TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên quê hương Đất Tổ

Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên quê hương Đất Tổ

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-02 18:07:49
mail facebook google pos stwis
594 lượt xem

(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Phú Thọ - Đất Tổ Vua Hùng là miền đất cội nguồn của dân tộc Việt Nam, là nơi gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và nhiều di sản văn hoá đặc sắc. Bởi thế, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên quê hương Đất Tổ là việc làm hết sức có ý nghĩa, luôn được Đảng, chính quyền các cấp, đặc biệt là cấp tỉnh quan tâm.

 

Nghệ nhân nhân dân Nguyễn Thị Lịch (áo đen giữa hàng thứ 2) sau buổi biểu diễn hát Xoan trình diễn tại Triển lãm di sản văn hóa và danh thắng Việt Nam tại Hải Phòng tháng 11.2025

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đã và đang được các nhà sử học, khảo cổ học, các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu quan tâm. Đối với người Việt, Phú Thọ không chỉ là một địa danh địa lí mà còn là biểu tượng văn hoá - lịch sử. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, các di tích gắn với truyền thuyết dựng nước, lễ hội Đền Hùng hay các làn điệu dân ca như Hát Xoan, Hát Ghẹo đều là những thành tố bền vững của bản sắc dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị này mang ý nghĩa lớn lao, bảo vệ văn hóa Đất Tổ là bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận và vinh danh .

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trên quê hương Đất Tổ, trước hết, là giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, gìn giữ cội nguồn để thế hệ hôm nay hiểu được tổ tiên đã sinh sống, lao động và xây dựng quê hương đất nước như thế nào. Văn hoá chính là sợi dây liên kết các thế hệ, là điểm tựa tinh thần trong quá trình phát triển. Văn hoá còn có vai trò giáo dục truyền thống. Lễ hội Đền Hùng với tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” đã trở thành dịp để con cháu cả nước hướng về cội nguồn.

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba

Những di sản như Hát Xoan, hát Ghẹo không chỉ là nghệ thuật trình diễn mà còn là bài học về đạo lý làm người, về chữ TRUNG, chữ HIẾU… về sự gắn kết và cố kết cộng đồng; khiến cho đời sống tinh thần phát triển và niềm tự hào dân tộc được nhân lên

Không thể không tự hào khi Phú Thọ hiện có hai di sản văn hoá phi vật thể được UNESCO công nhận: Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Để bảo tồn các di sản này, tỉnh đã mở rộng các câu lạc bộ dân ca, tổ chức lớp truyền dạy Hát Xoan cho thiếu nhi ở nhiều địa phương, đồng thời hỗ trợ nghệ nhân trong công tác đào tạo thế hệ kế cận.

Không thể không tự hào khi văn hoá truyền thống ngày nay còn đóng góp vào phát triển du lịch, từ đó thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương. Một Đất Tổ giàu bản sắc chính là nền tảng để Phú Thọ trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt vào dịp đầu năm, dịp lễ hội tri ân, tưởng nhớ các Vua Hùng. Trong nhiều năm qua, lãnh đạo tỉnh Phú Thọ đã triển khai nhiều hoạt động nhằm gìn giữ và lan toả các giá trị văn hoá truyền thống.Trước hết, công tác bảo tồn di tích lịch sử văn hoá. Khu Di tích lịch sử Đền Hùng,  Trung tâm văn hoá tâm linh của cả nước thường xuyên được trùng tu, bảo vệ, quản lý một cách khoa học. Các đền, chùa, lăng Hùng Vương được đầu tư sửa chữa, tôn tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng nhưng vẫn giữ nguyên nét cổ kính, tôn nghiêm. Bên cạnh đó, nhiều di tích khác như đền Mẫu Âu Cơ (Hạ Hòa cũ), đền Lăng Sương (Huyện Thanh Thủy cũ) và  đền Tam Giang (Thành phố Việt Trì cũ)… cũng được khảo sát, phục dựng, góp phần hoàn thiện bức tranh văn hoá cội nguồn trầm mặc, linh thiêng.

Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng phong tục, lễ hội truyền thống ở các làng quê, góp phần làm phong phú đời sống tinh thần và gắn kết cộng đồng và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Bên cạnh Hát Xoan, phong tục thờ Mẫu, hát Ghẹo, các trò diễn dân gian, nghi thức lễ hội truyền thống tại nhiều làng quê cũng được quan tâm bảo lưu. Tỉnh đã tổ chức công tác sưu tầm, số hoá và ghi chép lại các nghi lễ, các bài hát dân ca để lưu giữ lâu dài.

Không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn, Phú Thọ còn nỗ lực phát huy giá trị văn hoá trong thực tiễn đời sống. Phát huy giá trị văn hoá trong phát triển du lịch và đời sống hiện đại. Lễ hội Đền Hùng được tổ chức quy mô mỗi năm, kết hợp với nhiều hoạt động như hội trại văn hoá, trình diễn dân gian, triển lãm văn hoá, nghệ thuật, thu hút hàng triệu lượt du khách.

Phú Thọ còn chủ động tham gia các sự kiện giao lưu quốc tế, quảng bá văn hoá ra thế giới; giới thiệu Hát Xoan, trưng bày ảnh và tư liệu về tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, qua đó nâng cao vị thế của văn hoá Đất Tổ trên bản đồ di sản nhân loại và hình ảnh Đất Tổ trở nên gần gũi, hấp dẫn hơn đối với du khách trong và ngoài nước.

Nhìn chung, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc ở Phú Thọ đã góp phần gìn giữ bản sắc Việt Nam, giáo dục truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Bảo tồn văn hoá không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn của mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người sẽ tiếp tục viết tiếp lịch sử quê hương. Hưởng ứng những hoạt động ý nghĩa đó của tỉnh, Trung tâm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc tỉnh Phú Thọ, trong những năm qua đã triển khai khá nhiều hoạt động như biểu diễn văn hóa, văn nghệ các dân tộc; hội thảo khoa học, nghiên cứu đề tài khoa học; xuất bản tập san, viết nhiều bài nghiên cứu có giá trị đăng tải trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương. Bên cạnh đó là các hoạt động điền dã, tham quan, giao lưu, kết nghĩa … để hiểu sâu hơn về những di tích lịch sử trên quê hương Đất Tổ và các vùng lân cận, các tỉnh bạn, ngõ hầu trau dồi khả năng nghiên cứu, trau dồi tình cảm và niềm tự hào chính đáng với quê hương đất nước. Hoạt động để lại ấn tượng nhiều nhất trong nhũng năm qua là biêu diễn văn hóa, văn nghệ tại Đền Hùng vào dịp giỗ Tổ hàng năm. Được sự quan tâm và tạo điều kiện của lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; của Liên hiệp các Hội KHKT tỉnh, của các cơ quan chức năng có liên quan, hoạt động này đã đạt được những thành tựu đáng kể. Năm đầu tiên, quy mô chủ yếu gói gọn trên địa bàn tỉnh; những năm sau, có sự tham  gia của nhiều Trung tâm bạn và năm 2024 có 14 tỉnh, thành phố (tinh theo đơn vị hành chính cũ) tham gia biểu diễn. Buổi khai mạc đã đón được lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo ngành và nhiều nghệ nhân danh tiếng tham gia. Các tiết mục trình diễn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đạt được kết quả tốt đẹp; để lại ấn tượng khá sâu sắc trong lòng độc giả và du khách thập phương. Khi đạo diễn, biên tập, trình diễn hoặc cổ vũ cho các tiết mục văn nghệ đặc sắc, mỗi nghệ sỹ luôn mang theo vào từng lời ca, điệu múa ý thức của công dân yêu nước, ý thức của những người con may mắn được sinh ra, lớn lên, làm việc, cống hiến  và làm đẹp cho quê hương Đất Tổ.

Tất cả các hoạt động của tỉnh nói chung và Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc nói riêng đều nhằm mục đích nâng cao, vun đắp và phát huy giá trị văn hóa của nét đẹp truyền thống quê hương. Những năm tiếp theo, chắc chắn tỉnh Phú Thọ tiếp tục thực hiện các họat động thiết thực, có ý nghĩa và giàu giá trị nhân văn như: Tôn trọng và thực hành các giá trị văn hoá truyền thống; tham gia giữ gìn di tích, góp phần xây dựng và bảo tồn môi trường văn hoá; tìm hiểu lịch sử quê hương, quảng bá mạnh mẽ các làn điệu dân ca, các phong tục đẹp và chủ động giới thiệu văn hoá Đất Tổ đến bạn bè trong và ngoài nước.

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá dân tộc trên quê hương Đất Tổ không chỉ là gìn giữ quá khứ mà còn là gìn giữ linh hồn dân tộc, là nền tảng để Phú Thọ phát triển bền vững. Những di sản như Đền Hùng, Hát Xoan hay tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ thuộc về Phú Thọ mà thuộc về toàn thể người Việt Nam. Vì vậy, mỗi người hôm nay cần chung tay gìn giữ và lan toả, để bản sắc văn hoá Đất Tổ mãi mãi trường tồn, trở thành niềm tự hào của dân tộc trong quá trình hội nhập và phát triển.

Bài, ảnh: Đỗ Nguyên Thương

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm