TIN TỨC

“Khoảng trời xanh ký ức” – khúc lắng đọng, yêu thương

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-09-16 16:01:05
mail facebook google pos stwis
1583 lượt xem

Sau buổi ra mắt ấm áp tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức (30/5/2025), bài viết của TS. Hoàng Thị Thu Thủy tiếp tục khắc họa nét đẹp dung dị và giàu cảm xúc trong thơ Nguyễn Thị Phương Nam – một “nhật ký tâm hồn” chạm đến trái tim người đọc. 

TS. HOÀNG THỊ THU THỦY

Tôi xem bài thơ “Yêu thơ” của nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam trong tập thơ “Dòng sông và nỗi nhớ” như là tuyên ngôn thơ: “Tiếng đài khuya vọng ngân nga/ Thơ ơi vang mãi thiết tha mặn nồng/ Từng câu từng ý vào lòng/ Yêu thơ ta nguyện thủy chung trọn đời”; “Thơ, làm nhịp cầu nối hai tâm hồn/ Thơ, giúp em vượt qua ngàn cay đắng” (Để em thức cùng thơ – Gửi vào khoảng lặng). Chị từng là nhà giáo (1969 - 1981), rồi chuyển sang công tác tại Tổng công ty 28, Tổng cục Hậu Cần Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng và mang quân hàm Trung tá QNCN, chị là Hội viên Hội nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Thơ là cứu cánh cho nữ thi sĩ – nhà giáo, nữ thi sĩ – quân nhân trong những năm tháng vừa làm tròn nhiệm vụ của một công dân vừa làm tròn bổn phận của một người vợ thủy chung, một người mẹ đảm đang và cả khi lên chức bà hiền hậu, thân thương. Thủy chung cùng thơ, yêu thơ và sáng tác, cho đến nay chị đã lần lượt xuất bản 7 tập thơ: “Dòng sông và nỗi nhớ” (2006); “Hương thiên lý” (2013), “Vọng mãi lời ru” (Sưu tầm, 2014), “Nơi đó có tình yêu” (2016), “Gửi vào khoảng lặng” (2018) “Thì thầm tiếng gió” (2021); và chị vừa ra mắt tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” vào năm 2025.

 “Dưới khoảng trời xanh ấy/ Có ngày xưa đôi ta/ Trĩu ân tình biết mấy/ Câu thơ níu quê nhà” (Khoảng trời xanh ký ức). Lấy tên bài thơ “Khoảng trời xanh ký ức” làm tựa đề cho tập thơ, nhà thơ đã gửi gắm vào trong đó những ký ức ngọt ngào về tình yêu, về mẹ, về quê hương, về nghề nghiệp, về những khoảng thời gian thăng trầm với mọi buồn vui cùng cảm xúc dâng trào: “Có vệt phấn vắt ngang/ Tuổi thơ thành trí tuệ/ Từ những lời cô giảng/ Ôi! Mênh mang quê nhà… Dưới khoảng trời xanh ấy/ Cánh chim chiều nghiêng chao/ Gom hoàng hôn vào tối/ Thương ngày xưa chiến hào”. Chọn thể thơ 5 chữ, cùng lối hồi tưởng chắt lọc cùng thi tứ, bài thơ như mở ra một vùng ký ức thật đẹp, dẫu có gian khó thì vùng ký ức đó vẫn mang màu hồng bởi cái nhìn của thi sĩ đầy trân trọng, thương yêu. Câu thơ “Cánh chim chiều nghiêng chao/ Gom hoàng hôn vào tối” quá hay. “Cánh chim chiều” là thi ảnh quen thuộc trong thi ca từ cổ điển đến hiện đại. Trong khoảng trời xanh biếc chị đã nhận ra cái bé nhỏ, cô đơn khi đối diện với hai hình ảnh đối lập giữa cánh chim và bầu trời. Cánh cò trắng trong câu thơ “Bạch lộ song song phi hạ điền”([1]) – (Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng – bản dịch của Ngô tất Tố) là điểm sáng trong tâm thức thi nhân Trần Nhân Tông khi trời đã nhá nhem, nhập nhoạng. Còn với nữ thi sĩ Nguyễn Thị Phương Nam thì cánh chim càng tô đậm thêm bóng tối “Gom hoàng hôn vào tối” – một cảm nhận hết sức chân thực với cái nhìn từng trải và những trải nghiệm trong chính hành trình của chị với cuộc đời và thơ ca. Nên mỗi bài thơ trong tập thơ của chị là những tri âm gửi từ lòng mình đến độc giả.

Nhật ký thơ của chị hiển hiện trên mỗi vui buồn “nhớ về thời hoa lửa, nhớ mẹ, nhớ những người thân thương”; lòng biết ơn với những sự kiện “Nhận huy hiệu Đảng”, “Kỷ niệm ngày cưới”, “Mừng sinh nhật con”, “Mừng cháu nhận bằng tốt nghiệp”… cùng những biến cố về bệnh tật, về Covid… Thế giới thơ của chị thân thương, gần gũi, dường như cuộc sống cùng những suy tư chị đều gửi vào “Khoảng trời xanh ký ức”. Vì là nhật ký bằng thơ nên thể thơ 5 chữ đắc dụng trong việc chuyển tải cảm xúc cùng thi ảnh, thể thơ này mang vẻ đẹp dung dị mà lại có khả năng chuyển tải sâu sắc những cảm xúc và ý tưởng phong phú. Đa phần những bài thơ trong tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” được viết theo thể thơ 5 chữ.

Hình ảnh người mẹ trong thơ chị vừa mang dáng dấp của những người mẹ Việt Nam tảo tần, lo toan, chịu đựng, hi sinh vì chồng con; vừa mang nét riêng của miền đất khói lửa Vĩnh Linh - Quảng Trị: “Cha theo tiếng gọi non sông/ Đi theo cách mạng trong vùng chiến khu/ Hỡi ôi viên đạn quân thù/ Bắn cha ngã gục bên bờ suối xa/ Mênh mông trời đất bao la/ Một đàn con dại mẹ già gian nan/ Chị em phân tán đôi đàng/ Làm thuê ở mướn kiếm ăn qua ngày” (Bài thơ dâng mẹ). “Trải qua bao năm tháng/ Mẹ tần tảo nuôi con/ Đôi vai mẹ gầy mòn/ Đôi bàn tay rám nắng/ Gian nan và cay đắng/ vất vả cứ đong đầy”; bài thơ còn là lời nhắn nhủ thiết tha về tình mẫu tử thiêng liêng: “Nhắn ai còn có mẹ/ Đừng để tháng ngày trôi/ Sau này dù ân hận/ Khi đó đã muộn rồi” (Ký ức về mẹ)

 “Ngày tháng cứ trôi đi/ Thơ thì thầm muốn nói/ Thời gian ơi chậm lại/ Lòng xưa còn thiết tha” (Thời gian ơi chậm lại). Không hiểu sao khi đọc những câu thơ này lòng tôi trào dâng cảm xúc tiếc nuối. Một người thơ tha thiết, đi cùng thơ trọn đời; một cô giáo dạy văn bao năm truyền lửa cho trò; một người lính kiên trung một lòng theo lý tưởng… chợt buồn vì bi kịch thời gian, đó là bi kịch mà ai cũng trải qua giữa thời gian vũ trụ vần vũ đến rồi lại đi và thời gian đời người ngắn ngủi. Làm vợ, làm mẹ, làm bà chị có ít thời gian dành cho bản thân (kể từ khi anh vào viện với bệnh tim), vậy mà vẫn có những vần thơ tha thiết với cuộc sống, với những miền đất chị đặt chân đến thì quá trân trọng, những bài thơ “Về Tiền Giang”, “Thăm tượng đài Nguyễn Huệ bên sông Tiền”, “Biển chiều Phan Thiết”, “Đêm giao lưu với đoàn 146 hải quân”… là những xúc cảm dâng trào trong trái tim thi sĩ, bởi đó là khoảng thời gian hạnh phúc của chị, khi thảnh thơi ngắm nhìn, khi vui vẻ cùng đồng đội.

 “Mũi Né đây rồi em biết không/ Gió chiều lồng lộng đuổi mây hồng/ Dập dồn sóng trắng xô bờ cát/ Những ngọn dừa xanh ai vít cong?/ Em ở đâu dưới trời Phan Thiết? Nhìn tấm hình em giữa mênh mông/ Ước gì với nhau cùng một chuyến/ Cùng ngắm biển chiều đỡ nhớ mong” (Biển chiều Phan Thiết). Thi tứ bài thơ quá tình, giọng thơ nữ tính dịu dàng như chính cái dịu dàng của tính cách nhà thơ. Những câu thơ vừa lấp lánh thi ảnh, vừa quấn quýt tâm tình, vừa chứa chan cảm xúc và trên hết vẫn là tài thơ trong cấu tứ thi ảnh “Dập dồn sóng trắng xô bờ cát/ Những ngọn dừa xanh ai vít cong?”, cái nhìn thi nhân rất lạ, rất mới cùng câu hỏi tu từ “Những ngọn dừa xanh ai vít cong?”.

Thi tứ “Chiếc lá mùa thu” chứa chan ký ức về một thời hoa lửa, về những nhớ mong, chờ đợi; chọn “chiếc lá” như một nốt nhạc trầm bổng trong hành trình trở về với ký ức cũng là sáng tạo trong thi ca và chị đã làm mới cho chính mình với những vần thơ dặt dìu kỷ niệm: “Mùa thu đi qua từng chiếc lá/ Trong gió chiều thấp thoáng bay bay/ Lòng bỗng trở về một ngày thu năm ấy/ dưới gốc cây già, lá chạm khẽ bờ vai” (Chiếc lá mùa thu)

Người đọc cảm mến thơ chị bởi cái giọng thơ đằm thắm, dịu dàng, nữ tính, tình yêu và sự thủy chung là điểm tựa cho chị vượt lên tất cả: “Những đóa hoa hồng gửi tặng ông/ “Tình yêu” hòa quyện với “thủy chung”/ Bốn chữ thiêng liêng luôn gìn giữ/ Hạnh phúc trọn đời con cháu mong” (Mừng sinh nhật thời Covid). Đi qua năm tháng, từ sự chờ đợi “Ôi nỗi niềm vợ lính/ Cứ đợi chờ nhớ thương” (Hai năm sau ngày cưới), đến hòa bình đoàn tụ “Chuyển vào Nam theo chồng” (Cuộc thiên di vội vã), rồi cùng nhau trải qua bao thăng trầm, giờ đến độ tuổi mà “anh ốm, chị chăm”, cùng nhau vượt qua bạo bệnh, hi vọng và yêu thương.

Nhật kí thơ” trong “Khoảng trời xanh ký ức” với đầy đủ các cung bậc cảm xúc, nơi đó chị gửi gắm tình yêu, nỗi ước mong, hy vọng và những cảm xúc thương cảm trước tình bạn, tình yêu, tình cảm gia đình… Xem thơ là cứu cánh, nên cảm xúc trong thơ chị chân thật, bày tỏ đúng những gì nhà thơ cảm nhận từ tấm lòng, có chiều sâu nên gợi lên những duy tư và đồng cảm của người đọc, đó cũng là lý do để tập thơ “Khoảng trời xanh ký ức” chạm đến trái tim độc giả.

Thi pháp thể loại ở tập thơ này không có nhiều đột biến, đa phần là thơ 5 chữ, một vài bài theo thể thơ lục bát – thơ lục bát cũng là thế mạnh của nhà thơ Nguyễn Thị Phương Nam, vì với thể thơ này chị thường có những câu thơ xuất thần, và tứ thơ hay. Bài thơ “Ai ra xứ Huế đừng quên” là một ví dụ. Là “nhật ký thơ” bộc bạch cảm xúc với những vùng đất, những con người thân thương nên ở tập thơ này chị vẫn tiếp nối giọng thơ thủ thỉ, tâm tình như ở những tập thơ trước. Giọng thơ ít biến đổi, chứng tỏ nữ thi sĩ đã vượt qua những cảm xúc thông thường để gửi vào thơ những gì lắng đọng, yêu thương, đó là điều khiến cho thơ chị có thật nhiều thương mến.

Huế, ngày 16/9/2025


([1]) Thiên trường vãn vọng – Trần Nhân Tông

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm