TIN TỨC

Những câu chuyện hấp dẫn và cảm động

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-08 22:52:07
mail facebook google pos stwis
400 lượt xem

 

Nguyễn Xuân Sang

Giữa tháng 6 năm 2025 nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan cho ra mắt tập Bút ký mang tựa đề:“Một thời đã qua” do NXB Thuận Hóa ấn hành, dày 224 trang, khổ 14,5 x 20cm. Với vốn sống từng trải, đảm nhiệm nhiều trọng trách chuyên môn khác nhau, có dịp đến nhiều vùng miền, bắt gặp những câu chuyện thú vị, người nghệ sỹ đa tài ấy lặng lẽ chép vào sổ tay, nay mới có dịp viết xong 20 câu chuyện về “người thật, việc thật” đầy hấp dẫn và cảm động. Đó là nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị.

 

Bìa sách “Một thời đã qua” của Nhà báo Hồ Thanh Thoan

 

Họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo Hồ Thanh Thoan sinh ngày 03-3-1957 tại xã An Lạc, TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Huế năm 1979. Anh là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, hội viên Hội VHNT Quảng Trị. Tháng 5 năm 2019 anh cho ra mắt cuốn sách tranh mỹ thuật: “Sắc màu quê hương” với 80 bức tranh, khắc họa chân dung những người lao động ở một số ngành nghề trên khắp mọi vùng miền đất nước. Bên cạnh đó, họa sĩ tôn vinh hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ ngày đêm cầm chắc tay súng bảo vệ lãnh hải, biên cương thiêng liêng của Tổ quốc. Tháng 5 năm 2021 anh cho ra mắt tiếp tập sách khảo cứu:“Một số lễ hội, làng nghề và trò chơi dân gian ở Quảng Trị”. Sách dày 213 trang, gồm 18 bài, mỗi bài có hình ảnh minh họa; chia làm 3 phần: Lễ hội, Làng nghề, Trò chơi dân gian riêng có ở Quảng Trị, không lẫn với địa phương nào trên dải đất hình chữ S thân yêu. Tháng 02 năm 2022, anh cùng con trai là Hồ Thanh Thọ xuất bản tập sách ảnh Nghệ thuật “Bản sắc vùng cao” gói gọn trong 120 trang màu nền nã về đề tài miền núi tỉnh nhà. Đến tháng 8 năm 2023, anh lại tiếp tục cho ra đời tập sách “Cầu nối nghệ thuật và không gian Mỹ thuật Quảng Trị”, dày 232 trang, viết về lĩnh vực Nghệ thuật tạo hình ở Quảng Trị.

Hôm nay, tác giả gom lại 20 câu chuyện mà anh là người trong cuộc hay được chứng kiến “mắt thấy, tai nghe” in thành sách, có ảnh minh họa do anh bấm máy để chia sẻ cùng bạn đọc gần xa những kỷ niệm không thể nào quên của Một thời đã qua”. Bài “Để lại trong ký ức” tác giả kể lại câu chuyện thân tình khi Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên được phép đến thăm nhà đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhân dịp Đoàn ra biểu diễn phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, diễn ra từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982 tại Thủ đô Hà Nội. Một sự kiện đặc biệt nữa dành cho Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên: “Đêm 26.3.1982. Đoàn vinh dự được biểu diễn phục vụ Bộ Chính trị trước lúc khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc tại Hội trường Ba Đình. Đồng chí Lê Duẩn đến Hội trường sớm hơn các đại biểu khác để động viên và thăm hỏi Đoàn, bởi vì con em quê nhà Quảng Trị ra thủ đô làm nhiệm vụ cao cả. Sau buổi diễn, Đoàn đã được đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị chúc mừng và động viên khen ngợi”. Trong bài “Chuyện trùng hợp ngẫu nhiên”, khi chiếu bộ phim “Mùi cỏ cháy”, kịch bản Hoàng Nhuận Cầm, đạo diễn Nguyễn Hữu Mười do Hãng Phim truyện Việt Nam sản xuất. Trong phim có những tình tiết giống hệt câu chuyện xảy ra năm 2009 tại nhà bà Mai Thị Nuôi ở Thành Cổ Quảng Trị. Một đêm nọ bà Nuôi mơ thấy anh bộ đội Nguyễn Văn Long quê Hà Tĩnh về báo mộng “Tôi đã hy sinh trong vườn nhà chị, khoảng ba ngày tới tôi sẽ trở lại hướng dẫn cụ thể địa điểm để chị lấy xác tôi lên cùng 8 đồng đội ở bên cạnh, xong nhờ chị báo với chính quyền địa phương đưa vào Nghĩa trang thị xã, riêng tôi vẫn muốn ở lại đây một thời gian với nhiều đồng đội đang nằm trong vườn, nên chị cố gắng đắp cho tôi một phần mộ tại đó và chị nhớ khi đào tôi lên sẽ có hòn đá bên cạnh, đừng bỏ đi và hãy cất giữ lấy…” những tình tiết diễn ra tiếp theo của câu chuyện y như lời liệt sĩ Long báo mộng vậy! Phải chăng trong thế giới của những người đang sống còn có những linh hồn linh thiêng vì Tổ quốc ngã xuống cùng song hành bên ta?

Bài “Chào cờ trên đảo Trường Sa” với lối kể chuyện tự nhiên, tác giả cho ta thấy một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc được quân cùng dân bảo vệ và xây dựng. Ở nơi đó có cơ sở hạ tầng thiết yếu, như: Trung tâm y tế, trạm khí tượng thủy văn, nhà tưởng niệm Bác Hồ, nhà ở của dân; tượng đài các vị anh hùng dân tộc, anh hùng liệt sĩ. Điều đặc biệt để lại ấn tượng nhất với tác giả khi đến đảo Trường Sa và các đảo nhỏ khác: “Cứ mỗi buổi sáng vào lúc 5 giờ 30 phút, lễ thượng cờ được các chiến sĩ tiến hành ngay tại cột mốc chủ quyền, đây được coi là một trong những nhiệm vụ hết sức thiêng liêng của những người lính đảo. Ngoài ra, mỗi tháng một lần, các lực lượng trên đảo đều tổ chức lễ chào cờ vào sáng thứ hai đầu tiên. Tất cả quân và dân cùng tham gia hoạt động mang nhiều ý nghĩa này. Màu cờ đỏ giữa bao la nước biếc, trời xanh và mây trắng như được tươi thắm thêm và rực rỡ hơn, làm ai nhìn thấy đều xúc động. Lễ chào cờ trên Đảo Trường Sa luôn in sâu vào lòng của tất cả mọi người, kỷ niệm đó không thể nào quên trong mỗi chúng tôi khi được đến một vùng đất thiêng liêng. Bi vì cũng lá cờ Tổ quốc đỏ tươi, cũng bài hát quốc ca đã nằm lòng từ thuở đi học nhưng lúc này giữa biển trời Trường Sa, trong tim mọi người ai nấy đều bỗng nhiên nghẹn ngào, một nổi trào dâng đầy cảm xúc khó tả, nhiều người trong đoàn rơi nước mắt, nhất là các chị em phụ nữ, họ bật khóc thành tiếng. Là công dân của đất liền khi được ra với biển đảo mà  được dự lễ chào cờ thì chúng tôi nghĩ rằng: Tất cả dân tộc Việt Nam ở bất cứ nơi đâu đều luôn hướng về biển đảo thân yêu của Tổ quốc và ngược lại, các chiến sĩ Trường Sa lúc nào cũng hướng về đất liền thân yêu mà vũng chắc tay súng”.

 

Nghệ sĩ, Nhà báo Hồ Thanh Thoan (bên trái) và Tác giả.

 

Trong bài “Trận Bạch Đằng trên sông Hiếu” tác giả ôn lại trận đánh trên sông Hiếu của 57 năm về trước. Quân đội Mỹ dùng đường sông vận tải vũ khí từ Cửa Việt đến căn cứ quân sự Đông Hà, cung cấp cho chiến trường Đường 9 - Khe Sanh. Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị phổ biến tới nhân dân các thôn Thượng Nghĩa, Đại Độ và Đông Lai (thuộc xã Cam Giang) vót nhọn gốc tre tập kết tại Đập Đại Độ I. Nhân dân xã Gio Hà (nay là Gio Mai và Gio Quang) được giao nhiệm vụ chặt cây dương liễu cũng vót nhọn dưới gốc. Sau mấy ngày huy động gấp rút có hơn 4.000 cây tre và cây dương liễu dài trên 4m được bí mật đưa đến địa điểm đã định. Bên cạnh đó, còn gom được 300kg dây kẽm gai để cột giằng với tre và dương liễu tạo nên chướng ngại vật nguy hiểm dưới lòng sông, nhằm làm hỏng chân vịt tàu chiến  Mỹ: “Nắm bắt được quy luật thủy triều lên xuống ở sông Hiếu, lúc 21 giờ đêm 28 tháng 02 năm 1968. Các lực lượng gồm: Biệt động thị trấn Đông Hà; du kích xã Cam Giang và Gio Hà (nay là Gio Mai và Gio Quang), bộ đội địa phương Cam Lộ, Trung đoàn 270, bộ đội Đoàn đặc công 126Hải Quân Việt Nam và ngư dân vạn chài ngã ba Vạn Trọng Đức và xã Cam Giang thực hiện. Tổ chức huy động được 18 chiếc thuyền chở cọc tre, cọc dương liễu, các bó nè tre và dây kẽm gai bí mật tiếp cận khúc sông từ Gia Độ đến cuối làng Đông Lai để bắt đầu thực hiện việc cắm cọc. Ở khu vực này sông khá hẹp, có độ sâu từ 6 đến 15m, hai bên bờ địa hình khá thuận lợi cho việc cất giấu, bố trí lực lượng và hỏa lực. Lúc 22 giờ, khi nước đứng, công việc cắm cọc bắt đầu được tiến hành, những chỗ nước sâu, cọc tre và dương liễu ở đầu gốc buộc với các tảng đá lớn thả xuống, nơi nước cạn thì cắm trực tiếp vào đáy sông, cứ 3 cây chụm lại rồi buộc chặt trên đầu, những cây cao khỏi mặt nước thì cắt bớt, giữa các cọc được giằng dây kẽm gai và những bó nè tre tạo thành mảng bè nửa chìm nửa nổi neo giữ khỏi trôi tự do. Cùng lúc đó Đoàn 126 đặc công bố trí gài mìn và thả ngư lôi xuống hệ thống các cọc cắm. Sau hơn một tiếng đồng hồ, trận địa được bố trí thành hai bãi cọc, kéo dài khoảng 800m và rộng hàng ngàn m2. Khoảng 8 giờ sáng ngày 02 tháng 3 năm 1968, một đoàn tàu gồm 12 chiếc trong đó có tàu tuần tiễu và các tàu tiếp viện đổ bộ đa năng của Hải quân Mỹ và quân lực Việt Nam cộng hòa từ Cửa Việt lên Đông Hà, mỗi chiếc đi cách nhau khoảng 20m. Phía trên là máy bay trinh sát, trực thăng vũ trang hộ tống. Lúc tiến vào trận địa phục kích, thủy triều xuống thấp, chiếc tàu đi đầu vấp phải bãi cọc và chướng ngại vật buộc tàu Mỹ phải dồn đội hình rồi đi chậm lại, đúng lúc này thủy lôi và mình phát nổ. Những chiếc tàu còn lại định rút lui nhưng bị hỏa lực thuộc Trung đoàn 270 cùng bộ binh và du kích địa phương mai phục bên bờ sông Hiếu từ Mai Xá, Vinh Quang Hạ và Đại Độ gồm ĐKZ, B41, 12,7mm, súng cối, súng bộ binh tấn công dồn dập. Trong đoàn tàu địch có một số chiếc chở xăng dầu bị trúng đạn tràn ra mặt nước bốc cháy dữ dội. Sau hơn một giờ bị quân ta chặn đánh, 07 tàu tiếp viện Mỹ bị bắn cháy và chìm tại chỗ, 5 tàu còn lại quay đầu rút lui bị pháo binh ta từ bờ Bắc sông Bến Hải bắn làm hư hỏng nặng. Tuyến tiếp viện hậu cần bằng đường thủy từ Cửa Việt lên Đông Hà của địch bị thất bại hoàn toàn. Chiến công trên sông Hiếu góp phần rất lớn cho chiến thắng của quân giải phóng tại chiến trường Đường 9 - Khe Sanh lúc bấy giờ”.

Trong “Một thời làm báo” tác giả kể lúc nhỏ ước mơ lớn lên trở thành “ký giả”. Với niềm đam mê, anh bắt đầu tự học nghề ảnh khi đang còn ngồi trên ghế bậc phổ thông trung học. Ngày nghỉ cuối tuần anh ra hiệu ảnh thuê máy đi chụp ngoại cảnh. Một thời gian sử dụng máy thành thạo, anh đã kiếm sống bằng nghề ảnh. Nguyện vọng của anh là cầm bút và cầm máy nhưng anh lại học Trường Mỹ thuật Huế. Sau 5 năm đào tạo, anh được phân công về Đoàn Kịch nói Bình Trị Thiên làm công tác thiết kế Mỹ thuật sân khấu. Đoàn đi diễn dài ngày khắp mọi miền đất nước. Ban đêm theo Đoàn phục vụ khán giả, ban ngày anh dành thời gian tác nghiệp cả hai loại hình: Mỹ thuật và Nhiếp ảnh, cộng tác cho Tạp chí Sân khấu và Báo Dân (tỉnh Bình Trị Thiên). Khi chia tách tỉnh trở lại quê nhà, anh được giao tổ chức triển lãm thành tựu, hội chợ, trưng bày tranh, ảnh tư liệu và nghệ thuật nên anh có điều kiện tiếp xúc và thực hiện. Anh được xem như là phóng viên chuyên nghiệp Báo Quảng Trị về mảng ảnh thời sự. Kỷ niệm một năm chia tách tỉnh, lãnh đạo tỉnh có kế hoạch triển lãm ảnh tư liệu và ảnh thời sự về xây dựng quê hương trên tất cả các phương diện. Ảnh của anh được chuẩn bị từ trước nên anh tự in, phóng to để triển lãm. Năm 1991, Tạp chí Văn hóa Quảng Trị được thành lập, anh được điều động về làm họa sĩ trình bày, đồng thời là phóng viên ảnh nên chính thức trở thành Nhà báo từ đó. Nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan vui vẻ nhớ lại: “Sau hơn ba năm hoạt động, Tạp chí Văn hóa Quảng Trị nhập với Tạp chí Cửa Việt thành Tạp chí Cửa Việt bộ mới, đã duy trì và phát triển cho đến hôm nay. Một công việc rất phù hợp với tôi, đồng thời cũng do tổ chức nhìn nhận để sắp xếp. Trong gần 16 năm công tác ở hai đơn vị báo văn nghệ, có rất nhiều kỷ niệm về thể loại ảnh báo chí đã đi vào ký ức không thể nào quên, tôi nhớ mãi đến suốt đời…”. Những bài còn lại trong tập sách, mỗi bài mỗi câu chuyện sống động, như một tư liệu quý, đầy thú vị: “Dấu ấn ngày đầu thành lập”, “Làng hoa bên sông Hiếu”, “Giai thoại một thời”, “Tạp chí Cửa Việt - Dấu ấn hành trình”, “Thầy giáo biên phòng vùng cao”, “Hội ngộ đồng hương”, “Thắng cảnh miền Tây Quảng Trị”, “Người thổi hồn văn hóa dân tộc”, “Một câu chuyện huyền bí”, “Vọng thiêng du lịch hoài niệm”, “Mạch nguồn biển đảo”, “Điểm đến du lịch cộng đồng”, “Những kỷ niệm về trưng bày báo xuân”, “Hạnh phúc tuổi già”…

Tập Bút ký “Một thời đã qua” của nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan có nội dung phong phú, mỗi bài mỗi câu chuyện thú vị, cách kể chân thật, văn phong giản dị dễ hiểu, những tình tiết sống động lôi cuốn người đọc, vì sức hút của câu chuyện là “người thật, việc thật”.

Tập Bút ký “Một thời đã qua” rất đáng cho mỗi chúng ta đón nhận và thưởng thức.

N.X.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm