TIN TỨC

“Lời của gió” - Lời của nước mắt, nụ cười

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2024-08-30 10:48:36
mail facebook google pos stwis
1241 lượt xem

Nguyễn Thế Kỷ (*)

Tôi may mắn được người anh, người đồng nghiệp quý mến - Nhà thơ, Nhà báo Trần Thế Tuyển gửi bản thảo trường ca “Lời của gió” với tin nhắn giản dị, mộc mạc “Gửi chú đọc và thẩm cho anh”. Đọc thì đương nhiên rồi, nhưng không dám “thẩm”. Mấy lời sau đây tôi viết với tư cách là bạn đọc, là người em của Nhà thơ Trần Thế Tuyển. 

Đại tá, nhà thơ, nhà báo Trần Thế Tuyển

Trần Thế Tuyển và thế hệ của mình, cả trước đó, sinh ra và lớn lên khi chưa kịp nhìn thấy giảng đường đại học đã phải ôm cây súng lặn lội trong bom đạn vượt Trường Sơn vô miền Nam đánh Mỹ, vừa đánh giặc, vừa tập làm báo, làm thơ khi có thể, may mắn đi tới tận Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, và không dám nghĩ có thể cùng quân và dân ta đi đến trận thắng lịch sử ngày 30 tháng 4 năm 1975 ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng.

Phải có một vốn sống dày dặn với nhiều đau thương, mất mát, những trận đánh ác liệt, những cơn sốt rét rừng dữ dằn, những trận địch càn tàn khốc…Trần Thế Tuyển mới có cho mình một vốn liếng báo chí và văn chương đáng tự hào. Về văn chương, đến nay, anh có 17 cuốn sách gồm các thể loại thơ, trường ca, truyện ngắn, truyện ký...Riêng thơ, là các tập “Dấu chân của Mẹ”, “Ngực Đá”, “Câu hỏi đời người”, “Dấu ấn” và các trường ca “Phía sau mặt trời”, “Gió thổi miền ký ức”, “Mẹ”, “Quốc giỗ"…

Trường ca mới “Lời của gió” của Trần Thế Tuyển mang đậm tính sử thi, hào hùng, bi hùng, bay bổng, đằm sâu với chiều kích thời gian và không gian rộng lớn. Ở chương 5, chương cuối trường ca, anh viết “Ngọn gió lang thang bến Nhà Rồng/Nhân chứng “Người ra đi tìm đường cứu nước”/Phượng vẫn đỏ như lời hẹn ước/Ra đi và trở về…”. Hình tượng gió trong trường ca “Lời của gió” thổi dọc đất nước, xuyên suốt bài thơ “từ núi rừng Tây Ninh..”, “từ những cánh đồng/ Hướng Tây Nam, trận Cầu Voi máu lửa”, “Gió từ Vàm Cỏ Đông”, “Gió trong Dinh Độc Lập”, “Gió nơi miền biên ải”, “Gió và sóng lừng Thủ Thiêm”, “Gió từ Bến Nhà Rồng”. Trần Thế Tuyển nói những điều lớn lao về đất nước, về con người, về chiến tranh, về mất mát, đau thương, về chiến thắng, về niềm kiêu hãnh… bằng những hình ảnh, những chi tiết thật giản dị, xúc động và đầy mỹ cảm “Gió theo những binh đoàn từ núi rừng Tây Nguyên/Hướng Tây Bắc tràn vào Thành phố/Những Đồng Dù, Lái Thiêu ... còn đó/Khói bom chưa tan, chim én đã bay về”...hay “Có bà mẹ Sài Gòn đi tìm con/Thằng Bảy, thằng Ba, con Năm, con Sáu.../Hòa bình rồi, ở nơi đâu các con yêu dấu/Về nhà đi, má nấu canh chua”… Nhà thơ khắc họa Ngày đại thắng 30/4/1975 thật riêng, thật gợi“Chính ủy Bùi Văn Tùng không thể nào quên/Những người lính lấy máu mình nhuốm thân hình đất nước/Những Thiềng, những Khơi, những Hoàng Thọ Mạc.../Những “cánh đồng chó ngáp” máu và xương.../Trưa nay Đài phát thanh, bên mình đanh thép/Chấp nhận lời Tuyên bố đầu hàng”. Ngọn gió chiến chinh mà dân tộc, mà Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh phải hứng chịu, phải vượt qua đâu chỉ dừng lại ở đó. Hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc đến gần ngay sau đó do sự phản bội đớn hèn và dã tâm bành trướng, bá quyền của láng giềng“Chưa trọn vui sau ngày toàn thắng/Kẻ thù phía Tây Nam lửa biên ải đau thương/Những Lò Gò, Xóm Giữa, Tân Biên/Những Ba Chúc, Tịnh Biên, Hồng Ngự…” và “Tiếng súng đã vang…”/Ngày mười bảy tháng hai năm ấy/Một dải biên cương máu đỏ Kỳ Cùng…”. Chiến tranh với kẻ thù xâm lược lắng xuống, nhưng đất nước nói chung, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng lại phải đương đầu với giặc nội xâm. Đó là “Gió và sóng lừng Thủ Thiêm” (Chương IV).

Từ vùng đất anh hùng “Thủ Thiêm như mũi tàu rẽ sóng/Căn cứ xưa, nơi xuất phát bao trận đánh/Khách sạn Ca Ra Ven, toà Đại sứ, Đài Phát thanh…/Những chiến sĩ biệt động Thành: Chín Nghĩa, Tư Tăng…/Những Nguyễn Văn Thương, Thu Trang, Đoàn Ánh Tuyết…/Từ Thủ Thiêm, bất thần xuất kích/Nổ tung căn cứ quân thù…”. Vậy mà khi đi vào cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập, vùng đất ấy cũng bị những “viên đạn bọc đường”, những mũi dao từ bóng tối xuyên vào cơ thể “Gió tạo sóng lừng dưới đáy sông/Sóng không ai nhìn thấy, hư không/Mà lật tàu như bàn tay trở/Dự án Thủ Thiêm như món nợ/Ước mơ xanh hoá hệ luỵ trầm kha…”. Nhưng, như hàng ngàn, hàng trăm năm đã đi qua, đất nước này, Thành phố này luôn vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió “Gió từ bến Nhà Rồng/Kể chuyện những thăng trầm/Con đường đi lên đâu chỉ là thảm đỏ/Mà chông gai, thách thức khó lường/Gió nổi lên từ bến cảng Nhà Rồng/Cho hạm tàu Thành phố/Vì cả nước, cùng cả nước…cánh buồm no gió/Ra khơi, đầy ắp những niềm vui”.

Đọc “Lời của gió”, ta nghe tiếng dịu dàng, lắng sâu, cả tiếng ầm ào, cháy bỏng của “con sóng dưới lòng sâu/con sóng trên mặt nước” (Thơ Xuân Quỳnh). Hình tượng thơ thật đẹp, đôi khi dữ dội, nhưng đằng sau câu chữ, hình ảnh, hình tượng ấy là tấm lòng thao thiết, đau đáu yêu thương của nhà thơ; trách nhiệm của một công dân gương mẫu, nhiều trăn trở, nhiều trắc ẩn. Với trường ca này, Trần Thế Tuyển đã có một món quà thật ý nghĩa dâng đất nước, cho thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu nhân kỷ niệm tròn 50 năm đất nước hòa bình, thống nhất, đổi mới, phát triển; Thành phố Hồ Chí Minh như con tàu vượt thác ghềnh, đón ngọn gió đổi mới thuận nhân, thuận thiên để ra khơi “Gió từ bến cảng Nhà Rồng thổi bùng lên/Thành phố mang tên Người/Năm mươi năm ngời sáng”./. 

 

Hà Nội, 6-2024

      N.T.K 

————

(*) PGS TS, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam - Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương 

 

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm