TIN TỨC

Phê bình như là tự truyện – Tiểu luận của Hoàng Đăng Khoa

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-12-30 23:48:44
mail facebook google pos stwis
1001 lượt xem

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

 

Nhà phê bình Hoàng Đăng Khoa ở Hà Nội 

 

Phê bình cũng là tự truyện, cái tín niệm này khởi sinh và thành hình dần trong tôi đã lâu. Một hôm nào đó, lật giở ấn phẩm Viết & đọc chuyên đề mùa hạ 2021, đọc nhà phê bình Vương Trí Nhàn trả lời phỏng vấn Yên Ba, tôi đặc biệt khoái thú khi đến đoạn này:

“Thánh Thán là một ngòi bút đa dạng. Nhưng cái đặc biệt của Thánh Thán mà tôi muốn theo: ông ấy công khai nói rõ chỉ mượn những cái tìm thấy ở người khác, để nói về mình. Tức là tôi thích Thánh Thán ở chỗ rất chủ quan như cách nói của ta bây giờ. Thú thực, tôi cố ý không lảng tránh sự can dự chủ quan trên trang viết. Tôi chẳng bao giờ khách quan như một số người đòi hỏi. (…) Trong những bài viết ấy luôn có bản thân tôi, những vui buồn và những từng trải của tôi”.

Và khi nhìn rất lâu vào tên cuốn sách mới nhất của Trịnh Lữ – Vẽ gì cũng là tự họa – thì thêm lần nữa củng cố trong tôi xác tín: phê bình văn học cũng là tự truyện – tự truyện của nhà phê bình.

Trong dòng chảy của văn học, bên cạnh người sáng tác là người phê bình – người làm công việc lí giải, đánh giá và soi sáng tác phẩm. Nếu sáng tác là hành trình khai mở thế giới nội tâm của nhà văn thông qua hình tượng nghệ thuật, thì phê bình – tưởng như thuần lí trí và khách quan – cũng ẩn chứa trong đó những tầng sâu cá nhân của nhà phê bình. Phê bình văn học cũng là tự truyện, nhận định này không chỉ làm rõ một phần bản chất của phê bình văn học, mà còn gợi suy ngẫm về mối quan hệ giữa cái tôi cá nhân và hoạt động nhận thức bộ môn nghệ thuật ngôn từ, đặc biệt là trong thời đại mà cái tôi cá nhân và sự trung thực nội tâm được cổ xúy và tôn trọng.

Trước hết, phê bình cũng là tự sự

Suy cho cùng, không riêng gì với hoạt động phê bình, mà đằng sau tất cả hoạt động tư duy của con người đều có một cái lõi cốt truyện. Con người có nhu cầu kể chuyện dưới mọi hình thức. Kể chuyện là cách họ giao tiếp với thế giới, trình hiện chính mình.

Trong thư Ban biên tập Viết & đọc chuyên đề mùa thu 2018, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều tự sự: “Chuyên đề Viết & đọc ra đời chỉ như một nỗ lực dựng lên một ngôi nhà nhỏ cho những người kể chuyện chân chính của thế gian bước vào, nhóm lên ngọn lửa và cất tiếng. Mỗi một nhà văn, nhà thơ, mỗi một họa sĩ, mỗi một nhà nghiên cứu, mỗi một nhà báo, mỗi một người giảng dạy trong nhà trường… và mỗi một bạn đọc chính là một người kể chuyện của thế gian này. Không còn cách nào khác, tất cả chúng ta hãy bước đi và cất tiếng về những điều tốt đẹp đang bị vùi lấp bởi chính con người”.

Nhà phê bình đồng thời là nhà văn người Ý Umberto Eco từng chia sẻ, chỉ sau khi viết xong tiểu thuyết đầu tay khá lâu ông mới nhận ra rằng tất cả những tác phẩm phê bình của ông tự thân chúng đã mang tính tự sự. Sau đó ông hay nói đùa rằng ông đã bắt đầu viết tiểu luận với Tên của đóa hồng, trước đó ông chỉ viết tiểu thuyết như Tác phẩm mở hoặc Cấu trúc thiếu hay những cuốn khác. Nhưng nói một cách nghiêm túc, ông luôn luôn muốn kể chuyện, ngay cả khi chấp bút các công trình khoa học: “Tôi kể chuyện, vì tôi đã kể vô khối chuyện cho các con tôi hồi chúng còn bé, do vậy việc lấy câu chuyện làm trung tâm đã thấm vào tôi. Rồi nhiều năm sau này bỗng nhiên tôi thấy muốn thay đổi phương thức kể chuyện đã quen của mình. Không phải là tôi đổi từ không viết tự sự sang viết tự sự, mà đơn giản chỉ là thay đổi cách kể chuyện. Những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi đã ra đời như thế”.

Phê bình, lâu nay, thường bị hình dung như một thao tác lạnh: phân tích, bóc tách, lí giải. Nhưng thực ra, phê bình cũng là một hình thức tự sự: nhà phê bình đi xuyên qua ngôn ngữ của người khác để trích xuất câu chuyện của chính mình.

Với chủ thể phê bình, đọc một văn bản, bản chất là bước vào một thế giới đã được ai đó kể lại. Và nếu như nhà văn kể chuyện bằng nhân vật, bối cảnh, giọng điệu, thì người làm phê bình kể lại chính trải nghiệm đọc đó – bằng những chất liệu của ngôn ngữ phân tích, nhưng cũng đầy cảm xúc, kí ức, và cả những khoảng lặng riêng tư. Một bài phê bình thực sự chạm tới, là khi kể lại được câu chuyện về “một cuộc gặp gỡ”: giữa người đọc với văn bản; giữa “điển”, “tầm đón nhận” với hình tượng; giữa chủ thể tiếp nhận và chủ thể sáng tạo…

Phê bình, như vậy, là một dạng nhật kí đọc và sống, là một cách nhà phê bình lưu giữ lại những điều chạm vào mình. Khi ấy, phê bình không cao giọng giảng giải dạy dỗ, mà bình thản thủ thỉ kể chuyện: về đối tượng phê bình, và qua đó, về chính chủ thể phê bình. Lúc này, tự sự cũng là tự truyện.

Phê bình và tự truyện – tưởng khác mà gần

Phê bình là một hoạt động tư duy có tính khoa học, nhằm phân tích, lí giải và định hướng giá trị của một hiện tượng văn học. Tự truyện, ngược lại, là hình thức người viết kể lại cuộc đời, cảm xúc, quan điểm của chính mình – nơi cái tôi được đặt ở trung tâm. Nhưng thú vị thay, trong những bài phê bình tưởng như khách quan và “lạnh”, cái tôi của người viết vẫn hiển thị sinh động. Khi một nhà phê bình lựa chọn và đưa ra nhận định về một hiện tượng văn học, họ không chỉ nói về hiện tượng văn học đó, mà đồng thời hé lộ hệ giá trị, quan điểm thẩm mĩ, vốn sống và cả tâm thức của chính mình. Nói cách khác, người phê bình không thể thoát khỏi cái bóng của chính họ trong khi nhìn vào người khác – và đó là lúc phê bình trở thành một dạng “tự truyện gián tiếp”: người này thiên về “lấy hồn ta để hiểu hồn người”, người khác lại thiên về dùng lí tính, tư duy logic để giải phẫu những kĩ thuật thuộc về mặt hình thức của văn bản; người này bị hút cuốn bởi hấp lực của nỗi buồn niềm đau nơi tác phẩm, người khác lại chỉ muốn đọc những cái viết nhẹ nhõm vui tươi… Nghĩa là, cứ xem nhà phê bình chọn đọc gì và đọc như thế nào, ta sẽ định danh được họ.

Với Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh không chỉ là một người sưu tầm và phân loại thơ của phong trào Thơ mới, mà còn là một “thi sĩ trong vỏ bọc nhà phê bình”. Cách ông lựa chọn thơ, trừu xuất từng hồn thơ… phản ánh một cái tôi phê bình mơ mộng duy cảm duy mĩ. Phê bình kiểu Hoài Thanh không chỉ giúp ta thông hiểu Thơ mới, mà còn phơi mở bản đồ tâm hồn nhà phê bình với khung thẩm mĩ, với “trực giác”, “ấn tượng”… riêng tây.

Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh là một “tự truyện học thuật” được viết bằng chính trải nghiệm cá nhân của nhà phê bình với văn chương và đời sống.

Nhà văn, nhà phê bình người Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk (Nobel văn chương 2006) từng chia sẻ, một mùa hè khi mang cuốn sách Tu viện thành Parme của nhà văn người Pháp Stendhal theo người, nhiều lần ông tự hỏi tại sao chỉ cần biết cuốn sách ở bên đã thấy khoái như vậy, và thôi thúc ông nói về cuốn sách – niềm vui thú đó của mình. Khi chìm đắm tuyệt đối vào tâm hồn cuốn sách, ông thấy như thể tác giả của nó thầm thì toàn bộ sự thông thái vào tai ông, chia sẻ những sự những niềm chỉ cho riêng ông. Ông xúc động bộc giãi: “Đến gần như vậy trong trí óc và tinh thần của một nhà văn rỡ ràng dường này giúp tôi tự tin, và nhờ đó, như với mọi người hạnh phúc khác, niềm tự tôn trong tôi dâng trào”.

Những màu khác là tuyển tập tản văn, diễn văn, tiểu luận được Orhan Pamuk chủ ý tập hợp để tạo thành một cuốn sách hoàn toàn mới lấy yếu tố tự truyện làm trung tâm. Những bài phê bình xuất hiện trong đây ở các phần tách biệt như một chuỗi phân mảnh để phản ánh cùng một câu chuyện mang tính tự truyện của cuốn sách. Nói về Istanbul, hay bàn luận về các cuốn sách, tác giả, bức tranh mà bản thân yêu thích nhất, với Orhan Pamuk luôn luôn là một cái cớ để nói về cuộc đời. Phần “Nhìn ra cửa sổ”, câu chuyện ở cuối sách, theo ông, mang tính chất tự truyện mạnh đến nỗi tên nhân vật rất có thể là Orhan Pamuk. Khi soạn cuốn sách này ông bàng hoàng nhận ra bản thân có mối quan tâm đặc biệt và khuynh hướng thiên về các thảm họa tự nhiên (động đất) và thảm họa xã hội (chính trị). Ông luôn luôn tin rằng ắt phải có một kẻ cuồng viết tham lam và gần như không thể lay chuyển thường trú trong bản thân – “một sinh vật không thể bao giờ viết cho đủ, kẻ lúc nào cũng biến cuộc sống thành từ ngữ” – và để cho hắn ta vui lòng ông cần phải tiếp tục viết. Đây là cuốn sách được đặt trong một cái khung để gợi ra một trung tâm mà ông cố gắng che giấu. Với ông, cuốn sách này “là hồ sơ – là bằng chứng – của một đời sống nội tâm”.

Ngay cả trong phân tích hậu cấu trúc, nơi tưởng như triệt tiêu cái tôi, nhà phê bình người Pháp Roland Barthes cũng vô thức kể lại bản thể mình qua S/Z (P/S). Đây là một tác phẩm phê bình văn học, cụ thể là một phân tích chi tiết về truyện ngắn Sarrasine của đại văn hào người Pháp Balzac. Nhà phê bình Thụy Khuê truy vấn và tường giải: Tại sao Barthes lại chọn truyện ngắn Sarrasine của Balzac? Lối phân tích vừa cắt vừa dán của Barthes khiến chúng ta có thể thấy tất cả những nét lồi lõm của một tác phẩm cổ điển tưởng là nhẵn nhụi bằng phẳng. Cái nhan đề S/Z của Roland Barthes biểu trưng tính chất bí mật của toàn thể tác phẩm qua hai nhân vật chính: S là chữ đầu tiên tên Sarrasine, người họa sĩ tài danh đam mê, và Z là chữ đầu tiên tên Zambinella, một danh ca bị thiến từ nhỏ để giữ giọng kim tuyệt vời. Hai người đàn ông này, liên hệ tới sự đồng tính của Barthes, đều mang tên đàn bà, tuy đứng ở hai phía nhưng cùng một nòi: tài hoa bạc mệnh.

Cũng theo Thụy Khuê, nhà phê bình người Bỉ Georges Poulet từng nói về lối phê bình của Madame de Staël – nữ văn sĩ người Pháp gốc Thụy Sĩ – như sau: “Đó là một lối phê bình ích kỉ nhất và vô vụ lợi nhất, đưa đến sự tìm biết sâu xa chính mình, trong say đắm, đem cái tôi của mình hòa nhập với cái tôi của người khác”. Georges Poulet đưa ra khái niệm sự thấu minh (transparence), tức là sự thông suốt, giữa người viết và người đọc. Theo ông, sự hòa hợp giữa những tâm hồn qua văn chương cũng giống như một cuộc hôn nhân hạnh phúc.

Ngày nay, với sự phát triển của internet và mạng xã hội, hoạt động phê bình văn học không còn tự trị, chỉ đi sâu vào tháp ngà hàn lâm, mà trở nên dân chủ, đi rộng ra đời sống. Những bài review, cảm nhận tác phẩm trên blog, diễn đàn, facebook… thường không theo chuẩn mực khoa học nghiêm ngặt, nhưng lại bộc lộ rõ cái tôi cá nhân. Người viết chia sẻ những gì họ thấy, cảm, nghĩ – và chính điều đó làm cho mỗi bài phê bình trở thành một mảnh ghép chân thực của “nhật kí tinh thần” người viết.

Phê bình như tự truyện – nghĩa lí và lưu ý

Về nghĩa lí, phê bình như tự truyện giúp giải phóng cái tôi trong phê bình, biến phê bình thành một hành vi sáng tạo thực sự. Nhà phê bình không chỉ làm công việc “phụ trợ” cho tác phẩm, mà trở thành người đối thoại, người đồng hành, đồng sáng tạo.

Phê bình kiểu tự truyện làm cho phê bình trở nên gần gũi hơn với độc giả, đặc biệt là trong thời đại mà con người ngày càng cần kết nối tương tác, cần được lắng nghe tiếng nói khác. Một bài phê bình giàu tính chủ quan có phần cực đoan là một bài giàu tính kích thích, giàu khả năng sinh sự, tạo hiệu ứng hoặc chia sẻ đồng cảm hoặc tranh luận đối thoại – đúng như tinh thần của một xã hội đa chiều.

Phê bình mang dấu ấn tự truyện cũng phản ánh sự trung thực trí tuệ và tâm hồn của người viết. Người ta không thể che giấu toàn bộ bản thân khi kể chuyện về một điều gì đó một cách sâu sắc – đặc biệt là khi kể chuyện về cái đẹp, cái thiện, và cả những giới hạn của con người.

Theo nhà phê bình Từ Huy, Alain Robbe-Grillet, nhà văn và nhà làm phim người Pháp, đã nói về những bài viết của Barthes bàn về các tác phẩm Kẻ nhìn trộm và Những chiếc tẩy của ông như sau: “Tôi đã tin rằng Barthes không hề nói gì về tôi, mà ngược lại, ông nói về chính ông, không phải theo một cách thức chặt chẽ, chính xác…, mà lỏng…”. Chính điều này lại hấp dẫn Robbe-Grillet. Ông hoàn toàn chấp nhận việc nhà phê bình có thể dùng tác phẩm của mình như một cái cớ để triển khai tư tưởng của chính họ, bất chấp việc những tư tưởng đó có thể hoàn toàn không ăn nhập gì với ý đồ sáng tạo, với cách hiểu của nhà văn về tác phẩm của mình. Bởi vì suy cho cùng, ý đồ của nhà văn sau khi tác phẩm đã được viết ra sẽ chỉ tồn tại như một cách thức diễn giải giữa vô vàn cách thức diễn giải khác. Điều quan trọng là tác phẩm có khả năng kích thích những tiềm năng của diễn giải.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, không phải cứ phê bình là tự truyện, càng không thể đánh đồng phê bình với tùy bút, dẫn phê bình đến tùy tiện. Phê bình là khoa học, đúng hơn, là “con vật lưỡng thê” dùng dằng giữa khoa học và nghệ thuật. Trái tim nóng nghệ thuật rất cần cái đầu lạnh khoa học phối tiết.

Nhà phê bình người Đức Erich Auerbach từng nhấn mạnh: “Phương pháp phân tích văn bản cho người nghiên cứu một sự tự do nào đó trong cách diễn giải: tức là tự do lựa chọn và tô đậm chỗ nào anh ta thích. Tuy vậy, cái điểm mà anh xác định luôn luôn phải có trong văn bản. Những cách giải thích của tôi, chắc chắn là bị hướng dẫn bởi một ý hướng nhất định, nhưng ý hướng này không có sẵn mà nó được hình thành dần dần, từng trang, từng trang, cùng với luận điểm giải thích văn bản mà tôi đang nghiên cứu, và trong nhiều trang, tôi để cho văn bản hướng dẫn mình. (…) Tôi không hề có ý định chỉ trình bày những gì phù hợp với những phát biểu của tôi; ngược lại, tôi cố gắng dành chỗ cho sự đa dạng và giữ sự mềm dẻo trong lập luận…”.

***

Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đại như phê bình hiện tượng học, diễn ngôn học văn chương, hay mĩ học tiếp nhận – nơi chủ thể đọc/viết luôn hiện diện trong chính thao tác diễn giải văn bản. Dù vô tình hay hữu ý, mỗi bài phê bình đều là một “tấm gương một chiều” phản chiếu cái tôi nội cảm, cái chủ kiến, thiên kiến của người viết. Qua văn bản phê bình, người ta không chỉ thấy một hiện tượng văn học được phê bình, mà còn thấy cả một con người – đang thực hành sống, đọc, suy tư, tìm gặp tha nhân và bản thể.

Những phân mảnh phê bình mang tính tự truyện lưu lại những mối quan tâm, niềm nhiệt hứng của chủ thể phê bình. Với họ, đọc là ân điển, viết là lạc thú. Những lần khởi bút viết phê bình được Orhan Pamuk gọi là “những khoảnh khắc vụt hiện”, “những khoảnh khắc kì lạ khi chân lí bằng cách nào đó được rọi sáng”, còn nữ văn sĩ người Anh Virginia Woolf gọi là “những khoảnh khắc hiện hữu”. Phải thôi, khi mà có vô hạn hiện tượng văn học, tại sao nhà phê bình chỉ chọn đọc hữu hạn hiện tượng này thôi, và đến lượt, trong hữu hạn hiện tượng đã đọc, họ chỉ dừng lại chấp bút phê bình một phần nhỏ này thôi. Và ta hiểu, tại sao nhiều nhà phê bình lại run rẩy xúc động ghi đề tặng cố hương, cố nhân, người thân… vào đầu mỗi cuốn sách phê bình của mình.

Với nhà phê bình, viết là một cách để nói họ đang sống, họ đang hiện diện, họ đã yêu cái đẹp này theo cách của họ. Từ đó có thể thấy, phê bình – như một tự truyện gián tiếp – không chỉ là nỗ lực của nhà phê bình trong việc giải phẫu hiện tượng văn học, đặc biệt là tác phẩm văn học, mà còn là hiện thân của khát vọng trình hiện bản thân, của nhu cầu tương giao với thế giới và nhìn sâu vào chính mình của chính họ.

Vì lẽ đó, như đã nói, trong mỗi bài phê bình đích thực, ta không chỉ thấy được văn bản văn học mà còn thấy được đời sống tinh thần của người đọc nó. Những xúc cảm, tổn thương, vẻ đẹp và những vùng tối trong tâm thức – tất cả được viết ra như thể người viết đang soi gương dưới ánh sáng lấp lánh và mờ đục của văn chương. Như ánh đèn chiếu vào sương, những thứ tưởng không hình hài bỗng hiện rõ – một khoảnh khắc vụt sáng giữa vô vàn tiếng ồn im lặng.

Phê bình không chỉ là diễn giải người khác, mà là tự soi mình. Không chỉ là lí giải, mà còn là tự khải. Không chỉ là khách thể hóa, mà còn là hành trình chủ thể hiện diện trong ngôn từ.

Nhà phê bình không viết để phô phang kiến thức, mà viết để lần tìm linh hồn của mình.

Trong hành trình ấy, nhà phê bình không bao giờ có thể chạm được vào cái tuyệt đối – nhưng ít nhất, họ đã dấn bước. Và một điều chắc chắn, họ không thể “tuyệt không dấu vết”.

H.Đ.K

Nguồn:VanVn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm