TIN TỨC

Những câu chuyện hấp dẫn và cảm động

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-08-08 22:52:07
mail facebook google pos stwis
692 lượt xem

 

Nguyễn Xuân Sang

Giữa tháng 6 năm 2025 nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan cho ra mắt tập Bút ký mang tựa đề:“Một thời đã qua” do NXB Thuận Hóa ấn hành, dày 224 trang, khổ 14,5 x 20cm. Với vốn sống từng trải, đảm nhiệm nhiều trọng trách chuyên môn khác nhau, có dịp đến nhiều vùng miền, bắt gặp những câu chuyện thú vị, người nghệ sỹ đa tài ấy lặng lẽ chép vào sổ tay, nay mới có dịp viết xong 20 câu chuyện về “người thật, việc thật” đầy hấp dẫn và cảm động. Đó là nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan, Phó Chủ tịch chuyên trách Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị.

 

Bìa sách “Một thời đã qua” của Nhà báo Hồ Thanh Thoan

 

Họa sĩ, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo Hồ Thanh Thoan sinh ngày 03-3-1957 tại xã An Lạc, TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị; tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật Huế năm 1979. Anh là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, hội viên Hội VHNT Quảng Trị. Tháng 5 năm 2019 anh cho ra mắt cuốn sách tranh mỹ thuật: “Sắc màu quê hương” với 80 bức tranh, khắc họa chân dung những người lao động ở một số ngành nghề trên khắp mọi vùng miền đất nước. Bên cạnh đó, họa sĩ tôn vinh hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ ngày đêm cầm chắc tay súng bảo vệ lãnh hải, biên cương thiêng liêng của Tổ quốc. Tháng 5 năm 2021 anh cho ra mắt tiếp tập sách khảo cứu:“Một số lễ hội, làng nghề và trò chơi dân gian ở Quảng Trị”. Sách dày 213 trang, gồm 18 bài, mỗi bài có hình ảnh minh họa; chia làm 3 phần: Lễ hội, Làng nghề, Trò chơi dân gian riêng có ở Quảng Trị, không lẫn với địa phương nào trên dải đất hình chữ S thân yêu. Tháng 02 năm 2022, anh cùng con trai là Hồ Thanh Thọ xuất bản tập sách ảnh Nghệ thuật “Bản sắc vùng cao” gói gọn trong 120 trang màu nền nã về đề tài miền núi tỉnh nhà. Đến tháng 8 năm 2023, anh lại tiếp tục cho ra đời tập sách “Cầu nối nghệ thuật và không gian Mỹ thuật Quảng Trị”, dày 232 trang, viết về lĩnh vực Nghệ thuật tạo hình ở Quảng Trị.

Hôm nay, tác giả gom lại 20 câu chuyện mà anh là người trong cuộc hay được chứng kiến “mắt thấy, tai nghe” in thành sách, có ảnh minh họa do anh bấm máy để chia sẻ cùng bạn đọc gần xa những kỷ niệm không thể nào quên của Một thời đã qua”. Bài “Để lại trong ký ức” tác giả kể lại câu chuyện thân tình khi Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên được phép đến thăm nhà đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhân dịp Đoàn ra biểu diễn phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, diễn ra từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982 tại Thủ đô Hà Nội. Một sự kiện đặc biệt nữa dành cho Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên: “Đêm 26.3.1982. Đoàn vinh dự được biểu diễn phục vụ Bộ Chính trị trước lúc khai mạc Đại hội Đảng toàn quốc tại Hội trường Ba Đình. Đồng chí Lê Duẩn đến Hội trường sớm hơn các đại biểu khác để động viên và thăm hỏi Đoàn, bởi vì con em quê nhà Quảng Trị ra thủ đô làm nhiệm vụ cao cả. Sau buổi diễn, Đoàn đã được đồng chí Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị chúc mừng và động viên khen ngợi”. Trong bài “Chuyện trùng hợp ngẫu nhiên”, khi chiếu bộ phim “Mùi cỏ cháy”, kịch bản Hoàng Nhuận Cầm, đạo diễn Nguyễn Hữu Mười do Hãng Phim truyện Việt Nam sản xuất. Trong phim có những tình tiết giống hệt câu chuyện xảy ra năm 2009 tại nhà bà Mai Thị Nuôi ở Thành Cổ Quảng Trị. Một đêm nọ bà Nuôi mơ thấy anh bộ đội Nguyễn Văn Long quê Hà Tĩnh về báo mộng “Tôi đã hy sinh trong vườn nhà chị, khoảng ba ngày tới tôi sẽ trở lại hướng dẫn cụ thể địa điểm để chị lấy xác tôi lên cùng 8 đồng đội ở bên cạnh, xong nhờ chị báo với chính quyền địa phương đưa vào Nghĩa trang thị xã, riêng tôi vẫn muốn ở lại đây một thời gian với nhiều đồng đội đang nằm trong vườn, nên chị cố gắng đắp cho tôi một phần mộ tại đó và chị nhớ khi đào tôi lên sẽ có hòn đá bên cạnh, đừng bỏ đi và hãy cất giữ lấy…” những tình tiết diễn ra tiếp theo của câu chuyện y như lời liệt sĩ Long báo mộng vậy! Phải chăng trong thế giới của những người đang sống còn có những linh hồn linh thiêng vì Tổ quốc ngã xuống cùng song hành bên ta?

Bài “Chào cờ trên đảo Trường Sa” với lối kể chuyện tự nhiên, tác giả cho ta thấy một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc được quân cùng dân bảo vệ và xây dựng. Ở nơi đó có cơ sở hạ tầng thiết yếu, như: Trung tâm y tế, trạm khí tượng thủy văn, nhà tưởng niệm Bác Hồ, nhà ở của dân; tượng đài các vị anh hùng dân tộc, anh hùng liệt sĩ. Điều đặc biệt để lại ấn tượng nhất với tác giả khi đến đảo Trường Sa và các đảo nhỏ khác: “Cứ mỗi buổi sáng vào lúc 5 giờ 30 phút, lễ thượng cờ được các chiến sĩ tiến hành ngay tại cột mốc chủ quyền, đây được coi là một trong những nhiệm vụ hết sức thiêng liêng của những người lính đảo. Ngoài ra, mỗi tháng một lần, các lực lượng trên đảo đều tổ chức lễ chào cờ vào sáng thứ hai đầu tiên. Tất cả quân và dân cùng tham gia hoạt động mang nhiều ý nghĩa này. Màu cờ đỏ giữa bao la nước biếc, trời xanh và mây trắng như được tươi thắm thêm và rực rỡ hơn, làm ai nhìn thấy đều xúc động. Lễ chào cờ trên Đảo Trường Sa luôn in sâu vào lòng của tất cả mọi người, kỷ niệm đó không thể nào quên trong mỗi chúng tôi khi được đến một vùng đất thiêng liêng. Bi vì cũng lá cờ Tổ quốc đỏ tươi, cũng bài hát quốc ca đã nằm lòng từ thuở đi học nhưng lúc này giữa biển trời Trường Sa, trong tim mọi người ai nấy đều bỗng nhiên nghẹn ngào, một nổi trào dâng đầy cảm xúc khó tả, nhiều người trong đoàn rơi nước mắt, nhất là các chị em phụ nữ, họ bật khóc thành tiếng. Là công dân của đất liền khi được ra với biển đảo mà  được dự lễ chào cờ thì chúng tôi nghĩ rằng: Tất cả dân tộc Việt Nam ở bất cứ nơi đâu đều luôn hướng về biển đảo thân yêu của Tổ quốc và ngược lại, các chiến sĩ Trường Sa lúc nào cũng hướng về đất liền thân yêu mà vũng chắc tay súng”.

 

Nghệ sĩ, Nhà báo Hồ Thanh Thoan (bên trái) và Tác giả.

 

Trong bài “Trận Bạch Đằng trên sông Hiếu” tác giả ôn lại trận đánh trên sông Hiếu của 57 năm về trước. Quân đội Mỹ dùng đường sông vận tải vũ khí từ Cửa Việt đến căn cứ quân sự Đông Hà, cung cấp cho chiến trường Đường 9 - Khe Sanh. Bộ Chỉ huy Quân Giải phóng Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị phổ biến tới nhân dân các thôn Thượng Nghĩa, Đại Độ và Đông Lai (thuộc xã Cam Giang) vót nhọn gốc tre tập kết tại Đập Đại Độ I. Nhân dân xã Gio Hà (nay là Gio Mai và Gio Quang) được giao nhiệm vụ chặt cây dương liễu cũng vót nhọn dưới gốc. Sau mấy ngày huy động gấp rút có hơn 4.000 cây tre và cây dương liễu dài trên 4m được bí mật đưa đến địa điểm đã định. Bên cạnh đó, còn gom được 300kg dây kẽm gai để cột giằng với tre và dương liễu tạo nên chướng ngại vật nguy hiểm dưới lòng sông, nhằm làm hỏng chân vịt tàu chiến  Mỹ: “Nắm bắt được quy luật thủy triều lên xuống ở sông Hiếu, lúc 21 giờ đêm 28 tháng 02 năm 1968. Các lực lượng gồm: Biệt động thị trấn Đông Hà; du kích xã Cam Giang và Gio Hà (nay là Gio Mai và Gio Quang), bộ đội địa phương Cam Lộ, Trung đoàn 270, bộ đội Đoàn đặc công 126Hải Quân Việt Nam và ngư dân vạn chài ngã ba Vạn Trọng Đức và xã Cam Giang thực hiện. Tổ chức huy động được 18 chiếc thuyền chở cọc tre, cọc dương liễu, các bó nè tre và dây kẽm gai bí mật tiếp cận khúc sông từ Gia Độ đến cuối làng Đông Lai để bắt đầu thực hiện việc cắm cọc. Ở khu vực này sông khá hẹp, có độ sâu từ 6 đến 15m, hai bên bờ địa hình khá thuận lợi cho việc cất giấu, bố trí lực lượng và hỏa lực. Lúc 22 giờ, khi nước đứng, công việc cắm cọc bắt đầu được tiến hành, những chỗ nước sâu, cọc tre và dương liễu ở đầu gốc buộc với các tảng đá lớn thả xuống, nơi nước cạn thì cắm trực tiếp vào đáy sông, cứ 3 cây chụm lại rồi buộc chặt trên đầu, những cây cao khỏi mặt nước thì cắt bớt, giữa các cọc được giằng dây kẽm gai và những bó nè tre tạo thành mảng bè nửa chìm nửa nổi neo giữ khỏi trôi tự do. Cùng lúc đó Đoàn 126 đặc công bố trí gài mìn và thả ngư lôi xuống hệ thống các cọc cắm. Sau hơn một tiếng đồng hồ, trận địa được bố trí thành hai bãi cọc, kéo dài khoảng 800m và rộng hàng ngàn m2. Khoảng 8 giờ sáng ngày 02 tháng 3 năm 1968, một đoàn tàu gồm 12 chiếc trong đó có tàu tuần tiễu và các tàu tiếp viện đổ bộ đa năng của Hải quân Mỹ và quân lực Việt Nam cộng hòa từ Cửa Việt lên Đông Hà, mỗi chiếc đi cách nhau khoảng 20m. Phía trên là máy bay trinh sát, trực thăng vũ trang hộ tống. Lúc tiến vào trận địa phục kích, thủy triều xuống thấp, chiếc tàu đi đầu vấp phải bãi cọc và chướng ngại vật buộc tàu Mỹ phải dồn đội hình rồi đi chậm lại, đúng lúc này thủy lôi và mình phát nổ. Những chiếc tàu còn lại định rút lui nhưng bị hỏa lực thuộc Trung đoàn 270 cùng bộ binh và du kích địa phương mai phục bên bờ sông Hiếu từ Mai Xá, Vinh Quang Hạ và Đại Độ gồm ĐKZ, B41, 12,7mm, súng cối, súng bộ binh tấn công dồn dập. Trong đoàn tàu địch có một số chiếc chở xăng dầu bị trúng đạn tràn ra mặt nước bốc cháy dữ dội. Sau hơn một giờ bị quân ta chặn đánh, 07 tàu tiếp viện Mỹ bị bắn cháy và chìm tại chỗ, 5 tàu còn lại quay đầu rút lui bị pháo binh ta từ bờ Bắc sông Bến Hải bắn làm hư hỏng nặng. Tuyến tiếp viện hậu cần bằng đường thủy từ Cửa Việt lên Đông Hà của địch bị thất bại hoàn toàn. Chiến công trên sông Hiếu góp phần rất lớn cho chiến thắng của quân giải phóng tại chiến trường Đường 9 - Khe Sanh lúc bấy giờ”.

Trong “Một thời làm báo” tác giả kể lúc nhỏ ước mơ lớn lên trở thành “ký giả”. Với niềm đam mê, anh bắt đầu tự học nghề ảnh khi đang còn ngồi trên ghế bậc phổ thông trung học. Ngày nghỉ cuối tuần anh ra hiệu ảnh thuê máy đi chụp ngoại cảnh. Một thời gian sử dụng máy thành thạo, anh đã kiếm sống bằng nghề ảnh. Nguyện vọng của anh là cầm bút và cầm máy nhưng anh lại học Trường Mỹ thuật Huế. Sau 5 năm đào tạo, anh được phân công về Đoàn Kịch nói Bình Trị Thiên làm công tác thiết kế Mỹ thuật sân khấu. Đoàn đi diễn dài ngày khắp mọi miền đất nước. Ban đêm theo Đoàn phục vụ khán giả, ban ngày anh dành thời gian tác nghiệp cả hai loại hình: Mỹ thuật và Nhiếp ảnh, cộng tác cho Tạp chí Sân khấu và Báo Dân (tỉnh Bình Trị Thiên). Khi chia tách tỉnh trở lại quê nhà, anh được giao tổ chức triển lãm thành tựu, hội chợ, trưng bày tranh, ảnh tư liệu và nghệ thuật nên anh có điều kiện tiếp xúc và thực hiện. Anh được xem như là phóng viên chuyên nghiệp Báo Quảng Trị về mảng ảnh thời sự. Kỷ niệm một năm chia tách tỉnh, lãnh đạo tỉnh có kế hoạch triển lãm ảnh tư liệu và ảnh thời sự về xây dựng quê hương trên tất cả các phương diện. Ảnh của anh được chuẩn bị từ trước nên anh tự in, phóng to để triển lãm. Năm 1991, Tạp chí Văn hóa Quảng Trị được thành lập, anh được điều động về làm họa sĩ trình bày, đồng thời là phóng viên ảnh nên chính thức trở thành Nhà báo từ đó. Nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan vui vẻ nhớ lại: “Sau hơn ba năm hoạt động, Tạp chí Văn hóa Quảng Trị nhập với Tạp chí Cửa Việt thành Tạp chí Cửa Việt bộ mới, đã duy trì và phát triển cho đến hôm nay. Một công việc rất phù hợp với tôi, đồng thời cũng do tổ chức nhìn nhận để sắp xếp. Trong gần 16 năm công tác ở hai đơn vị báo văn nghệ, có rất nhiều kỷ niệm về thể loại ảnh báo chí đã đi vào ký ức không thể nào quên, tôi nhớ mãi đến suốt đời…”. Những bài còn lại trong tập sách, mỗi bài mỗi câu chuyện sống động, như một tư liệu quý, đầy thú vị: “Dấu ấn ngày đầu thành lập”, “Làng hoa bên sông Hiếu”, “Giai thoại một thời”, “Tạp chí Cửa Việt - Dấu ấn hành trình”, “Thầy giáo biên phòng vùng cao”, “Hội ngộ đồng hương”, “Thắng cảnh miền Tây Quảng Trị”, “Người thổi hồn văn hóa dân tộc”, “Một câu chuyện huyền bí”, “Vọng thiêng du lịch hoài niệm”, “Mạch nguồn biển đảo”, “Điểm đến du lịch cộng đồng”, “Những kỷ niệm về trưng bày báo xuân”, “Hạnh phúc tuổi già”…

Tập Bút ký “Một thời đã qua” của nghệ sĩ Hồ Thanh Thoan có nội dung phong phú, mỗi bài mỗi câu chuyện thú vị, cách kể chân thật, văn phong giản dị dễ hiểu, những tình tiết sống động lôi cuốn người đọc, vì sức hút của câu chuyện là “người thật, việc thật”.

Tập Bút ký “Một thời đã qua” rất đáng cho mỗi chúng ta đón nhận và thưởng thức.

N.X.S

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm