TIN TỨC

‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2026-05-29 15:06:01
mail facebook google pos stwis
615 lượt xem

BÙI THANH TRUYỀN

‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.

“Chân cứng đá mềm” tiếp nối mạch kể chuyện về cuộc đời nhiều thành tựu lắm thăng trầm của đạo diễn Xuân Phượng, sau “Gánh gánh gồng gồng” và “Khắc đi khắc đến”. Đọc “Chân cứng đá mềm”, bên tai tôi cứ văng vẳng lời tự bạch rất chi là ấn tượng của không ít người: Tôi chỉ có một ưu điểm và một nhược điểm. Ưu điểm là nhớ lâu; còn nhược điểm là… thù dai. Giữa đôi bờ nhớ - quên, yêu - ghét, thương - giận, đạo diễn Xuân Phượng tuổi 97 sẽ ứng xử ra sao để “gánh nghiệp” cập bến văn chương?
 

Bà Nguyễn Thị Kim Nguyên, phó Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy TPHCM (thứ 2, trái qua) tặng hoa của Ban chúc mừng nhà văn Xuân Phượng

Nếu hạnh phúc và ý nghĩa của đời người là sự lựa chọn sống thì “Chân cứng đá mềm” là một minh chứng sống động. Giữa thời buổi chiến tranh, không ít người mưu cầu sự yên lành cho gia đình, bản thân thì nhân vật chính, lại là phụ nữ, dám chấp nhận đánh đổi ấm êm để được sống với khát vọng, lí tưởng của mình. Năm ba mươi bảy tuổi, từ trưởng phòng khám bệnh thuộc Ủy ban Liên lạc văn hóa với nước ngoài, lương cao, cuộc sống ổn định, an nhàn, người phụ nữ ấy đã quyết định đổi nghề, trở thành một phóng viên, một người làm phim tài liệu chiến trường với bao nguy hiểm, chết chóc, gian nan và đồng lương sụt giảm.

Không đơn thuần lãng mạn, lí tưởng nhất thời, mà là sự tri nhận thấu lí đạt tình để hồi đáp lời hiệu triệu của Joris Ivens - người thầy điện ảnh đầu tiên của tác giả: “Giữa năm 1967 này, các bạn đang rất cần những phiên dịch, những bác sĩ. Nhưng cần gấp hơn nữa là một đội ngũ những người phóng viên chiến trường để ghi lại tại chỗ những tội ác mà kẻ thù đã giáng xuống đất nước các bạn, để ghi tại chỗ sức chiến đấu ngoan cường bảo vệ từng tất đất của dân tộc Việt Nam”.

Tình nguyện gia nhập đời làm phim, lại làm phim chiến trường, hơn ai hết, đạo diễn Xuân Phượng dự cảm được bao thiệt thòi quyền lợi, bao hi sinh gian khổ, bao gánh nặng gia đình với ba đứa con thơ dại… Quyết định dấn thân ấy cũng là vẻ đẹp chung của cả một thế hệ: “Mưa bom, bão đạn, lòng thanh thản/ Nhạt muối, vơi cơm, miệng vẫn cười” (Tố Hữu).

Nhạc sĩ Trần Tiến ngẫu hứng một ca khúc lấy cảm hứng từ 'Chân cứng đá mềm'. Ảnh: T.H

Nhạc sĩ Trần Tiến ngẫu hứng một ca khúc lấy cảm hứng từ "Chân cứng đá mềm". Ảnh: T.H

Cảm giác tác giả “Chân cứng đá mềm” luôn trong trạng thái của một người mắc nợ: nợ Tổ quốc, nợ đồng đội, nợ bao bạn bè quốc tế dám bênh vực, cống hiến, hi sinh cho đất nước mình. Cũng vì tâm lí ấy, nhà văn Xuân Phượng - một nhân chứng sống, một người lưu giữ kí ức, đến thời điểm thích hợp sẽ kể lại, phục hiện chân xác quá khứ, lịch sử bản thân, dân tộc. Đó cũng là cách để nhà văn trả nợ, đáp tạ bao bạn bè mà phần đông đã không còn hiện diện trên cõi đời này, đáp tạ Tổ nghiệp đã ưu ái cho mình một cuộc đời rực rỡ.

 

Bên cạnh hạnh phúc, sự háo hức, nhiệt tình vì được sống một cuộc sống đúng theo mong ước của mình, trong “Chân cứng đá mềm”, không ít lúc ta thấy người trong cuộc cũng mềm chân mỏi chí, “lao đao, choáng váng” khi trực diện bao khó khăn nguy hiểm, bao mất mát tang thương, bao bất như ý của thời chiến lẫn thời bình. Vượt qua bao nghịch cảnh để bước trên con đường mình đã chọn với vẹn nguyên đam mê buổi đầu là tâm thế của người tiên cảm chức phận “một đời gánh nghiệp”. Bao kỷ niệm không thể nào quên, bao khó khăn tưởng chừng bất lực của một nửa thế kỉ làm phim được kể lại là một phần quan trọng làm nên ý nghĩa, hạnh phúc đích thực của đời người - đời văn tác giả.

Gần 300 trang sách, “Chân cứng đá mềm” đưa bạn đọc qua một thời, bắt đầu từ 1967 với bến phà Quán Hàu, khép lại là năm 1979 ở Sài Gòn, từ thời chiến tranh đầy đạn bom chết chóc đến thời hòa bình, thời bao cấp với bao khó khăn, thiếu thốn. Tạo bối cảnh bằng “Thay lời tựa” với ba phiến đoạn “Câu chuyện bắt đầu từ hơn nửa thế kỉ trước”, “Những bước đầu vượt khó”, “Chập chững bộ phim đầu tiên”. Phần chính của cuốn sách xoay quanh bốn đề tài “Lên rừng”, “Xuống biển”, “Bạn bè phương xa”, “Ai bảo đi làm phim là khổ”. Cuối cùng là “Thay lời kết” như vĩ thanh một chặng hành trình.

Tận dụng thế mạnh của nghệ thuật thứ bảy trong ngôn từ và hình ảnh, người viết “Chân cứng đá mềm” bỏ bùa bạn đọc qua lối cận cảnh: Thượng tướng Chu Văn Tấn - Hùm Xám Bắc Sơn rất đỗi đời thường; những chiếc xe ô tô “vừa đi vừa đẩy” có một không hai; những lớp học dưới hầm trú ẩn nhung nhúc đỉa; những gương mặt thầy, bạn năm châu luôn “mang theo mình một mảnh Việt Nam”…

'Chân cứng đá mềm' nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới cầm bút. Ảnh: T.H.

"Chân cứng đá mềm" nhận được nhiều phản hồi tích cực từ giới cầm bút. Ảnh: T.H.

Cách tổ chức cuốn sách khá bắt mắt, lối kể giản dị mà lôi cuốn khiến người đọc dùng dằng, nửa không muốn dừng mạch đọc, nửa muốn gấp sách lại để tự ngẫm, tự vấn, phản tỉnh.

Đọc “Chân cứng đá mềm”, ta có một điểm tựa để thương hiểu, tin yêu, hi vọng, để không rơi vào bi kịch lãng quên. Những người Việt hôm nay và mai sau biết ơn “cuộc dấn thân với bao chuyện vui buồn cay đắng” này, nhờ đó không bị đứt lìa cuống rốn lịch sử thương đau mà đầy kiêu dũng, để mạnh mẽ chạy tiếp sức cùng tác giả trong hành trình đi tìm chân giá trị, ý nghĩa cho bản thân, cộng đồng.

Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm