ngẩn hồn hoa:

“Mưa tả tơi cành ngọc lan muốt đất/ em trắng tay mình những cánh ngọc lan tang/ thành phố hồi sinh nhưng thiếu mặt bao người/ thành phố hồi sinh mà em mất anh rồi/ nén nhang thơm cả tàn cong im lặng/ đất đón anh tay mẹ cỏ xanh mềm”.

Những ngày tháng Bảy nghi ngút khói hương. Những nỗi đau lại nén chặt, vỡ òa trong nước mắt. Trong khói hương, thấp thoáng bóng người về:

Hôm nay rằm nguyệt quế lại muốt bông/ các con cắm bình hoa ly cánh trắng/ hình như nụ cười ba thoáng nắng/ người về trong hương”.

 (B.P.T)

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm