TIN TỨC

Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-30 23:48:44
mail facebook google pos stwis
341 lượt xem

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

 

Nhà phê bình Hoàng Đăng Khoa ở Hà Nội 

 

Phê bình cũng là tự truyện, cái tín niệm này khởi sinh và thành hình dần trong tôi đã lâu. Một hôm nào đó, lật giở ấn phẩm Viết & đọc chuyên đề mùa hạ 2021, đọc nhà phê bình Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn Yên Ba, tôi đặc biệt khoái thú khi đến đoạn này:

“Thánh Thán là một ngòi bút đa dạng. Nhưng cái đặc biệt của Thánh Thán mà tôi muốn theo: ông ấy công khai nói rõ chỉ mượn những cái tìm thấy ở người khác, để nói về mình. Tức là tôi thích Thánh Thán ở chỗ rất chủ quan như cách nói của ta bây giờ. Thú thực, tôi cố ý không lảng tránh sự can dự chủ quan trên trang viết. Tôi chẳng bao giờ khách quan như một số người đòi hỏi. (…) Trong những bài viết ấy luôn có bản thân tôi, những vui buồn và những từng trải của tôi”.

Và khi nhìn rất lâu vào tên cuốn sách mới nhất của Trịnh Lữ – Vẽ gì cũng là tự họa – thì thêm lần nữa củng cố trong tôi xác tín: phê bình văn học cũng là tự truyện – tự truyện của nhà phê bình.

Trong dòng chảy của văn học, bên cạnh người sáng tác là người phê bình – người làm công việc lí giải, đánh giá và soi sáng tác phẩm. Nếu sáng tác là hành trình khai mở thế giới nội tâm của nhà văn thông qua hình tượng nghệ thuật, thì phê bình – tưởng như thuần lí trí và khách quan – cũng ẩn chứa trong đó những tầng sâu cá nhân của nhà phê bình. Phê bình văn học cũng là tự truyện, nhận định này không chỉ làm rõ một phần bản chất của phê bình văn học, mà còn gợi suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và hoạt động nhận thức bộ môn nghệ thuật ngôn từ, đặc biệt là trong thời đại mà cái tôi cá nhân và sự trung thực nội tâm được cổ xúy và tôn trọng.

Trước hết, phê bình cũng là tự sự

Suy cho cùng, không riêng gì với hoạt động phê bình, mà đằng sau tất cả hoạt động tư duy của con người đều có một cái lõi cốt truyện. Con người có nhu cầu kể chuyện dưới mọi hình thức. Kể chuyện là cách họ giao tiếp với thế giới, trình hiện chính mình.

Trong thư Ban biên tập Viết & đọc chuyên đề mùa thu 2018, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tự sự: “Chuyên đề Viết & đọc ra đời chỉ như một nỗ lực dựng lên một ngôi nhà nhỏ cho những người kể chuyện chân chính của thế gian bước vào, nhóm lên ngọn lửa và cất tiếng. Mỗi một nhà văn, nhà thơ, mỗi một họa sĩ, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một nhà báo, mỗi một người giảng dạy trong nhà trường… và mỗi một bạn đọc chính là một người kể chuyện của thế gian này. Không còn cách nào khác, tất cả chúng ta hãy bước đi và cất tiếng về những điều tốt đẹp đang bị vùi lấp bởi chính con người”.

Nhà phê bình đồng thời là nhà văn người Ý Umberto Eco từng chia sẻ, chỉ sau khi viết xong tiểu thuyết đầu tay khá lâu ông mới nhận ra rằng tất cả những tác phẩm phê bình của ông tự thân chúng đã mang tính tự sự. Sau đó ông hay nói đùa rằng ông đã bắt đầu viết tiểu luận với Tên của đóa hồng, trước đó ông chỉ viết tiểu thuyết như Tác phẩm mở hoặc Cấu trúc thiếu hay những cuốn khác. Nhưng nói một cách nghiêm túc, ông luôn luôn muốn kể chuyện, ngay cả khi chấp bút các công trình khoa học: “Tôi kể chuyện, vì tôi đã kể vô khối chuyện cho các con tôi hồi chúng còn bé, do vậy việc lấy câu chuyện làm trung tâm đã thấm vào tôi. Rồi nhiều năm sau này bỗng nhiên tôi thấy muốn thay đổi phương thức kể chuyện đã quen của mình. Không phải là tôi đổi từ không viết tự sự sang viết tự sự, mà đơn giản chỉ là thay đổi cách kể chuyện. Những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi đã ra đời như thế”.

Phê bình, lâu nay, thường bị hình dung như một thao tác lạnh: phân tích, bóc tách, lí giải. Nhưng thực ra, phê bình cũng là một hình thức tự sự: nhà phê bình đi xuyên qua ngôn ngữ của người khác để trích xuất câu chuyện của chính mình.

Với chủ thể phê bình, đọc một văn bản, bản chất là bước vào một thế giới đã được ai đó kể lại. Và nếu như nhà văn kể chuyện bằng nhân vật, bối cảnh, giọng điệu, thì người làm phê bình kể lại chính trải nghiệm đọc đó – bằng những chất liệu của ngôn ngữ phân tích, nhưng cũng đầy cảm xúc, kí ức, và cả những khoảng lặng riêng tư. Một bài phê bình thực sự chạm tới, là khi kể lại được câu chuyện về “một cuộc gặp gỡ”: giữa người đọc với văn bản; giữa “điển”, “tầm đón nhận” với hình tượng; giữa chủ thể tiếp nhận và chủ thể sáng tạo…

Phê bình, như vậy, là một dạng nhật kí đọc và sống, là một cách nhà phê bình lưu giữ lại những điều chạm vào mình. Khi ấy, phê bình không cao giọng giảng giải dạy dỗ, mà bình thản thủ thỉ kể chuyện: về đối tượng phê bình, và qua đó, về chính chủ thể phê bình. Lúc này, tự sự cũng là tự truyện.

Phê bình và tự truyện – tưởng khác mà gần

Phê bình là một hoạt động tư duy có tính khoa học, nhằm phân tích, lí giải và định hướng giá trị của một hiện tượng văn học. Tự truyện, ngược lại, là hình thức người viết kể lại cuộc đời, cảm xúc, quan điểm của chính mình – nơi cái tôi được đặt ở trung tâm. Nhưng thú vị thay, trong những bài phê bình tưởng như khách quan và “lạnh”, cái tôi của người viết vẫn hiển thị sinh động. Khi một nhà phê bình lựa chọn và đưa ra nhận định về một hiện tượng văn học, họ không chỉ nói về hiện tượng văn học đó, mà đồng thời hé lộ hệ giá trị, quan điểm thẩm mĩ, vốn sống và cả tâm thức của chính mình. Nói cách khác, người phê bình không thể thoát khỏi cái bóng của chính họ trong khi nhìn vào người khác – và đó là lúc phê bình trở thành một dạng “tự truyện gián tiếp”: người này thiên về “lấy hồn ta để hiểu hồn người”, người khác lại thiên về dùng lí tính, tư duy logic để giải phẫu những kĩ thuật thuộc về mặt hình thức của văn bản; người này bị hút cuốn bởi hấp lực của nỗi buồn niềm đau nơi tác phẩm, người khác lại chỉ muốn đọc những cái viết nhẹ nhõm vui tươi… Nghĩa là, cứ xem nhà phê bình chọn đọc gì và đọc như thế nào, ta sẽ định danh được họ.

Với Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh không chỉ là một người sưu tầm và phân loại thơ của phong trào Thơ mới, mà còn là một “thi sĩ trong vỏ bọc nhà phê bình”. Cách ông lựa chọn thơ, trừu xuất từng hồn thơ… phản ánh một cái tôi phê bình mơ mộng duy cảm duy mĩ. Phê bình kiểu Hoài Thanh không chỉ giúp ta thông hiểu Thơ mới, mà còn phơi mở bản đồ tâm hồn nhà phê bình với khung thẩm mĩ, với “trực giác”, “ấn tượng”… riêng tây.

Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh là một “tự truyện học thuật” được viết bằng chính trải nghiệm cá nhân của nhà phê bình với văn chương và đời sống.

Nhà văn, nhà phê bình người Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) từng chia sẻ, một mùa hè khi mang cuốn sách Tu viện thành Parme của nhà văn người Pháp Stendhal theo người, nhiều lần ông tự hỏi tại sao chỉ cần biết cuốn sách ở bên đã thấy khoái như vậy, và thôi thúc ông nói về cuốn sách – niềm vui thú đó của mình. Khi chìm đắm tuyệt đối vào tâm hồn cuốn sách, ông thấy như thể tác giả của nó thầm thì toàn bộ sự thông thái vào tai ông, chia sẻ những sự những niềm chỉ cho riêng ông. Ông xúc động bộc giãi: “Đến gần như vậy trong trí óc và tinh thần của một nhà văn rỡ ràng dường này giúp tôi tự tin, và nhờ đó, như với mọi người hạnh phúc khác, niềm tự tôn trong tôi dâng trào”.

Những màu khác là tuyển tập tản văn, diễn văn, tiểu luận được Orhan Pamuk chủ ý tập hợp để tạo thành một cuốn sách hoàn toàn mới lấy yếu tố tự truyện làm trung tâm. Những bài phê bình xuất hiện trong đây ở các phần tách biệt như một chuỗi phân mảnh để phản ánh cùng một câu chuyện mang tính tự truyện của cuốn sách. Nói về Istanbul, hay bàn luận về các cuốn sách, tác giả, bức tranh mà bản thân yêu thích nhất, với Orhan Pamuk luôn luôn là một cái cớ để nói về cuộc đời. Phần “Nhìn ra cửa sổ”, câu chuyện ở cuối sách, theo ông, mang tính chất tự truyện mạnh đến nỗi tên nhân vật rất có thể là Orhan Pamuk. Khi soạn cuốn sách này ông bàng hoàng nhận ra bản thân có mối quan tâm đặc biệt và khuynh hướng thiên về các thảm họa tự nhiên (động đất) và thảm họa xã hội (chính trị). Ông luôn luôn tin rằng ắt phải có một kẻ cuồng viết tham lam và gần như không thể lay chuyển thường trú trong bản thân – “một sinh vật không thể bao giờ viết cho đủ, kẻ lúc nào cũng biến cuộc sống thành từ ngữ” – và để cho hắn ta vui lòng ông cần phải tiếp tục viết. Đây là cuốn sách được đặt trong một cái khung để gợi ra một trung tâm mà ông cố gắng che giấu. Với ông, cuốn sách này “là hồ sơ – là bằng chứng – của một đời sống nội tâm”.

Ngay cả trong phân tích hậu cấu trúc, nơi tưởng như triệt tiêu cái tôi, nhà phê bình người Pháp Roland Barthes cũng vô thức kể lại bản thể mình qua S/Z (P/S). Đây là một tác phẩm phê bình văn học, cụ thể là một phân tích chi tiết về truyện ngắn Sarrasine của đại văn hào người Pháp Balzac. Nhà phê bình Thụy Khuê truy vấn và tường giải: Tại sao Barthes lại chọn truyện ngắn Sarrasine của Balzac? Lối phân tích vừa cắt vừa dán của Barthes khiến chúng ta có thể thấy tất cả những nét lồi lõm của một tác phẩm cổ điển tưởng là nhẵn nhụi bằng phẳng. Cái nhan đề S/Z của Roland Barthes biểu trưng tính chất bí mật của toàn thể tác phẩm qua hai nhân vật chính: S là chữ đầu tiên tên Sarrasine, người họa sĩ tài danh đam mê, và Z là chữ đầu tiên tên Zambinella, một danh ca bị thiến từ nhỏ để giữ giọng kim tuyệt vời. Hai người đàn ông này, liên hệ tới sự đồng tính của Barthes, đều mang tên đàn bà, tuy đứng ở hai phía nhưng cùng một nòi: tài hoa bạc mệnh.

Cũng theo Thụy Khuê, nhà phê bình người Bỉ Georges Poulet từng nói về lối phê bình của Madame de Staël – nữ văn sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ – như sau: “Đó là một lối phê bình ích kỉ nhất và vô vụ lợi nhất, đưa đến sự tìm biết sâu xa chính mình, trong say đắm, đem cái tôi của mình hòa nhập với cái tôi của người khác”. Georges Poulet đưa ra khái niệm sự thấu minh (transparence), tức là sự thông suốt, giữa người viết và người đọc. Theo ông, sự hòa hợp giữa những tâm hồn qua văn chương cũng giống như một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Ngày nay, với sự phát triển của internet và mạng xã hội, hoạt động phê bình văn học không còn tự trị, chỉ đi sâu vào tháp ngà hàn lâm, mà trở nên dân chủ, đi rộng ra đời sống. Những bài review, cảm nhận tác phẩm trên blog, diễn đàn, facebook… thường không theo chuẩn mực khoa học nghiêm ngặt, nhưng lại bộc lộ rõ cái tôi cá nhân. Người viết chia sẻ những gì họ thấy, cảm, nghĩ – và chính điều đó làm cho mỗi bài phê bình trở thành một mảnh ghép chân thực của “nhật kí tinh thần” người viết.

Phê bình như tự truyện – nghĩa lí và lưu ý

Về nghĩa lí, phê bình như tự truyện giúp giải phóng cái tôi trong phê bình, biến phê bình thành một hành vi sáng tạo thực sự. Nhà phê bình không chỉ làm công việc “phụ trợ” cho tác phẩm, mà trở thành người đối thoại, người đồng hành, đồng sáng tạo.

Phê bình kiểu tự truyện làm cho phê bình trở nên gần gũi hơn với độc giả, đặc biệt là trong thời đại mà con người ngày càng cần kết nối tương tác, cần được lắng nghe tiếng nói khác. Một bài phê bình giàu tính chủ quan có phần cực đoan là một bài giàu tính kích thích, giàu khả năng sinh sự, tạo hiệu ứng hoặc chia sẻ đồng cảm hoặc tranh luận đối thoại – đúng như tinh thần của một xã hội đa chiều.

Phê bình mang dấu ấn tự truyện cũng phản ánh sự trung thực trí tuệ và tâm hồn của người viết. Người ta không thể che giấu toàn bộ bản thân khi kể chuyện về một điều gì đó một cách sâu sắc – đặc biệt là khi kể chuyện về cái đẹp, cái thiện, và cả những giới hạn của con người.

Theo nhà phê bình Từ Huy, Alain Robbe-Grillet, nhà văn và nhà làm phim người Pháp, đã nói về những bài viết của Barthes bàn về các tác phẩm Kẻ nhìn trộm và Những chiếc tẩy của ông như sau: “Tôi đã tin rằng Barthes không hề nói gì về tôi, mà ngược lại, ông nói về chính ông, không phải theo một cách thức chặt chẽ, chính xác…, mà lỏng…”. Chính điều này lại hấp dẫn Robbe-Grillet. Ông hoàn toàn chấp nhận việc nhà phê bình có thể dùng tác phẩm của mình như một cái cớ để triển khai tư tưởng của chính họ, bất chấp việc những tư tưởng đó có thể hoàn toàn không ăn nhập gì với ý đồ sáng tạo, với cách hiểu của nhà văn về tác phẩm của mình. Bởi vì suy cho cùng, ý đồ của nhà văn sau khi tác phẩm đã được viết ra sẽ chỉ tồn tại như một cách thức diễn giải giữa vô vàn cách thức diễn giải khác. Điều quan trọng là tác phẩm có khả năng kích thích những tiềm năng của diễn giải.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải cứ phê bình là tự truyện, càng không thể đánh đồng phê bình với tùy bút, dẫn phê bình đến tùy tiện. Phê bình là khoa học, đúng hơn, là “con vật lưỡng thê” dùng dằng giữa khoa học và nghệ thuật. Trái tim nóng nghệ thuật rất cần cái đầu lạnh khoa học phối tiết.

Nhà phê bình người Đức Erich Auerbach từng nhấn mạnh: “Phương pháp phân tích văn bản cho người nghiên cứu một sự tự do nào đó trong cách diễn giải: tức là tự do lựa chọn và tô đậm chỗ nào anh ta thích. Tuy vậy, cái điểm mà anh xác định luôn luôn phải có trong văn bản. Những cách giải thích của tôi, chắc chắn là bị hướng dẫn bởi một ý hướng nhất định, nhưng ý hướng này không có sẵn mà nó được hình thành dần dần, từng trang, từng trang, cùng với luận điểm giải thích văn bản mà tôi đang nghiên cứu, và trong nhiều trang, tôi để cho văn bản hướng dẫn mình. (…) Tôi không hề có ý định chỉ trình bày những gì phù hợp với những phát biểu của tôi; ngược lại, tôi cố gắng dành chỗ cho sự đa dạng và giữ sự mềm dẻo trong lập luận…”.

***

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

Những phân mảnh phê bình mang tính tự truyện lưu lại những mối quan tâm, niềm nhiệt hứng của chủ thể phê bình. Với họ, đọc là ân điển, viết là lạc thú. Những lần khởi bút viết phê bình được Orhan Pamuk gọi là “những khoảnh khắc vụt hiện”, “những khoảnh khắc kì lạ khi chân lí bằng cách nào đó được rọi sáng”, còn nữ văn sĩ người Anh Virginia Woolf gọi là “những khoảnh khắc hiện hữu”. Phải thôi, khi mà có vô hạn hiện tượng văn học, tại sao nhà phê bình chỉ chọn đọc hữu hạn hiện tượng này thôi, và đến lượt, trong hữu hạn hiện tượng đã đọc, họ chỉ dừng lại chấp bút phê bình một phần nhỏ này thôi. Và ta hiểu, tại sao nhiều nhà phê bình lại run rẩy xúc động ghi đề tặng cố hương, cố nhân, người thân… vào đầu mỗi cuốn sách phê bình của mình.

Với nhà phê bình, viết là một cách để nói họ đang sống, họ đang hiện diện, họ đã yêu cái đẹp này theo cách của họ. Từ đó có thể thấy, phê bình – như một tự truyện gián tiếp – không chỉ là nỗ lực của nhà phê bình trong việc giải phẫu hiện tượng văn học, đặc biệt là tác phẩm văn học, mà còn là hiện thân của khát vọng trình hiện bản thân, của nhu cầu tương giao với thế giới và nhìn sâu vào chính mình của chính họ.

Vì lẽ đó, như đã nói, trong mỗi bài phê bình đích thực, ta không chỉ thấy được văn bản văn học mà còn thấy được đời sống tinh thần của người đọc nó. Những xúc cảm, tổn thương, vẻ đẹp và những vùng tối trong tâm thức – tất cả được viết ra như thể người viết đang soi gương dưới ánh sáng lấp lánh và mờ đục của văn chương. Như ánh đèn chiếu vào sương, những thứ tưởng không hình hài bỗng hiện rõ – một khoảnh khắc vụt sáng giữa vô vàn tiếng ồn im lặng.

Phê bình không chỉ là diễn giải người khác, mà là tự soi mình. Không chỉ là lí giải, mà còn là tự khải. Không chỉ là khách thể hóa, mà còn là hành trình chủ thể hiện diện trong ngôn từ.

Nhà phê bình không viết để phô phang kiến thức, mà viết để lần tìm linh hồn của mình.

Trong hành trình ấy, nhà phê bình không bao giờ có thể chạm được vào cái tuyệt đối – nhưng ít nhất, họ đã dấn bước. Và một điều chắc chắn, họ không thể “tuyệt không dấu vết”.

H.Đ.K

Nguồn:VanVn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm