TIN TỨC

Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-30 23:48:44
mail facebook google pos stwis
629 lượt xem

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

 

Nhà phê bình Hoàng Đăng Khoa ở Hà Nội 

 

Phê bình cũng là tự truyện, cái tín niệm này khởi sinh và thành hình dần trong tôi đã lâu. Một hôm nào đó, lật giở ấn phẩm Viết & đọc chuyên đề mùa hạ 2021, đọc nhà phê bình Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn Yên Ba, tôi đặc biệt khoái thú khi đến đoạn này:

“Thánh Thán là một ngòi bút đa dạng. Nhưng cái đặc biệt của Thánh Thán mà tôi muốn theo: ông ấy công khai nói rõ chỉ mượn những cái tìm thấy ở người khác, để nói về mình. Tức là tôi thích Thánh Thán ở chỗ rất chủ quan như cách nói của ta bây giờ. Thú thực, tôi cố ý không lảng tránh sự can dự chủ quan trên trang viết. Tôi chẳng bao giờ khách quan như một số người đòi hỏi. (…) Trong những bài viết ấy luôn có bản thân tôi, những vui buồn và những từng trải của tôi”.

Và khi nhìn rất lâu vào tên cuốn sách mới nhất của Trịnh Lữ – Vẽ gì cũng là tự họa – thì thêm lần nữa củng cố trong tôi xác tín: phê bình văn học cũng là tự truyện – tự truyện của nhà phê bình.

Trong dòng chảy của văn học, bên cạnh người sáng tác là người phê bình – người làm công việc lí giải, đánh giá và soi sáng tác phẩm. Nếu sáng tác là hành trình khai mở thế giới nội tâm của nhà văn thông qua hình tượng nghệ thuật, thì phê bình – tưởng như thuần lí trí và khách quan – cũng ẩn chứa trong đó những tầng sâu cá nhân của nhà phê bình. Phê bình văn học cũng là tự truyện, nhận định này không chỉ làm rõ một phần bản chất của phê bình văn học, mà còn gợi suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và hoạt động nhận thức bộ môn nghệ thuật ngôn từ, đặc biệt là trong thời đại mà cái tôi cá nhân và sự trung thực nội tâm được cổ xúy và tôn trọng.

Trước hết, phê bình cũng là tự sự

Suy cho cùng, không riêng gì với hoạt động phê bình, mà đằng sau tất cả hoạt động tư duy của con người đều có một cái lõi cốt truyện. Con người có nhu cầu kể chuyện dưới mọi hình thức. Kể chuyện là cách họ giao tiếp với thế giới, trình hiện chính mình.

Trong thư Ban biên tập Viết & đọc chuyên đề mùa thu 2018, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tự sự: “Chuyên đề Viết & đọc ra đời chỉ như một nỗ lực dựng lên một ngôi nhà nhỏ cho những người kể chuyện chân chính của thế gian bước vào, nhóm lên ngọn lửa và cất tiếng. Mỗi một nhà văn, nhà thơ, mỗi một họa sĩ, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một nhà báo, mỗi một người giảng dạy trong nhà trường… và mỗi một bạn đọc chính là một người kể chuyện của thế gian này. Không còn cách nào khác, tất cả chúng ta hãy bước đi và cất tiếng về những điều tốt đẹp đang bị vùi lấp bởi chính con người”.

Nhà phê bình đồng thời là nhà văn người Ý Umberto Eco từng chia sẻ, chỉ sau khi viết xong tiểu thuyết đầu tay khá lâu ông mới nhận ra rằng tất cả những tác phẩm phê bình của ông tự thân chúng đã mang tính tự sự. Sau đó ông hay nói đùa rằng ông đã bắt đầu viết tiểu luận với Tên của đóa hồng, trước đó ông chỉ viết tiểu thuyết như Tác phẩm mở hoặc Cấu trúc thiếu hay những cuốn khác. Nhưng nói một cách nghiêm túc, ông luôn luôn muốn kể chuyện, ngay cả khi chấp bút các công trình khoa học: “Tôi kể chuyện, vì tôi đã kể vô khối chuyện cho các con tôi hồi chúng còn bé, do vậy việc lấy câu chuyện làm trung tâm đã thấm vào tôi. Rồi nhiều năm sau này bỗng nhiên tôi thấy muốn thay đổi phương thức kể chuyện đã quen của mình. Không phải là tôi đổi từ không viết tự sự sang viết tự sự, mà đơn giản chỉ là thay đổi cách kể chuyện. Những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi đã ra đời như thế”.

Phê bình, lâu nay, thường bị hình dung như một thao tác lạnh: phân tích, bóc tách, lí giải. Nhưng thực ra, phê bình cũng là một hình thức tự sự: nhà phê bình đi xuyên qua ngôn ngữ của người khác để trích xuất câu chuyện của chính mình.

Với chủ thể phê bình, đọc một văn bản, bản chất là bước vào một thế giới đã được ai đó kể lại. Và nếu như nhà văn kể chuyện bằng nhân vật, bối cảnh, giọng điệu, thì người làm phê bình kể lại chính trải nghiệm đọc đó – bằng những chất liệu của ngôn ngữ phân tích, nhưng cũng đầy cảm xúc, kí ức, và cả những khoảng lặng riêng tư. Một bài phê bình thực sự chạm tới, là khi kể lại được câu chuyện về “một cuộc gặp gỡ”: giữa người đọc với văn bản; giữa “điển”, “tầm đón nhận” với hình tượng; giữa chủ thể tiếp nhận và chủ thể sáng tạo…

Phê bình, như vậy, là một dạng nhật kí đọc và sống, là một cách nhà phê bình lưu giữ lại những điều chạm vào mình. Khi ấy, phê bình không cao giọng giảng giải dạy dỗ, mà bình thản thủ thỉ kể chuyện: về đối tượng phê bình, và qua đó, về chính chủ thể phê bình. Lúc này, tự sự cũng là tự truyện.

Phê bình và tự truyện – tưởng khác mà gần

Phê bình là một hoạt động tư duy có tính khoa học, nhằm phân tích, lí giải và định hướng giá trị của một hiện tượng văn học. Tự truyện, ngược lại, là hình thức người viết kể lại cuộc đời, cảm xúc, quan điểm của chính mình – nơi cái tôi được đặt ở trung tâm. Nhưng thú vị thay, trong những bài phê bình tưởng như khách quan và “lạnh”, cái tôi của người viết vẫn hiển thị sinh động. Khi một nhà phê bình lựa chọn và đưa ra nhận định về một hiện tượng văn học, họ không chỉ nói về hiện tượng văn học đó, mà đồng thời hé lộ hệ giá trị, quan điểm thẩm mĩ, vốn sống và cả tâm thức của chính mình. Nói cách khác, người phê bình không thể thoát khỏi cái bóng của chính họ trong khi nhìn vào người khác – và đó là lúc phê bình trở thành một dạng “tự truyện gián tiếp”: người này thiên về “lấy hồn ta để hiểu hồn người”, người khác lại thiên về dùng lí tính, tư duy logic để giải phẫu những kĩ thuật thuộc về mặt hình thức của văn bản; người này bị hút cuốn bởi hấp lực của nỗi buồn niềm đau nơi tác phẩm, người khác lại chỉ muốn đọc những cái viết nhẹ nhõm vui tươi… Nghĩa là, cứ xem nhà phê bình chọn đọc gì và đọc như thế nào, ta sẽ định danh được họ.

Với Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh không chỉ là một người sưu tầm và phân loại thơ của phong trào Thơ mới, mà còn là một “thi sĩ trong vỏ bọc nhà phê bình”. Cách ông lựa chọn thơ, trừu xuất từng hồn thơ… phản ánh một cái tôi phê bình mơ mộng duy cảm duy mĩ. Phê bình kiểu Hoài Thanh không chỉ giúp ta thông hiểu Thơ mới, mà còn phơi mở bản đồ tâm hồn nhà phê bình với khung thẩm mĩ, với “trực giác”, “ấn tượng”… riêng tây.

Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh là một “tự truyện học thuật” được viết bằng chính trải nghiệm cá nhân của nhà phê bình với văn chương và đời sống.

Nhà văn, nhà phê bình người Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) từng chia sẻ, một mùa hè khi mang cuốn sách Tu viện thành Parme của nhà văn người Pháp Stendhal theo người, nhiều lần ông tự hỏi tại sao chỉ cần biết cuốn sách ở bên đã thấy khoái như vậy, và thôi thúc ông nói về cuốn sách – niềm vui thú đó của mình. Khi chìm đắm tuyệt đối vào tâm hồn cuốn sách, ông thấy như thể tác giả của nó thầm thì toàn bộ sự thông thái vào tai ông, chia sẻ những sự những niềm chỉ cho riêng ông. Ông xúc động bộc giãi: “Đến gần như vậy trong trí óc và tinh thần của một nhà văn rỡ ràng dường này giúp tôi tự tin, và nhờ đó, như với mọi người hạnh phúc khác, niềm tự tôn trong tôi dâng trào”.

Những màu khác là tuyển tập tản văn, diễn văn, tiểu luận được Orhan Pamuk chủ ý tập hợp để tạo thành một cuốn sách hoàn toàn mới lấy yếu tố tự truyện làm trung tâm. Những bài phê bình xuất hiện trong đây ở các phần tách biệt như một chuỗi phân mảnh để phản ánh cùng một câu chuyện mang tính tự truyện của cuốn sách. Nói về Istanbul, hay bàn luận về các cuốn sách, tác giả, bức tranh mà bản thân yêu thích nhất, với Orhan Pamuk luôn luôn là một cái cớ để nói về cuộc đời. Phần “Nhìn ra cửa sổ”, câu chuyện ở cuối sách, theo ông, mang tính chất tự truyện mạnh đến nỗi tên nhân vật rất có thể là Orhan Pamuk. Khi soạn cuốn sách này ông bàng hoàng nhận ra bản thân có mối quan tâm đặc biệt và khuynh hướng thiên về các thảm họa tự nhiên (động đất) và thảm họa xã hội (chính trị). Ông luôn luôn tin rằng ắt phải có một kẻ cuồng viết tham lam và gần như không thể lay chuyển thường trú trong bản thân – “một sinh vật không thể bao giờ viết cho đủ, kẻ lúc nào cũng biến cuộc sống thành từ ngữ” – và để cho hắn ta vui lòng ông cần phải tiếp tục viết. Đây là cuốn sách được đặt trong một cái khung để gợi ra một trung tâm mà ông cố gắng che giấu. Với ông, cuốn sách này “là hồ sơ – là bằng chứng – của một đời sống nội tâm”.

Ngay cả trong phân tích hậu cấu trúc, nơi tưởng như triệt tiêu cái tôi, nhà phê bình người Pháp Roland Barthes cũng vô thức kể lại bản thể mình qua S/Z (P/S). Đây là một tác phẩm phê bình văn học, cụ thể là một phân tích chi tiết về truyện ngắn Sarrasine của đại văn hào người Pháp Balzac. Nhà phê bình Thụy Khuê truy vấn và tường giải: Tại sao Barthes lại chọn truyện ngắn Sarrasine của Balzac? Lối phân tích vừa cắt vừa dán của Barthes khiến chúng ta có thể thấy tất cả những nét lồi lõm của một tác phẩm cổ điển tưởng là nhẵn nhụi bằng phẳng. Cái nhan đề S/Z của Roland Barthes biểu trưng tính chất bí mật của toàn thể tác phẩm qua hai nhân vật chính: S là chữ đầu tiên tên Sarrasine, người họa sĩ tài danh đam mê, và Z là chữ đầu tiên tên Zambinella, một danh ca bị thiến từ nhỏ để giữ giọng kim tuyệt vời. Hai người đàn ông này, liên hệ tới sự đồng tính của Barthes, đều mang tên đàn bà, tuy đứng ở hai phía nhưng cùng một nòi: tài hoa bạc mệnh.

Cũng theo Thụy Khuê, nhà phê bình người Bỉ Georges Poulet từng nói về lối phê bình của Madame de Staël – nữ văn sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ – như sau: “Đó là một lối phê bình ích kỉ nhất và vô vụ lợi nhất, đưa đến sự tìm biết sâu xa chính mình, trong say đắm, đem cái tôi của mình hòa nhập với cái tôi của người khác”. Georges Poulet đưa ra khái niệm sự thấu minh (transparence), tức là sự thông suốt, giữa người viết và người đọc. Theo ông, sự hòa hợp giữa những tâm hồn qua văn chương cũng giống như một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Ngày nay, với sự phát triển của internet và mạng xã hội, hoạt động phê bình văn học không còn tự trị, chỉ đi sâu vào tháp ngà hàn lâm, mà trở nên dân chủ, đi rộng ra đời sống. Những bài review, cảm nhận tác phẩm trên blog, diễn đàn, facebook… thường không theo chuẩn mực khoa học nghiêm ngặt, nhưng lại bộc lộ rõ cái tôi cá nhân. Người viết chia sẻ những gì họ thấy, cảm, nghĩ – và chính điều đó làm cho mỗi bài phê bình trở thành một mảnh ghép chân thực của “nhật kí tinh thần” người viết.

Phê bình như tự truyện – nghĩa lí và lưu ý

Về nghĩa lí, phê bình như tự truyện giúp giải phóng cái tôi trong phê bình, biến phê bình thành một hành vi sáng tạo thực sự. Nhà phê bình không chỉ làm công việc “phụ trợ” cho tác phẩm, mà trở thành người đối thoại, người đồng hành, đồng sáng tạo.

Phê bình kiểu tự truyện làm cho phê bình trở nên gần gũi hơn với độc giả, đặc biệt là trong thời đại mà con người ngày càng cần kết nối tương tác, cần được lắng nghe tiếng nói khác. Một bài phê bình giàu tính chủ quan có phần cực đoan là một bài giàu tính kích thích, giàu khả năng sinh sự, tạo hiệu ứng hoặc chia sẻ đồng cảm hoặc tranh luận đối thoại – đúng như tinh thần của một xã hội đa chiều.

Phê bình mang dấu ấn tự truyện cũng phản ánh sự trung thực trí tuệ và tâm hồn của người viết. Người ta không thể che giấu toàn bộ bản thân khi kể chuyện về một điều gì đó một cách sâu sắc – đặc biệt là khi kể chuyện về cái đẹp, cái thiện, và cả những giới hạn của con người.

Theo nhà phê bình Từ Huy, Alain Robbe-Grillet, nhà văn và nhà làm phim người Pháp, đã nói về những bài viết của Barthes bàn về các tác phẩm Kẻ nhìn trộm và Những chiếc tẩy của ông như sau: “Tôi đã tin rằng Barthes không hề nói gì về tôi, mà ngược lại, ông nói về chính ông, không phải theo một cách thức chặt chẽ, chính xác…, mà lỏng…”. Chính điều này lại hấp dẫn Robbe-Grillet. Ông hoàn toàn chấp nhận việc nhà phê bình có thể dùng tác phẩm của mình như một cái cớ để triển khai tư tưởng của chính họ, bất chấp việc những tư tưởng đó có thể hoàn toàn không ăn nhập gì với ý đồ sáng tạo, với cách hiểu của nhà văn về tác phẩm của mình. Bởi vì suy cho cùng, ý đồ của nhà văn sau khi tác phẩm đã được viết ra sẽ chỉ tồn tại như một cách thức diễn giải giữa vô vàn cách thức diễn giải khác. Điều quan trọng là tác phẩm có khả năng kích thích những tiềm năng của diễn giải.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải cứ phê bình là tự truyện, càng không thể đánh đồng phê bình với tùy bút, dẫn phê bình đến tùy tiện. Phê bình là khoa học, đúng hơn, là “con vật lưỡng thê” dùng dằng giữa khoa học và nghệ thuật. Trái tim nóng nghệ thuật rất cần cái đầu lạnh khoa học phối tiết.

Nhà phê bình người Đức Erich Auerbach từng nhấn mạnh: “Phương pháp phân tích văn bản cho người nghiên cứu một sự tự do nào đó trong cách diễn giải: tức là tự do lựa chọn và tô đậm chỗ nào anh ta thích. Tuy vậy, cái điểm mà anh xác định luôn luôn phải có trong văn bản. Những cách giải thích của tôi, chắc chắn là bị hướng dẫn bởi một ý hướng nhất định, nhưng ý hướng này không có sẵn mà nó được hình thành dần dần, từng trang, từng trang, cùng với luận điểm giải thích văn bản mà tôi đang nghiên cứu, và trong nhiều trang, tôi để cho văn bản hướng dẫn mình. (…) Tôi không hề có ý định chỉ trình bày những gì phù hợp với những phát biểu của tôi; ngược lại, tôi cố gắng dành chỗ cho sự đa dạng và giữ sự mềm dẻo trong lập luận…”.

***

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

Những phân mảnh phê bình mang tính tự truyện lưu lại những mối quan tâm, niềm nhiệt hứng của chủ thể phê bình. Với họ, đọc là ân điển, viết là lạc thú. Những lần khởi bút viết phê bình được Orhan Pamuk gọi là “những khoảnh khắc vụt hiện”, “những khoảnh khắc kì lạ khi chân lí bằng cách nào đó được rọi sáng”, còn nữ văn sĩ người Anh Virginia Woolf gọi là “những khoảnh khắc hiện hữu”. Phải thôi, khi mà có vô hạn hiện tượng văn học, tại sao nhà phê bình chỉ chọn đọc hữu hạn hiện tượng này thôi, và đến lượt, trong hữu hạn hiện tượng đã đọc, họ chỉ dừng lại chấp bút phê bình một phần nhỏ này thôi. Và ta hiểu, tại sao nhiều nhà phê bình lại run rẩy xúc động ghi đề tặng cố hương, cố nhân, người thân… vào đầu mỗi cuốn sách phê bình của mình.

Với nhà phê bình, viết là một cách để nói họ đang sống, họ đang hiện diện, họ đã yêu cái đẹp này theo cách của họ. Từ đó có thể thấy, phê bình – như một tự truyện gián tiếp – không chỉ là nỗ lực của nhà phê bình trong việc giải phẫu hiện tượng văn học, đặc biệt là tác phẩm văn học, mà còn là hiện thân của khát vọng trình hiện bản thân, của nhu cầu tương giao với thế giới và nhìn sâu vào chính mình của chính họ.

Vì lẽ đó, như đã nói, trong mỗi bài phê bình đích thực, ta không chỉ thấy được văn bản văn học mà còn thấy được đời sống tinh thần của người đọc nó. Những xúc cảm, tổn thương, vẻ đẹp và những vùng tối trong tâm thức – tất cả được viết ra như thể người viết đang soi gương dưới ánh sáng lấp lánh và mờ đục của văn chương. Như ánh đèn chiếu vào sương, những thứ tưởng không hình hài bỗng hiện rõ – một khoảnh khắc vụt sáng giữa vô vàn tiếng ồn im lặng.

Phê bình không chỉ là diễn giải người khác, mà là tự soi mình. Không chỉ là lí giải, mà còn là tự khải. Không chỉ là khách thể hóa, mà còn là hành trình chủ thể hiện diện trong ngôn từ.

Nhà phê bình không viết để phô phang kiến thức, mà viết để lần tìm linh hồn của mình.

Trong hành trình ấy, nhà phê bình không bao giờ có thể chạm được vào cái tuyệt đối – nhưng ít nhất, họ đã dấn bước. Và một điều chắc chắn, họ không thể “tuyệt không dấu vết”.

H.Đ.K

Nguồn:VanVn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm