TIN TỨC

Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-27 15:10:30
mail facebook google pos stwis
586 lượt xem

"Người nghệ sĩ không chết, họ chỉ chuyển địa chỉ từ thế giới hữu hình sang sinh sống trong lòng những câu thơ."

— Khuyết danh

Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng? Câu trả lời có lẽ nằm ở tình tri kỷ và thế giới vô biên của thi ca – nơi những tâm hồn nghệ sĩ tìm thấy nhau và gửi gắm phần tinh túy nhất của đời mình.

Đúng như lời định mệnh đã gọi tên, bài thơ "Viết cho Anh Quốc Thành" của Xuân Trường chính là minh chứng sống động cho sự chuyển dịch thiêng liêng ấy. Tác phẩm không đơn thuần là một bài điếu ca tiễn biệt người bạn lãng du, mà là nén tâm hương thắp bằng ký ức, một sự thăng hoa đầy kiêu hãnh của những linh hồn đồng điệu. Ở đó, cái chết không phải là sự kết thúc bi lụy, mà là điểm khởi đầu cho một chuyến viễn du mới vào cõi bất tử của văn chương.

***

Nhà thơ Xuân Trường.
 

VIẾT CHO ANH QUỐC THÀNH

(Xuân Trường)

Biết nhau từ dạo anh đi "Vá vầng trăng"
rồi mười bảy năm xa anh, xa An Khê, chưa lần gặp lại
bây giờ anh đã đi xa...
về đâu anh, thăm thẳm cõi vô cùng
mà bước chân lãng du thi ca anh sẽ không bao giờ dừng lại
trong mất mát hôm nay ta sẽ còn mãi trong nhau...

này đây bao luyến thương bạn bè còn ở lại
Câu thơ rưng rưng lưu lạc phía vô cùng
còn đâu anh
những chiều nhà hàng thủy tạ
ta uống cạn hoàng hôn, cho trăng nhu nhú đêm lên
những nụ cười nở vào nhau cho tâm hồn kết nối

anh sinh ra trên nền đá ong Bình Định
tôi sinh ra nơi miền nắng lửa mưa dầu Quảng Nam
và thơ ta không ngoài nắng mưa gian khó
vậy mà thấm đậm tâm giao

Tôi nhớ đêm giao lưu ở Cam Ranh
Nhạc sĩ Giao Tiên nâng cánh thơ Quốc Thành
bay phiêu lưu qua miền hoa cát
cho bao lòng ấn tượng đến hôm nay

Khi chưa có ngày thơ Việt Nam
đêm mười hai ta hay ngồi nhà thủy tạ An Khê
rằm tháng giêng ta lại xuống núi Nhạn Tuy Hòa
vẫn chưa đi hết đắm say theo bước chân lang bạt
ôi nhớ quá những ngày trai tráng ấy anh ơi!

những lúc nhớ anh lòng tôi trỗi dậy
âm vang đâu đây những giọng điệu Quốc Thành
Đó là những tin yêu mà lòng tôi đã gặp
Lại là nghìn trùng xa cách giữa hôm nay

Câu thơ viết trên mùi thơm con cá đá...
Món ăn ngon nhất ở An Khê mà chẳng đâu bằng
Anh đã mời tôi năm ấy
Xin ngàn lần ngon mãi trong tôi

Đời vô thường ta hữu hạn anh ơi
Trên tất cả cũng chỉ là đưa tiễn
Xin chúc anh an nhiên miền miên viễn
Để hồn cùng vô hạn với thi ca

***

Mở đầu bài thơ, người đọc lập tức bị cuốn vào không gian sinh tử và tri kỷ đầy lay động. Xuân Trường gọi tên bạn bằng một hoài niệm vừa ngạo nghễ vừa xót xa: "Biết nhau từ dạo anh đi 'Vá vầng trăng'". "Vá vầng trăng" – một hình ảnh thơ mộng, lãng tử và đậm chất kỳ vĩ của người nghệ sĩ Quốc Thành ngày nào. Tựa đề tác phẩm "Vá vầng trăng" của Quốc Thành năm ấy, qua nét bút tiễn biệt của Xuân Trường, nay đã trở thành một chứng tích kiêu hãnh cho một đời nghệ sĩ tài hoa, ngạo nghễ. Nhưng cái ngạo nghễ ấy bỗng chốc rơi thỏm vào khoảng trống của hiện tại: mười bảy năm xa cách chưa kịp gặp lại, thì nay bạn đã đi xa.

Đối diện với niềm đau mất mát, nhà thơ không bi lụy mà chọn cách nhìn xuyên qua màn sương tử biệt. Thể xác gửi lại trần gian, nhưng "bước chân lãng du thi ca anh sẽ không bao giờ dừng lại". Cụm từ "thăm thẳm cõi vô cùng" hay "phía vô cùng" được lặp lại như một sự định vị mới cho linh hồn người ra đi. Bạn không mất đi, bạn chỉ đang mang theo "câu thơ rưng rưng lưu lạc" để tiếp tục cuộc hành trình xuyên qua các tinh cầu.

Ngược dòng thời gian, bài thơ mở ra một miền ký ức vàng son của tình tâm giao miền Trung đầy nắng gió. Xuân Trường khéo léo khắc họa chân dung hai người con đất Quảng: một sinh ra trên nền đá ong Bình Định, một lớn lên nơi nắng lửa mưa dầu Quảng Nam. Chính cái gian khó, nhọc nhằn của quê hương đã tôi luyện nên những hồn thơ đậm đà sương gió, để rồi họ gặp nhau, thấm đẫm tâm giao.

Người đọc làm sao quên được những buổi chiều tại nhà hàng thủy tạ An Khê, nơi hai tâm hồn thi sĩ đã "uống cạn hoàng hôn, cho trăng nhu nhú đêm lên". Câu thơ bừng sáng một khí chất hào sảng, một tư thế chiếm lĩnh thiên nhiên và thời gian vô cùng lãng mạn của tuổi trẻ. Ký ức ấy còn thơm nồng "mùi thơm con cá đá" – món ăn giản dị, đậm đà của vùng đất An Khê. Đưa một món ăn dân dã vào lời tiễn biệt, Xuân Trường đã biến cái hữu hình thành cái vô hình, biến hương vị trần thế thành biểu tượng vĩnh cửu của lòng hiếu khách và tình bạn thủy chung. Hương vị ấy không chỉ là đặc sản của đại ngàn An Khê mà đã hóa thành mùi hương của ký ức, một thánh đường lưu giữ nghĩa tình sắc son giữa ngút ngàn dâu bể.

Những đêm thơ thăng hoa có sự nâng cánh của nhạc sĩ Giao Tiên tại Cam Ranh, hay những bước chân lang bạt xuống núi Nhạn Tuy Hòa… tất cả hiện về như một cuốn phim quay chậm, sống động và tràn đầy sinh lực của một "ngày trai tráng ấy anh ơi!".

Để rồi, từ đỉnh cao của ký ức rực rỡ, bài thơ khép lại bằng những chiêm nghiệm triết lý về sự vô thường và sự bất tử của cái đẹp: "Đời vô thường ta hữu hạn anh ơi / Trên tất cả cũng chỉ là đưa tiễn". Lời thơ buông xuống nhẹ nhàng như một tiếng thở dài thấu suốt nhân sinh. Con người ai rồi cũng phải đi qua chiếc cầu sinh tử, ai rồi cũng phải sắm vai người đưa tiễn hoặc người ra đi. Nhưng vượt lên trên định mệnh ngặt nghèo đó, nhà thơ đã gửi gắm một lời chúc thanh thản: "Xin chúc anh an nhiên miền miên viễn / Để hồn cùng vô hạn với thi ca".

Cái chết đã hoàn toàn bị khuất phục trước cái đẹp. Thể xác có thể hòa vào cát bụi, nhưng hồn thơ Quốc Thành, giọng điệu Quốc Thành và tình tri kỷ giữa hai ông đã kịp hóa thân vào vũ trụ bao la, trở thành một phần của cõi vĩnh hằng.

"Viết cho Anh Quốc Thành" là một bài thơ chạm đến góc sâu thẳm nhất của lòng người bằng ngôn từ trau chuốt, nhạc điệu trầm hùng và cảm xúc chân thành. Xuân Trường đã thay mặt những người bạn còn ở lại, vẽ nên một bức tranh tiễn biệt đầy màu sắc lãng mạn. Bài thơ để lại một dư âm ấm áp: dẫu cuộc đời có dâu bể, dẫu nghìn trùng có xa cách, thì tình tri kỷ và cái đẹp của văn chương vẫn luôn là ngọn hải đăng soi sáng, sưởi ấm cho những linh hồn lãng du trên mọi dặm đường miên viễn.

Sài Gòn, ngày 27/5/2026
Thuy Anh

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm