TIN TỨC

Những câu chuyện hấp dẫn và cảm động

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-08 22:52:07
mail facebook google pos stwis
495 lượt xem

 

Nguyễn Xuân Sang

Giữa tháng 6 năm 2025 nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan cho ra mắt tập Bút ký mang tựa đề:“Một thời đã qua” do NXB Thuận Hóa ấn hành, dày 224 trang, khổ 14,5 x 20cm. Với vốn sống từng trải, đảm nhiệm nhiều trọng trách chuyên môn khác nhau, có dịp đến nhiều vùng miền, bắt gặp những câu chuyện thú vị, người nghệ sỹ đa tài ấy lặng lẽ chép vào sổ tay, nay mới có dịp viết xong 20 câu chuyện về “người thật, việc thật” đầy hấp dẫn và cảm động. Đó là nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị.

 

Bìa sách “Một thời đã qua” của Nhà báo Hồ Thanh Thoan

 

Họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo Hồ Thanh Thoan sinh ngày 03-3-1957 tại xã An Lạc, TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Huế năm 1979. Anh là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, hội viên Hội VHNT Quảng Trị. Tháng 5 năm 2019 anh cho ra mắt cuốn sách tranh mỹ thuật: “Sắc màu quê hương” với 80 bức tranh, khắc họa chân dung những người lao động ở một số ngành nghề trên khắp mọi vùng miền đất nước. Bên cạnh đó, họa sĩ tôn vinh hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ ngày đêm cầm chắc tay súng bảo vệ lãnh hải, biên cương thiêng liêng của Tổ quốc. Tháng 5 năm 2021 anh cho ra mắt tiếp tập sách khảo cứu:“Một số lễ hội, làng nghề và trò chơi dân gian ở Quảng Trị”. Sách dày 213 trang, gồm 18 bài, mỗi bài có hình ảnh minh họa; chia làm 3 phần: Lễ hội, Làng nghề, Trò chơi dân gian riêng có ở Quảng Trị, không lẫn với địa phương nào trên dải đất hình chữ S thân yêu. Tháng 02 năm 2022, anh cùng con trai là Hồ Thanh Thọ xuất bản tập sách ảnh Nghệ thuật “Bản sắc vùng cao” gói gọn trong 120 trang màu nền nã về đề tài miền núi tỉnh nhà. Đến tháng 8 năm 2023, anh lại tiếp tục cho ra đời tập sách “Cầu nối nghệ thuật và không gian Mỹ thuật Quảng Trị”, dày 232 trang, viết về lĩnh vực Nghệ thuật tạo hình ở Quảng Trị.

Hôm nay, tác giả gom lại 20 câu chuyện mà anh là người trong cuộc hay được chứng kiến “mắt thấy, tai nghe” in thành sách, có ảnh minh họa do anh bấm máy để chia sẻ cùng bạn đọc gần xa những kỷ niệm không thể nào quên của Một thời đã qua”. Bài “Để lại trong ký ức” tác giả kể lại câu chuyện thân tình khi Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên được phép đến thăm nhà đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhân dịp Đoàn ra biểu diễn phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, diễn ra từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982 tại Thủ đô Hà Nội. Một sự kiện đặc biệt nữa dành cho Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên: “Đêm 26.3.1982. Đoàn vinh dự được biểu diễn phục vụ Bộ Chính trị trước lúc khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc tại Hội trường Ba Đình. Đồng chí Lê Duẩn đến Hội trường sớm hơn các đại biểu khác để động viên và thăm hỏi Đoàn, bởi vì con em quê nhà Quảng Trị ra thủ đô làm nhiệm vụ cao cả. Sau buổi diễn, Đoàn đã được đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị chúc mừng và động viên khen ngợi”. Trong bài “Chuyện trùng hợp ngẫu nhiên”, khi chiếu bộ phim “Mùi cỏ cháy”, kịch bản Hoàng Nhuận Cầm, đạo diễn Nguyễn Hữu Mười do Hãng Phim truyện Việt Nam sản xuất. Trong phim có những tình tiết giống hệt câu chuyện xảy ra năm 2009 tại nhà bà Mai Thị Nuôi ở Thành Cổ Quảng Trị. Một đêm nọ bà Nuôi mơ thấy anh bộ đội Nguyễn Văn Long quê Hà Tĩnh về báo mộng “Tôi đã hy sinh trong vườn nhà chị, khoảng ba ngày tới tôi sẽ trở lại hướng dẫn cụ thể địa điểm để chị lấy xác tôi lên cùng 8 đồng đội ở bên cạnh, xong nhờ chị báo với chính quyền địa phương đưa vào Nghĩa trang thị xã, riêng tôi vẫn muốn ở lại đây một thời gian với nhiều đồng đội đang nằm trong vườn, nên chị cố gắng đắp cho tôi một phần mộ tại đó và chị nhớ khi đào tôi lên sẽ có hòn đá bên cạnh, đừng bỏ đi và hãy cất giữ lấy…” những tình tiết diễn ra tiếp theo của câu chuyện y như lời liệt sĩ Long báo mộng vậy! Phải chăng trong thế giới của những người đang sống còn có những linh hồn linh thiêng vì Tổ quốc ngã xuống cùng song hành bên ta?

Bài “Chào cờ trên đảo Trường Sa” với lối kể chuyện tự nhiên, tác giả cho ta thấy một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc được quân cùng dân bảo vệ và xây dựng. Ở nơi đó có cơ sở hạ tầng thiết yếu, như: Trung tâm y tế, trạm khí tượng thủy văn, nhà tưởng niệm Bác Hồ, nhà ở của dân; tượng đài các vị anh hùng dân tộc, anh hùng liệt sĩ. Điều đặc biệt để lại ấn tượng nhất với tác giả khi đến đảo Trường Sa và các đảo nhỏ khác: “Cứ mỗi buổi sáng vào lúc 5 giờ 30 phút, lễ thượng cờ được các chiến sĩ tiến hành ngay tại cột mốc chủ quyền, đây được coi là một trong những nhiệm vụ hết sức thiêng liêng của những người lính đảo. Ngoài ra, mỗi tháng một lần, các lực lượng trên đảo đều tổ chức lễ chào cờ vào sáng thứ hai đầu tiên. Tất cả quân và dân cùng tham gia hoạt động mang nhiều ý nghĩa này. Màu cờ đỏ giữa bao la nước biếc, trời xanh và mây trắng như được tươi thắm thêm và rực rỡ hơn, làm ai nhìn thấy đều xúc động. Lễ chào cờ trên Đảo Trường Sa luôn in sâu vào lòng của tất cả mọi người, kỷ niệm đó không thể nào quên trong mỗi chúng tôi khi được đến một vùng đất thiêng liêng. Bi vì cũng lá cờ Tổ quốc đỏ tươi, cũng bài hát quốc ca đã nằm lòng từ thuở đi học nhưng lúc này giữa biển trời Trường Sa, trong tim mọi người ai nấy đều bỗng nhiên nghẹn ngào, một nổi trào dâng đầy cảm xúc khó tả, nhiều người trong đoàn rơi nước mắt, nhất là các chị em phụ nữ, họ bật khóc thành tiếng. Là công dân của đất liền khi được ra với biển đảo mà  được dự lễ chào cờ thì chúng tôi nghĩ rằng: Tất cả dân tộc Việt Nam ở bất cứ nơi đâu đều luôn hướng về biển đảo thân yêu của Tổ quốc và ngược lại, các chiến sĩ Trường Sa lúc nào cũng hướng về đất liền thân yêu mà vũng chắc tay súng”.

 

Nghệ sĩ, Nhà báo Hồ Thanh Thoan (bên trái) và Tác giả.

 

Trong bài “Trận Bạch Đằng trên sông Hiếu” tác giả ôn lại trận đánh trên sông Hiếu của 57 năm về trước. Quân đội Mỹ dùng đường sông vận tải vũ khí từ Cửa Việt đến căn cứ quân sự Đông Hà, cung cấp cho chiến trường Đường 9 - Khe Sanh. Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị phổ biến tới nhân dân các thôn Thượng Nghĩa, Đại Độ và Đông Lai (thuộc xã Cam Giang) vót nhọn gốc tre tập kết tại Đập Đại Độ I. Nhân dân xã Gio Hà (nay là Gio Mai và Gio Quang) được giao nhiệm vụ chặt cây dương liễu cũng vót nhọn dưới gốc. Sau mấy ngày huy động gấp rút có hơn 4.000 cây tre và cây dương liễu dài trên 4m được bí mật đưa đến địa điểm đã định. Bên cạnh đó, còn gom được 300kg dây kẽm gai để cột giằng với tre và dương liễu tạo nên chướng ngại vật nguy hiểm dưới lòng sông, nhằm làm hỏng chân vịt tàu chiến  Mỹ: “Nắm bắt được quy luật thủy triều lên xuống ở sông Hiếu, lúc 21 giờ đêm 28 tháng 02 năm 1968. Các lực lượng gồm: Biệt động thị trấn Đông Hà; du kích xã Cam Giang và Gio Hà (nay là Gio Mai và Gio Quang), bộ đội địa phương Cam Lộ, Trung đoàn 270, bộ đội Đoàn đặc công 126Hải Quân Việt Nam và ngư dân vạn chài ngã ba Vạn Trọng Đức và xã Cam Giang thực hiện. Tổ chức huy động được 18 chiếc thuyền chở cọc tre, cọc dương liễu, các bó nè tre và dây kẽm gai bí mật tiếp cận khúc sông từ Gia Độ đến cuối làng Đông Lai để bắt đầu thực hiện việc cắm cọc. Ở khu vực này sông khá hẹp, có độ sâu từ 6 đến 15m, hai bên bờ địa hình khá thuận lợi cho việc cất giấu, bố trí lực lượng và hỏa lực. Lúc 22 giờ, khi nước đứng, công việc cắm cọc bắt đầu được tiến hành, những chỗ nước sâu, cọc tre và dương liễu ở đầu gốc buộc với các tảng đá lớn thả xuống, nơi nước cạn thì cắm trực tiếp vào đáy sông, cứ 3 cây chụm lại rồi buộc chặt trên đầu, những cây cao khỏi mặt nước thì cắt bớt, giữa các cọc được giằng dây kẽm gai và những bó nè tre tạo thành mảng bè nửa chìm nửa nổi neo giữ khỏi trôi tự do. Cùng lúc đó Đoàn 126 đặc công bố trí gài mìn và thả ngư lôi xuống hệ thống các cọc cắm. Sau hơn một tiếng đồng hồ, trận địa được bố trí thành hai bãi cọc, kéo dài khoảng 800m và rộng hàng ngàn m2. Khoảng 8 giờ sáng ngày 02 tháng 3 năm 1968, một đoàn tàu gồm 12 chiếc trong đó có tàu tuần tiễu và các tàu tiếp viện đổ bộ đa năng của Hải quân Mỹ và quân lực Việt Nam cộng hòa từ Cửa Việt lên Đông Hà, mỗi chiếc đi cách nhau khoảng 20m. Phía trên là máy bay trinh sát, trực thăng vũ trang hộ tống. Lúc tiến vào trận địa phục kích, thủy triều xuống thấp, chiếc tàu đi đầu vấp phải bãi cọc và chướng ngại vật buộc tàu Mỹ phải dồn đội hình rồi đi chậm lại, đúng lúc này thủy lôi và mình phát nổ. Những chiếc tàu còn lại định rút lui nhưng bị hỏa lực thuộc Trung đoàn 270 cùng bộ binh và du kích địa phương mai phục bên bờ sông Hiếu từ Mai Xá, Vinh Quang Hạ và Đại Độ gồm ĐKZ, B41, 12,7mm, súng cối, súng bộ binh tấn công dồn dập. Trong đoàn tàu địch có một số chiếc chở xăng dầu bị trúng đạn tràn ra mặt nước bốc cháy dữ dội. Sau hơn một giờ bị quân ta chặn đánh, 07 tàu tiếp viện Mỹ bị bắn cháy và chìm tại chỗ, 5 tàu còn lại quay đầu rút lui bị pháo binh ta từ bờ Bắc sông Bến Hải bắn làm hư hỏng nặng. Tuyến tiếp viện hậu cần bằng đường thủy từ Cửa Việt lên Đông Hà của địch bị thất bại hoàn toàn. Chiến công trên sông Hiếu góp phần rất lớn cho chiến thắng của quân giải phóng tại chiến trường Đường 9 - Khe Sanh lúc bấy giờ”.

Trong “Một thời làm báo” tác giả kể lúc nhỏ ước mơ lớn lên trở thành “ký giả”. Với niềm đam mê, anh bắt đầu tự học nghề ảnh khi đang còn ngồi trên ghế bậc phổ thông trung học. Ngày nghỉ cuối tuần anh ra hiệu ảnh thuê máy đi chụp ngoại cảnh. Một thời gian sử dụng máy thành thạo, anh đã kiếm sống bằng nghề ảnh. Nguyện vọng của anh là cầm bút và cầm máy nhưng anh lại học Trường Mỹ thuật Huế. Sau 5 năm đào tạo, anh được phân công về Đoàn Kịch nói Bình Trị Thiên làm công tác thiết kế Mỹ thuật sân khấu. Đoàn đi diễn dài ngày khắp mọi miền đất nước. Ban đêm theo Đoàn phục vụ khán giả, ban ngày anh dành thời gian tác nghiệp cả hai loại hình: Mỹ thuật và Nhiếp ảnh, cộng tác cho Tạp chí Sân khấu và Báo Dân (tỉnh Bình Trị Thiên). Khi chia tách tỉnh trở lại quê nhà, anh được giao tổ chức triển lãm thành tựu, hội chợ, trưng bày tranh, ảnh tư liệu và nghệ thuật nên anh có điều kiện tiếp xúc và thực hiện. Anh được xem như là phóng viên chuyên nghiệp Báo Quảng Trị về mảng ảnh thời sự. Kỷ niệm một năm chia tách tỉnh, lãnh đạo tỉnh có kế hoạch triển lãm ảnh tư liệu và ảnh thời sự về xây dựng quê hương trên tất cả các phương diện. Ảnh của anh được chuẩn bị từ trước nên anh tự in, phóng to để triển lãm. Năm 1991, Tạp chí Văn hóa Quảng Trị được thành lập, anh được điều động về làm họa sĩ trình bày, đồng thời là phóng viên ảnh nên chính thức trở thành Nhà báo từ đó. Nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan vui vẻ nhớ lại: “Sau hơn ba năm hoạt động, Tạp chí Văn hóa Quảng Trị nhập với Tạp chí Cửa Việt thành Tạp chí Cửa Việt bộ mới, đã duy trì và phát triển cho đến hôm nay. Một công việc rất phù hợp với tôi, đồng thời cũng do tổ chức nhìn nhận để sắp xếp. Trong gần 16 năm công tác ở hai đơn vị báo văn nghệ, có rất nhiều kỷ niệm về thể loại ảnh báo chí đã đi vào ký ức không thể nào quên, tôi nhớ mãi đến suốt đời…”. Những bài còn lại trong tập sách, mỗi bài mỗi câu chuyện sống động, như một tư liệu quý, đầy thú vị: “Dấu ấn ngày đầu thành lập”, “Làng hoa bên sông Hiếu”, “Giai thoại một thời”, “Tạp chí Cửa Việt - Dấu ấn hành trình”, “Thầy giáo biên phòng vùng cao”, “Hội ngộ đồng hương”, “Thắng cảnh miền Tây Quảng Trị”, “Người thổi hồn văn hóa dân tộc”, “Một câu chuyện huyền bí”, “Vọng thiêng du lịch hoài niệm”, “Mạch nguồn biển đảo”, “Điểm đến du lịch cộng đồng”, “Những kỷ niệm về trưng bày báo xuân”, “Hạnh phúc tuổi già”…

Tập Bút ký “Một thời đã qua” của nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan có nội dung phong phú, mỗi bài mỗi câu chuyện thú vị, cách kể chân thật, văn phong giản dị dễ hiểu, những tình tiết sống động lôi cuốn người đọc, vì sức hút của câu chuyện là “người thật, việc thật”.

Tập Bút ký “Một thời đã qua” rất đáng cho mỗi chúng ta đón nhận và thưởng thức.

N.X.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm