TIN TỨC

Một số thành tựu mới của Văn học thiếu nhi Việt Nam ngày nay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-05-31 18:55:37
mail facebook google pos stwis
1992 lượt xem

NGUYÊN AN

Sang vài chục năm đầu của thế kỉ XXI này, bên cạnh sự sôi động (có người cho là phức tạp) của công cuộc mưu sinh nhằm đổi mới và phát triển những thành quả tốt đẹp hơn từ mỗi gia đình đến toàn xã hội, quả thực, đang có một hiện tượng đáng mừng nữa là: không chỉ các nhà chỉ đạo – quản lý, các nhà sáng tác… mà một số đông công chúng đang có nhu cầu đọc sách, rồi tìm hiểu về các thành quả của văn chương – văn học – văn hóa xung quanh mình nhiều hơn.

Và mọi người dân nhận ra: khi con trẻ tìm đọc say mê các sáng tác thơ văn… thì đời sống tâm hồn và một số ứng xử hàng ngày của các cháu dường như có tươi vui và khôn ngoan hơn.

Các nhà nghiên cứu có lý do để nói rằng: văn học thiếu nhi Việt Nam ta đã có thành tựu mới rất đáng khích lệ và biểu dương.

Ngược dòng lịch sử một chút, người quan sát có thể phân tích thêm mà ghi nhận là:

Trong quá trình sinh thành và phát triển hàng trăm năm qua, văn học thiếu nhi Việt Nam (VHTNVN) đã từng là công cụ hữu hiệu để các bậc ông bà, cha mẹ… truyền dạy cho con trẻ bao nhiêu điều về lẽ sống. Ở những năm xa xưa ấy, VHTNVN chủ yếu, là các áng thơ ca dân gian, các truyện cổ truyền miệng do người lớn sáng tạo ra.

Hơn một thế kỉ gần đây VHTNVN đã có nhiều yếu tố khác trước.

I/ Chúng ta có thể lược thuật ra ở đây một số yếu tố khác trước, hay là một số ngọn nguồn chính đã tạo ra diện mạo và chất lượng VHTNVN khoảng 80 năm gần đây là:

1. Giáo dục nhà trường và trong gia đình, ngoài xã hội đã có sự đổi mới, phát triển theo hướng thực dụng, thực hành rất rõ. Trong xu hướng chiến lược – chiến thuật này, số trẻ em đã biết đọc và biết viết ngày càng đông đảo hơn, ngay ở tuổi mẫu giáo – nhi đồng. Hàng vạn rồi hàng triệu con trẻ Việt Nam ở các vùng miền đã và đang có nhu cầu đọc rồi chép truyện, đọc và chép thơ, trong sách giáo khoa và các sách báo khác.

2. Nhà nước đã tạo ra một cơ chế xuất bản và truyền bá sách văn học cho trẻ em: lập ra các nhà xuất bản như NXB Kim Đồng, NXB Trẻ…. Các báo chí của Đoàn và Đội thường xuyên có trang VHTN; ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, nhiều thơ văn cho thiếu nhi đã được in ra, chuyển đến các em khá kịp thời qua hệ thống thư viện và các hiệu sách.

3. Các đoàn thể như Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam… đã phối hợp tổ chức các cuộc vận động, các cuộc thi sáng tác văn học thiếu nhi, trao giải thưởng cho các tác phẩm được bạn trẻ yêu thích.

4. Các nhà văn nhà thơ giờ đây đã viết cho trẻ em nhiều hơn, chuyên nghiệp hóa hơn. Nhiều người có khát vọng gieo mầm nhân ái, giáo dưỡng lý tưởng sống cao đẹp cho con người Việt Nam đương đại bằng việc sáng tác thơ văn cho các cháu các em… thật rõ ràng, cụ thể và khéo léo.

Có thể nói: Đây là 4 yếu tố, 4 vấn đề rất khác trước trực tiếp tạo ra sự phát triển lành mạnh cho VHTNVN mấy chục năm gần đây.

II. Ra đời từ bối cảnh xã hội như thế, VHTNVN mấy chục năm gần đây đã đạt được một số thành tự mới rất đáng ghi nhận, biểu dương

Thành tự thứ nhất – đã xuất hiện một đội ngũ tác giả VHTNVN khá đông đảo.

1/ Đội ngũ này nhiều thế hệ, độ tuổi. Trong đó có:

a/ Những nhà văn nhà thơ từng viết các tập thơ tình yêu trai gái, yêu quê hương đất nước hấp dẫn từ trước năm 1945, vài chục năm sau họ lại viết tiếp, góp cho văn thi đàn thiếu nhi các tập mới hay, như Huy Cận: Hai bàn tay em, Phù Đổng Thiên Vương…, Tô Hoài: Miền Tây, Đảo hoang…

Kế tiếp họ, là những tác giả mới như Phùng Quán (Tuổi thơ dữ dội), Xuân Sách (Đội thiếu niên du kích Đỉnh Bảng), Vũ Cao (Em bé bên bờ sông Lai Vu), Lê Khắc Hoan (Mái trường thân yêu)…

Và đặc biệt là những nhà văn như Đoàn Giỏi với Đất rừng phương Nam, Cuộc truy tìm kho vũ khí, Võ Quảng viết các tập thơ văn như Gà mái hoa, Thấy cái hoa nở, Anh Đom ĐómQuê nội, Tảng sáng… Định Hải làm tươi trẻ thơ bằng các tập như Chồng nụ chồng hoa, Em hát-đu quay, còn Phong Thu thì có các tập thật dí dỏm như Điểm 10, Xe lu và xe ca…

b/ Từ cuối những năm 1960 trở đi, có một loại tác giả VHTNVN hoàn toàn mới mẻ xuất hiện. Sự non tơ mà sớm chững chạc của lớp thiếu nhi cầm bút làm thơ và viết truyện này đã làm dậy sóng thi đàn suốt vài chục năm tiếp theo. Thoạt đầu là Trần Đăng Khoa được nhanh chóng tôn vình là thần đồng bởi một loại bài thơ rồi được tuyển vào các tập thơ cho nhiều lứa bạn đọc cùng xem như Góc sân nhà em và khoảng trời, Khúc hát người anh hùng… mà có người cho rằng “hầu như bài nào cũng hay…”. Cùng với Trần Đăng Khoa là những tác giả trẻ trung khác, họ là: Lê Phương Liên, Khánh Chi, Đặng Hấn, Nguyễn Hoàng Sơn, Trần Quốc Toàn, Cao Xuân Sơn, Phùng Ngọc Hùng, Nguyễn Thành Phong, Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Trác, Phong Điệp…

Rồi gần đây hơn nữa là những Nguyễn Nhật Ánh, Hoàng Dạ Thi, Nguyễn Ngọc Thuần, Lê Quang Đôn, Vĩnh Thông, Nông Ích Khiêm…

Thật không thể nào kể hết những tên tuổi đáng quý này. Mỗi người một vẻ, một ngân vang riêng, tất cả, đều khiến cho các nhà nghiên cứu VHTNVN và đông đảo công chúng nhiều năm nay tin mến và hi vọng.

2/ Có chuyện, có vấn đề thú vị nữa là:

a/ Khi phân tích sự có mặt của đội ngũ tác giả VHTNVN hàng trăm người này, ta thấy có xu hướng chuyên nghiệp hóa ngày càng rõ.

Ngay từ buổi đầu lập nghiệp đã chuyên chú với VHTNVN như Trần Quốc Toàn, Nguyễn Hoàng Sơn, Nguyễn Nhật Ánh, Bảo Ngọc…

Từng viết cho mọi bạn đọc, mọi đề tài, nhưng cùng với thời gian và sự chiêm nghiệm thì tập trung viết nhiều cho thiếu nhi hơn như Phạm Đình Ân, Đỗ Toàn Diện, Lê Tuấn Lộc…

Với Nguyễn Quang Thiều chẳng hạn, lại như một chiếu riêng. Ông sáng tác cho thiếu nhi chưa thật nhiều, nhưng các trang thơ văn của ông lại đang tạo ra một ấn tượng đặc sắc.

b/ So với đội ngũ tác giả văn học Việt Nam đương đại nói chung, có thể ví như một tập đoàn quân, thì các tác giả VHTNVN dường như chỉ là một quân khu, một sự đoàn thì phải ? Bé nhỏ và ít ỏi hơn là tự nhiên thôi. Song lực lượng này đang đóng một vai trò hết sức trọng yếu là trực tiếp bồi dưỡng - đào tạo cho nguồn nhân lực sáng tác văn chương của cả nước. Lứa trước dìu dắt lứa sau trong các cuộc vận động – các trại sáng tác, và trên các trang bản thảo… họ đã góp phần tạo nên bản sắc mới cho cả dòng VHTNVN ta.

Thành tựu thứ hai – Đề tài sáng tác của VHTNVN ngày càng mở rộng. Sự mở rộng theo hướng phong phú hóa về nội dung đã đi cùng với sự đa dạng hóa của phong cách nghệ thuật ở mỗi tác giả.

1/ Thoạt đầu thơ thiếu nhi hay viết về sinh hoạt và cuộc sống hàng ngày của trẻ em như Trần Đăng Khoa… Hoàng Minh Chính thì viết:

Hôm qua em đến trường

Mẹ dắt tay từng bước

Hôm nay mẹ lên nương

Một mình em đến lớp…

 

Đường xa em đi về

Có chim reo trong lá

Có nước chảy dưới khe

Thì thào như tiếng mẹ.

Trường của em be bé

Nằm lặng giữa rừng cây

Cô giáo em tre trẻ

Dạy em hát rất hay.

 

Mũ rơm thơm em đội

Hương cốm chan hương rừng

Mỗi lần em tới lớp

Hương theo em đến trường.

(Đi học)

Hoàng Tá có bài Cái sân chơi biết đi:

Chiều về cho kênh nước xanh

Lưng bê mát rượi bồng bênh gió hè

Anh em sáo sậu liệng về

Nhảy tung tăng khắp lưng bê hiền lành

Sáo em: “Hí hí… Kìa anh!

Cái sân chơi của chúng mình biết đi.”

b/ Nhưng rồi chiến tranh nổ ra, rồi cuộc sống cũng có nhiều khó khăn hơn, những câu chuyện thường ngày của con trẻ cũng có khác. VHTNVN kể, vẫn hồn nhiên, mà trong tình thương mến đã có vẻ âu lo.

Cô về với bản lần đâu

Cầu treo nhún nhảy qua cầu chưa quen

Cô ơi nắm lấy tay em

Suối sâu mặc suối, cầu bền chẳng sao.

Cô lên dạy học vùng cao

Cầu ơi cầu chớ nghiêng chao quá chừng

Nếu như cầu tỏ nỗi mừng

Bàn chân cô bước cầu đừng rung lên

Hình như cầu hiểu lời em

Trắng tinh mây núi lặng yên che đầu

Sang bờ, nhìn lại suối sâu

Cô cười: May được qua cầu cùng em!

(Qua cầu - Vương Trọng)

Ấy là câu chuyện ở vùng cao. Còn đây là thơ thiếu nhi viết về một ước ao của trẻ em ở thành thị

Em không muốn cô bán kem

Dáng tất tả mồ hôi đầm lưng áo

Thùng kem to hơn cô rất nhiều

Em chỉ muốn cô là cô giáo

 

Nếu được tiên ông cho một điều ước

Em chỉ ước cô là cô giáo

Để không có những chiều giông bão

Cô thẫn thờ thùng kem ế đầy nguyên!

 

Em không muốn thấy cô bán kem

Em chỉ muốn cô là cô giáo.

(Em không muốn. Kim Hương Giang)

c/ Có một nhóm tác giả viết cho thiếu nhi mà ít hướng tới sự vui cười hả hê rộn rã trong đời, mà hay đánh thức lương tâm và trách nhiệm ở trẻ em. Nguyễn Quang Thiều là một người như thế. Ông kể:

Con chim sẻ nhỏ chết rồi

Chết trong đêm cơn bão về gần sáng

Đêm ấy tôi năm trong chăn

 nghe cánh chim đập cửa

Sự ấm áp trong chăn giữ chặt tôi

Và tôi ngủ ngon lành đến lúc bão vơi

 

Chiếc tổ cũ trong ống tre đầu nhà chiều gió hú

Không còn nghe tiếng cánh chim về

Và tiếng hót mỗi sớm mai trong vắt

Nó chết trước cửa nhà tôi lạnh ngắt

Một con mèo hàng xóm lại tha đi

Nó để lại trong tổ những quả trứng

Những con chim non mãi mãi chẳng ra đời

Đêm đêm tôi chợp mắt

Cánh cửa lại rung lên tiếng đập cánh

Những quả trứng lại lăn vào giấc ngủ

Tiếng lăn như đá lở trên ngàn.

(Tiếng vọng)

Nhân đây, tôi muốn nhắc đến một bài nữa của Cao Xuân Sơn viết cho con gái Bảo Trân, tưởng chỉ là chuyện cha - con trong nhà, đầy tin yêu… mà cũng là bài học đường đời, ông dặn:

Nhà mình nhiều cơn túng bấn

mà chưa đói sách bao giờ

bố muốn bận gì thì bận

con đừng thấy sách ngó lơ

 

…Không cứ ăn xôi mới sống

đừng thèm cố đấm con ơi

giúp được ai, chớ để bụng

được ai giúp, hãy nhớ đời…

 

Xưa nay trăm tài nghìn sắc

không ngoài hai chữ thiện lương

cứ thế mà đi con gái

cả khi mình một con đường.

(Nói với con)

Có vẻ như rất cổ xưa, làm thơ cho con cháu là để nhắc nhở, để hướng thiện cho trẻ. Bài thơ của Cao Xuân Sơn rất thời sự mà cũng đầy chất thế sự nhân gian.

*

Văn thơ của/cho/về thiếu nhi quả là một lĩnh vực riêng về nội dung tư tưởng và phong cách sáng tạo.

Lĩnh vực sáng tạo và nghiên cứu này có một ít đặc thù, nó đòi hỏi người tham gia phải có tấm lòng yêu thương quý trọng, có ý hướng sâu xa mà được phô ra một cách bình dị tinh tế ý nhị... hơn, ấy là chưa kể đến sự tích lũy “vốn liếng trẻ thơ” cho dày dặn đủ dùng, thì mới theo được, mới có thành quả lâu dài được.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm