TIN TỨC

Những câu chuyện hấp dẫn và cảm động

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-08 22:52:07
mail facebook google pos stwis
790 lượt xem

 

Nguyễn Xuân Sang

Giữa tháng 6 năm 2025 nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan cho ra mắt tập Bút ký mang tựa đề:“Một thời đã qua” do NXB Thuận Hóa ấn hành, dày 224 trang, khổ 14,5 x 20cm. Với vốn sống từng trải, đảm nhiệm nhiều trọng trách chuyên môn khác nhau, có dịp đến nhiều vùng miền, bắt gặp những câu chuyện thú vị, người nghệ sỹ đa tài ấy lặng lẽ chép vào sổ tay, nay mới có dịp viết xong 20 câu chuyện về “người thật, việc thật” đầy hấp dẫn và cảm động. Đó là nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị.

 

Bìa sách “Một thời đã qua” của Nhà báo Hồ Thanh Thoan

 

Họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo Hồ Thanh Thoan sinh ngày 03-3-1957 tại xã An Lạc, TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Huế năm 1979. Anh là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, hội viên Hội VHNT Quảng Trị. Tháng 5 năm 2019 anh cho ra mắt cuốn sách tranh mỹ thuật: “Sắc màu quê hương” với 80 bức tranh, khắc họa chân dung những người lao động ở một số ngành nghề trên khắp mọi vùng miền đất nước. Bên cạnh đó, họa sĩ tôn vinh hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ ngày đêm cầm chắc tay súng bảo vệ lãnh hải, biên cương thiêng liêng của Tổ quốc. Tháng 5 năm 2021 anh cho ra mắt tiếp tập sách khảo cứu:“Một số lễ hội, làng nghề và trò chơi dân gian ở Quảng Trị”. Sách dày 213 trang, gồm 18 bài, mỗi bài có hình ảnh minh họa; chia làm 3 phần: Lễ hội, Làng nghề, Trò chơi dân gian riêng có ở Quảng Trị, không lẫn với địa phương nào trên dải đất hình chữ S thân yêu. Tháng 02 năm 2022, anh cùng con trai là Hồ Thanh Thọ xuất bản tập sách ảnh Nghệ thuật “Bản sắc vùng cao” gói gọn trong 120 trang màu nền nã về đề tài miền núi tỉnh nhà. Đến tháng 8 năm 2023, anh lại tiếp tục cho ra đời tập sách “Cầu nối nghệ thuật và không gian Mỹ thuật Quảng Trị”, dày 232 trang, viết về lĩnh vực Nghệ thuật tạo hình ở Quảng Trị.

Hôm nay, tác giả gom lại 20 câu chuyện mà anh là người trong cuộc hay được chứng kiến “mắt thấy, tai nghe” in thành sách, có ảnh minh họa do anh bấm máy để chia sẻ cùng bạn đọc gần xa những kỷ niệm không thể nào quên của “Một thời đã qua”. Bài “Để lại trong ký ức” tác giả kể lại câu chuyện thân tình khi Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên được phép đến thăm nhà đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhân dịp Đoàn ra biểu diễn phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, diễn ra từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982 tại Thủ đô Hà Nội. Một sự kiện đặc biệt nữa dành cho Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên: “Đêm 26.3.1982. Đoàn vinh dự được biểu diễn phục vụ Bộ Chính trị trước lúc khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc tại Hội trường Ba Đình. Đồng chí Lê Duẩn đến Hội trường sớm hơn các đại biểu khác để động viên và thăm hỏi Đoàn, bởi vì con em quê nhà Quảng Trị ra thủ đô làm nhiệm vụ cao cả. Sau buổi diễn, Đoàn đã được đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị chúc mừng và động viên khen ngợi”. Trong bài “Chuyện trùng hợp ngẫu nhiên”, khi chiếu bộ phim “Mùi cỏ cháy”, kịch bản Hoàng Nhuận Cầm, đạo diễn Nguyễn Hữu Mười do Hãng Phim truyện Việt Nam sản xuất. Trong phim có những tình tiết giống hệt câu chuyện xảy ra năm 2009 tại nhà bà Mai Thị Nuôi ở Thành Cổ Quảng Trị. Một đêm nọ bà Nuôi mơ thấy anh bộ đội Nguyễn Văn Long quê Hà Tĩnh về báo mộng “Tôi đã hy sinh trong vườn nhà chị, khoảng ba ngày tới tôi sẽ trở lại hướng dẫn cụ thể địa điểm để chị lấy xác tôi lên cùng 8 đồng đội ở bên cạnh, xong nhờ chị báo với chính quyền địa phương đưa vào Nghĩa trang thị xã, riêng tôi vẫn muốn ở lại đây một thời gian với nhiều đồng đội đang nằm trong vườn, nên chị cố gắng đắp cho tôi một phần mộ tại đó và chị nhớ khi đào tôi lên sẽ có hòn đá bên cạnh, đừng bỏ đi và hãy cất giữ lấy…” những tình tiết diễn ra tiếp theo của câu chuyện y như lời liệt sĩ Long báo mộng vậy! Phải chăng trong thế giới của những người đang sống còn có những linh hồn linh thiêng vì Tổ quốc ngã xuống cùng song hành bên ta?

Bài “Chào cờ trên đảo Trường Sa” với lối kể chuyện tự nhiên, tác giả cho ta thấy một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc được quân cùng dân bảo vệ và xây dựng. Ở nơi đó có cơ sở hạ tầng thiết yếu, như: Trung tâm y tế, trạm khí tượng thủy văn, nhà tưởng niệm Bác Hồ, nhà ở của dân; tượng đài các vị anh hùng dân tộc, anh hùng liệt sĩ. Điều đặc biệt để lại ấn tượng nhất với tác giả khi đến đảo Trường Sa và các đảo nhỏ khác: “Cứ mỗi buổi sáng vào lúc 5 giờ 30 phút, lễ thượng cờ được các chiến sĩ tiến hành ngay tại cột mốc chủ quyền, đây được coi là một trong những nhiệm vụ hết sức thiêng liêng của những người lính đảo. Ngoài ra, mỗi tháng một lần, các lực lượng trên đảo đều tổ chức lễ chào cờ vào sáng thứ hai đầu tiên. Tất cả quân và dân cùng tham gia hoạt động mang nhiều ý nghĩa này. Màu cờ đỏ giữa bao la nước biếc, trời xanh và mây trắng như được tươi thắm thêm và rực rỡ hơn, làm ai nhìn thấy đều xúc động. Lễ chào cờ trên Đảo Trường Sa luôn in sâu vào lòng của tất cả mọi người, kỷ niệm đó không thể nào quên trong mỗi chúng tôi khi được đến một vùng đất thiêng liêng. Bởi vì cũng lá cờ Tổ quốc đỏ tươi, cũng bài hát quốc ca đã nằm lòng từ thuở đi học nhưng lúc này giữa biển trời Trường Sa, trong tim mọi người ai nấy đều bỗng nhiên nghẹn ngào, một nổi trào dâng đầy cảm xúc khó tả, nhiều người trong đoàn rơi nước mắt, nhất là các chị em phụ nữ, họ bật khóc thành tiếng. Là công dân của đất liền khi được ra với biển đảo mà  được dự lễ chào cờ thì chúng tôi nghĩ rằng: Tất cả dân tộc Việt Nam ở bất cứ nơi đâu đều luôn hướng về biển đảo thân yêu của Tổ quốc và ngược lại, các chiến sĩ Trường Sa lúc nào cũng hướng về đất liền thân yêu mà vũng chắc tay súng”.

 

Nghệ sĩ, Nhà báo Hồ Thanh Thoan (bên trái) và Tác giả.

 

Trong bài “Trận Bạch Đằng trên sông Hiếu” tác giả ôn lại trận đánh trên sông Hiếu của 57 năm về trước. Quân đội Mỹ dùng đường sông vận tải vũ khí từ Cửa Việt đến căn cứ quân sự Đông Hà, cung cấp cho chiến trường Đường 9 - Khe Sanh. Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị phổ biến tới nhân dân các thôn Thượng Nghĩa, Đại Độ và Đông Lai (thuộc xã Cam Giang) vót nhọn gốc tre tập kết tại Đập Đại Độ I. Nhân dân xã Gio Hà (nay là Gio Mai và Gio Quang) được giao nhiệm vụ chặt cây dương liễu cũng vót nhọn dưới gốc. Sau mấy ngày huy động gấp rút có hơn 4.000 cây tre và cây dương liễu dài trên 4m được bí mật đưa đến địa điểm đã định. Bên cạnh đó, còn gom được 300kg dây kẽm gai để cột giằng với tre và dương liễu tạo nên chướng ngại vật nguy hiểm dưới lòng sông, nhằm làm hỏng chân vịt tàu chiến  Mỹ: “Nắm bắt được quy luật thủy triều lên xuống ở sông Hiếu, lúc 21 giờ đêm 28 tháng 02 năm 1968. Các lực lượng gồm: Biệt động thị trấn Đông Hà; du kích xã Cam Giang và Gio Hà (nay là Gio Mai và Gio Quang), bộ đội địa phương Cam Lộ, Trung đoàn 270, bộ đội Đoàn đặc công 126, Hải Quân Việt Nam và ngư dân vạn chài ngã ba Vạn Trọng Đức và xã Cam Giang thực hiện. Tổ chức huy động được 18 chiếc thuyền chở cọc tre, cọc dương liễu, các bó nè tre và dây kẽm gai bí mật tiếp cận khúc sông từ Gia Độ đến cuối làng Đông Lai để bắt đầu thực hiện việc cắm cọc. Ở khu vực này sông khá hẹp, có độ sâu từ 6 đến 15m, hai bên bờ địa hình khá thuận lợi cho việc cất giấu, bố trí lực lượng và hỏa lực. Lúc 22 giờ, khi nước đứng, công việc cắm cọc bắt đầu được tiến hành, những chỗ nước sâu, cọc tre và dương liễu ở đầu gốc buộc với các tảng đá lớn thả xuống, nơi nước cạn thì cắm trực tiếp vào đáy sông, cứ 3 cây chụm lại rồi buộc chặt trên đầu, những cây cao khỏi mặt nước thì cắt bớt, giữa các cọc được giằng dây kẽm gai và những bó nè tre tạo thành mảng bè nửa chìm nửa nổi neo giữ khỏi trôi tự do. Cùng lúc đó Đoàn 126 đặc công bố trí gài mìn và thả ngư lôi xuống hệ thống các cọc cắm. Sau hơn một tiếng đồng hồ, trận địa được bố trí thành hai bãi cọc, kéo dài khoảng 800m và rộng hàng ngàn m2. Khoảng 8 giờ sáng ngày 02 tháng 3 năm 1968, một đoàn tàu gồm 12 chiếc trong đó có tàu tuần tiễu và các tàu tiếp viện đổ bộ đa năng của Hải quân Mỹ và quân lực Việt Nam cộng hòa từ Cửa Việt lên Đông Hà, mỗi chiếc đi cách nhau khoảng 20m. Phía trên là máy bay trinh sát, trực thăng vũ trang hộ tống. Lúc tiến vào trận địa phục kích, thủy triều xuống thấp, chiếc tàu đi đầu vấp phải bãi cọc và chướng ngại vật buộc tàu Mỹ phải dồn đội hình rồi đi chậm lại, đúng lúc này thủy lôi và mình phát nổ. Những chiếc tàu còn lại định rút lui nhưng bị hỏa lực thuộc Trung đoàn 270 cùng bộ binh và du kích địa phương mai phục bên bờ sông Hiếu từ Mai Xá, Vinh Quang Hạ và Đại Độ gồm ĐKZ, B41, 12,7mm, súng cối, súng bộ binh tấn công dồn dập. Trong đoàn tàu địch có một số chiếc chở xăng dầu bị trúng đạn tràn ra mặt nước bốc cháy dữ dội. Sau hơn một giờ bị quân ta chặn đánh, 07 tàu tiếp viện Mỹ bị bắn cháy và chìm tại chỗ, 5 tàu còn lại quay đầu rút lui bị pháo binh ta từ bờ Bắc sông Bến Hải bắn làm hư hỏng nặng. Tuyến tiếp viện hậu cần bằng đường thủy từ Cửa Việt lên Đông Hà của địch bị thất bại hoàn toàn. Chiến công trên sông Hiếu góp phần rất lớn cho chiến thắng của quân giải phóng tại chiến trường Đường 9 - Khe Sanh lúc bấy giờ”.

Trong “Một thời làm báo” tác giả kể lúc nhỏ ước mơ lớn lên trở thành “ký giả”. Với niềm đam mê, anh bắt đầu tự học nghề ảnh khi đang còn ngồi trên ghế bậc phổ thông trung học. Ngày nghỉ cuối tuần anh ra hiệu ảnh thuê máy đi chụp ngoại cảnh. Một thời gian sử dụng máy thành thạo, anh đã kiếm sống bằng nghề ảnh. Nguyện vọng của anh là cầm bút và cầm máy nhưng anh lại học Trường Mỹ thuật Huế. Sau 5 năm đào tạo, anh được phân công về Đoàn Kịch nói Bình Trị Thiên làm công tác thiết kế Mỹ thuật sân khấu. Đoàn đi diễn dài ngày khắp mọi miền đất nước. Ban đêm theo Đoàn phục vụ khán giả, ban ngày anh dành thời gian tác nghiệp cả hai loại hình: Mỹ thuật và Nhiếp ảnh, cộng tác cho Tạp chí Sân khấu và Báo Dân (tỉnh Bình Trị Thiên). Khi chia tách tỉnh trở lại quê nhà, anh được giao tổ chức triển lãm thành tựu, hội chợ, trưng bày tranh, ảnh tư liệu và nghệ thuật nên anh có điều kiện tiếp xúc và thực hiện. Anh được xem như là phóng viên chuyên nghiệp Báo Quảng Trị về mảng ảnh thời sự. Kỷ niệm một năm chia tách tỉnh, lãnh đạo tỉnh có kế hoạch triển lãm ảnh tư liệu và ảnh thời sự về xây dựng quê hương trên tất cả các phương diện. Ảnh của anh được chuẩn bị từ trước nên anh tự in, phóng to để triển lãm. Năm 1991, Tạp chí Văn hóa Quảng Trị được thành lập, anh được điều động về làm họa sĩ trình bày, đồng thời là phóng viên ảnh nên chính thức trở thành Nhà báo từ đó. Nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan vui vẻ nhớ lại: “Sau hơn ba năm hoạt động, Tạp chí Văn hóa Quảng Trị nhập với Tạp chí Cửa Việt thành Tạp chí Cửa Việt bộ mới, đã duy trì và phát triển cho đến hôm nay. Một công việc rất phù hợp với tôi, đồng thời cũng do tổ chức nhìn nhận để sắp xếp. Trong gần 16 năm công tác ở hai đơn vị báo văn nghệ, có rất nhiều kỷ niệm về thể loại ảnh báo chí đã đi vào ký ức không thể nào quên, tôi nhớ mãi đến suốt đời…”. Những bài còn lại trong tập sách, mỗi bài mỗi câu chuyện sống động, như một tư liệu quý, đầy thú vị: “Dấu ấn ngày đầu thành lập”, “Làng hoa bên sông Hiếu”, “Giai thoại một thời”, “Tạp chí Cửa Việt - Dấu ấn hành trình”, “Thầy giáo biên phòng vùng cao”, “Hội ngộ đồng hương”, “Thắng cảnh miền Tây Quảng Trị”, “Người thổi hồn văn hóa dân tộc”, “Một câu chuyện huyền bí”, “Vọng thiêng du lịch hoài niệm”, “Mạch nguồn biển đảo”, “Điểm đến du lịch cộng đồng”, “Những kỷ niệm về trưng bày báo xuân”, “Hạnh phúc tuổi già”…

Tập Bút ký “Một thời đã qua” của nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan có nội dung phong phú, mỗi bài mỗi câu chuyện thú vị, cách kể chân thật, văn phong giản dị dễ hiểu, những tình tiết sống động lôi cuốn người đọc, vì sức hút của câu chuyện là “người thật, việc thật”.

Tập Bút ký “Một thời đã qua” rất đáng cho mỗi chúng ta đón nhận và thưởng thức.

N.X.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm