TIN TỨC

Thấy gì qua một chùm thơ Tết?

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-05-15 10:38:40
mail facebook google pos stwis
1912 lượt xem

CHÙM THƠ TẾT CỦA NGUYÊN HÙNG

LÊ THANH HUỆ

Số xuân, các báo và tạp chí đặt bài cho các nhà thơ nổi tiếng để dùng thi ca tô vẽ cho trang báo, nhằm cân bằng với nội dung đã chuẩn bị từ lâu do đó ít đi tính thời sự…

Năm nay, Người Lao động Xuân Giáp Thìn 2024; Tạp chí Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Xuân Giáp Thìn 2024; Tạp chí Shipping Times Xuân 2024… đăng một số bài thơ của tác giả Nguyên Hùng; khi gộp lại, ta có dòng thời gian được tác giả nén lại tạo hiệu ứng, cống hiến cho độc giả một mùa xuân mang sắc mầu siêu thực, quá khứ, hiện tại hòa vào nhau vẫn giữ được miền sinh thái đậm tình người Việt Nam…

***

NGỌT NGÀO THÁNG HAI
 

Tháng hai đầy ắp màu xuân

dâng tràn bầu mật tình nhân ngọt ngào

vườn xuân rạng rỡ mai đào

em ngồi em đứng xôn xao lá cành

 

Tháng hai tâm sáng lòng thành

ta đi cầu phúc cầu lành cầu may

cầu em xinh đẹp mỗi ngày

mãi là gió sớm nắng mai dịu dàng

 

Tháng hai dắt díu về làng

hương hoa thưa mẹ, khói nhang ngậm ngùi

cầu xin lòng mẹ luôn vui

để con mãi được bên người con thương.


Bài đăng Người Lao động Xuân Giáp Thìn 2024

Khởi đầu bài thơ là thiên nhiên giao hòa: “Tháng hai đầy ắp màu xuân”. Trong đó có mùa của tình yêu “dâng tràn bầu mật tình nhân ngọt ngào” có “mai đào” làm rạng rỡ vườn xuân và có nhân vật em: “em ngồi, em đứng” đều tạo ra hiệu ứng “xôn xao lá cành”. Nếu đối chiếu với từ “Màu xuân”, thì có vẽ đây như là màu thời gian của quá khứ nên nhuốm mầu hư ảo được tạo ra trong tâm tưởng con người trong hiện tại…

Đi tiếp mạch nguồn của quá khứ là tháng hai của tâm linh: “Tháng hai tâm sáng lòng thành”.

Lập luận: Tết âm lịch vào tháng giêng, là lúc người Việt về quê đón tết. Tuy nhiên các lễ hội tâm linh tháng nào cũng có... Vậy tháng hai là từ đại diện, khi vào tâm trí người đọc sẽ thành tháng 3, tháng tư... ứng với hoàn cảnh câu thơ vận vào theo nghĩa "tâm sáng lòng thành". Theo quy luật về mối liên hệ giữa tư duy những lúc con người có suy nghĩ, cảm nhận trong sáng sẽ đúng đắn hơn do đó mang lại sự hòa hợp với thiên nhiên, con người xung quanh. Từ đó, được hồi đáp để có sự thanh thản yên bình chứ bản thân tâm sáng mà có người đập thẳng vào mặt mình thì lòng nổi loạn. Đó là khám phá của nhà khoa học về mối liên hệ tư duy với tình cảm: tâm sáng – lòng (mới) thành (tâm). Quy luật đó được thi sỹ diễn giải bằng ngôn từ dân giả...

Tháng hai có nhiều lễ hội để “đi cầu phúc cầu lành cầu may”. Nhưng khi đặt cuối khổ thơ, lại có “em” trong đi cầu: “cầu em xinh đẹp mỗi ngày / mãi là gió sớm nắng mai dịu dàng”.

Em vừa là gió sớm, em cũng là nắng mai trong khung cảnh tâm linh như là hình bóng không thay đổi và bay trong không gian của nhớ thương thuộc miền ký ức. Khổ thơ cuối bắt đầu từ bóng dáng người mẹ đã mất đang ở giữa quê hương:

“Tháng hai dắt díu về làng/ Hương hoa thưa mẹnhưng “khói nhang ngậm ngùi” có cho riêng mẹ không?!...

Thường thì người Việt Nam cầu mẹ ngậm cười nơi suối vàng “cầu xin lòng mẹ luôn vui” và đáng lẽ cầu mẹ phù hộ cho con cháu; nhưng câu kết của bài thơ lại cầu khác thông lệ: “để con mãi được bên người con thương”. Vậy thì em ở đây đang ở bên mẹ và hầu hạ mẹ nơi suối vàng nên mới có việc cầu xin mẹ như thế.

Thoảng trong màu sắc của mùa xuân, không khí tâm linh tỏa ra muôn nơi và nén hương thắp ở nghĩa địa quê nhà là hình bóng người vợ hiền đã đi xa, lung linh, ảo diệu và tâm nguyện của người lớn tuổi muốn đoàn tụ nơi cỏi vĩnh hằng, lời thì thầm nhắn gửi của lòng thủy chung…

Chúng ta rưng rưng khi con chữ của bài thơ khép lại mùa xuân thực để bắt đầu một mùa xuân ảo của vĩnh hằng, nơi mọi người sẽ được gặp lại nhau sau hàng chục năm xa cách; vẫn không nguôi nhớ, không nhạt thương; dù đi giữa cuộc đời ồn ào bon chen, không còn có chỗ an toàn trong âm dương cách biệt…

Nó cũng giống như giả sử chúng ta đi trước nhà thơ và ai đó tập hợp, chắt lọc lại các lời bình của tất cả chúng ta trên mạng internet về các bài thơ của Nhà thơ Nguyên Hùng, nó sẽ là làn sương khói đưa con chữ về với chúng ta ở miền quên lãng và phần thực sẽ còn lại ở trên đời “như gió sớm, nắng mai” tạo thành hai đường thẳng song song gặp nhau ở đường chân trời siêu thực, chân trời có tên uống nước nhớ nguồn, nhớ tổ tiên, mẹ cha, người thân đã mất, sự thủy chung vô bến bờ…
 

QUA CẦU MỸ THUẬN
 

Đất xưa dậy sóng Rạch Gầm

Người xưa có Nguyễn Hữu Huân dẫn đầu

Người nay nối những nhịp cầu

Đất không thể hóa con tàu ngủ yên!

 

Dưới chân sóng sánh sông Tiền

Nhớ ngày rồng rắn đợi phiên qua phà

Tìm người, người vẫn vời xa

Qua cầu Mỹ Thuận, sóng va lòng mình!
 

Đọc 2 câu kết:

"Tìm người, người vẫn vời xa

Qua cầu Mỹ Thuận, sóng va lòng mình!"

Sau đó đọc ngược lại 2 câu thơ đầu khổ cuối:

“Dưới chân sóng sánh sông Tiền

Nhớ ngày rồng rắn đợi phiên qua phà”.

Ta chú ý khoảng cách (không gian) hai bờ sông Tiền Giang ở vị trí cầu Mỹ Thuận và bến phà năm xưa (ở gần đó) vẫn không thay đổi. Tuy nhiên để đạt vận tốc cao hơn cho phương tiện giao thông, con đường phải uốn lượn hình sinh theo phương đứng nên dài hơn con đường của chuyến phà.

Bến phà không dùng vẫn còn được bảo vệ phòng khi thiên tai địch họa làm hỏng cầu. Chỉ là thời gian ngắn lại khi qua sông và theo đó nó uốn cong cây cầu lên cao phía bầu trời để ngắn lại hành trình về mặt thời gian, nhưng theo con đường phải đi qua lại dài hơn. Kết quả là có thêm sự chia xa lòng người khi so sánh họ phải qua sông bằng phà; bên nhau râm ran chuyện trò cùng những người bán hàng rông.

Đó không chỉ là tâm trạng của nhà thơ, mà cũng là cảnh báo về quy luật muôn thưỡ: được cái này, sẽ phải mất cái kia, hay còn gọi là quy luật đánh đổi. Bài thơ còn chỉ ra cho đến nay, loài người chưa khắc phục được mặt trái của phát triển.
 

KHI XA EM

Anh về quê tiễn đưa năm

Để em ở lại xa xăm cuối trời

Bay qua ngàn dặm rối bời

Cõng theo chút nắng, đánh rơi lúc nào

Chỉ còn nỗi nhớ cồn cào

Ngấm vào đêm thức, lặn vào ngày mơ

Hóa thành tiếng pháo giao thừa

Hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ gọi em.
 

Bài thơ có 2 chiều thời gian cùng tồn tại với nhau trong tâm tưởng tác giả.

Bắt đầu là câu thơ tả thực về quê ăn tết: “Anh về quê tiễn đưa năm”. Và do không đi cùng vợ nên “Để em ở lại xa xăm cuối trời”. Có vẻ như là nơi ở của vợ rất xa quê nên chuyến đi “Bay qua ngàn dặm” trong tâm “rối bời”. Tuy nhiên “Cõng theo chút nắng, đánh rơi lúc nào” là việc không thể làm được khi di chuyển trong không gian thực, thời gian thực bằng bất cứ phương tiện nào. “Chỉ còn nỗi nhớ cồn cào” nhưng nỗi nhớ đó không theo tâm trạng bình thường; nỗi nhớ theo quy luật: “Ngấm vào đêm thức, lặn vào ngày mơ”.

Theo tính ngưỡng dân gian, đêm của cỏi âm là ngày của chúng ta, do đó “đêm thức”. Và đêm của họ lại là “ngày mơ”. “Hóa thành tiếng pháo giao thừa”… Đọc đến đây, chúng ta biết chuyến đi của quá khứ xa xăm, khi tết đến còn được phép đốt pháo. “Hòa cùng tiếng sóng vỗ bờ gọi em”. Vậy “gọi em” ở đây là gọi em ở cỏi âm.

Chuyến du hành của nhà thơ Nguyên Hùng đi về quá khứ và rơi vào cỏi âm nơi người vợ, những người thân vẫn ngày đêm nghe tiếng sóng vỗ bờ ru giấc ngủ ngàn thu. Đây là bài thơ có phần nổi là người chồng về quê và mang theo nỗi nhớ vợ mênh mang. Phần siêu thực, sẽ do độc giả cảm nhận và vẽ ra cho mình. Bởi lẽ câu thơ hay không bao giờ đơn nghĩa, bài thơ hay không chỉ có một chủ đề... Câu từ sẽ làm nên cảm nhận và tình cảm của độc giả với khung cảnh, âm thanh, hành động được độc giả vẽ ra cảm nhận riêng có trong tâm khảm nơi bài thơ lưu trú vào...
 

XIN LÀM MỘT BÓNG CÂY
 

 Xuân đã tới kìa, én liệng bay

Đất trời lãng đãng gió mây say

Người về với biển hồn xanh biếc

Em đến bên ta má đỏ hây

Nỗi nhớ xô bờ bao chất chứa

Niềm thương dâng sóng bấy đong đầy

Đan tay dang rộng nên vòm lá

Xin tặng cuộc đời một bóng cây.

 

Bài thơ có nhiều câu thơ siêu thực đan xen thực tế mùa xuân đã về:

Xuân đã tới kìa, én liệng bay

Đất trời lãng đãng gió mây say”.

Trong bầu không khí xuân, tác giả hồi tưởng:

Người về với biển hồn xanh biếc”

Cớ sự vì đâu biển nỗi sóng: “Nỗi nhớ xô bờ bao chất chứa”? Có vẽ khi hồi tưởng quá khứ, tác giả không quên mang hạnh phúc hiện tại gắn vào quá khứ buồn: “Em đến bên ta má đỏ hây”. Do đó mà tình cảm trở nên bất định trong dòng thời gian thực: “Niềm thương dâng sóng bấy đong đầy”.

Cách xữ lý tốt nhất là 3 con người, một đại diện cho quá khứ, một cho hiện tại và một (là tác giả bài thơ) tự đưa mình vào vị trí đứng chông chênh giữa 2 mãng thời gian chạy song song nhưng chắc chắn không gặp nhau hoặc như định lý các đường thẳng song song, sẽ gặp nhau ở vô cùng. Nhưng tác giả cho rằng tất cả hãy vì cuộc sống hiện tại và tương lai nên cùng nhau:

“Đan tay dang rộng nên vòm lá

Xin tặng cuộc đời một bóng cây”.

Đến đây, độc giả cảm nhận được cây thời gian mọc ở bờ tâm tưởng được sóng biển nâng niu do đó tất cả luôn hiện hữu trong thơ Nguyên Hùng.
 

ƯỚC GÌ NÍU LẠI NGÀY QUA

(Họa “Cánh chim xa”)
 

Nửa đời neo đậu bến sông xa

Thuyền phủ xanh rêu, lởm chởm hà (*)

Tết đến càng thương mành lưới mẹ

Xuân về thêm nhớ cánh buồm cha

Mong đền ơn mẹ, chiều đang nhạt

Muốn đáp nghĩa cha, nắng đã tà

Tóc bạc trắng đầu còn trẻ dại

Ước gì níu lại tháng ngày qua!

 

Đọc lại bài thơ: “Cánh chim xa” của Hồ Hoàng Tạo, cho thấy chẳng có sự liên quan giữa 2 bài thơ cùng viết về xuân xa xứ ở cách xa nhau về thời gian sinh 2 bài thơ, khác nhau về bút pháp.

Hãy so sánh câu kết thơ Nguyên Hùng: “Ước gì níu lại tháng ngày qua!” cho thấy thời gian của cả cuộc đời dồn nén lại. Dồn nén đến mức “Thuyền phủ xanh rêu, lởm chởm hà” - con hà là sinh vật sống bám vào vỏ thuyền, không bao giờ chuyển động nên gần như hóa đá, như cuộc sống ngưng đọng lại do kết quả thời gian bị níu giữ, nén chặt đến mức mọi thứ đang sống đang hoạt động trở nên bất động. Từ đó, lòng yêu thương biết ơn cha mẹ mới có điều kiện nâng lên gần như đạt mức sẽ chia (như cách thường thấy trong hiện tại với các mạng xã hội) cho 2 lớp người xa cách về thời gian, không cùng sống trong một không gian, vào thời điểm người con đã bạc đầu.

Và câu kết thơ Hồ Hoàng Tạo “Ta còn biền biệt cánh chim xa” là câu thơ tả thực; đủ thấy tuy cũng là bài thơ hay nhưng không phải là nền để bài thơ Nguyên Hùng làm điểm tựa, gọi là họa lại.

Độc giả hãy làm phép toán đơn thuần như sau:

Bài thơ “Cánh chim xa” gọi là A.

Bài thơ: “Ước gì níu lại ngày qua” gọi là B.

Nếu dùng công cụ toán học phổ thông để so sánh chất lượng, thi pháp… ta có một kết quả trong 3 trường hợp sau:

A > B.

A = B.

A < B.

Vì mỗi bài thơ sinh ra ở một thời và hay một kiểu, có đóng góp cho thi ca theo cách khác nhau nên không ứng với một trong 3 mệnh đề trên.

Lối tư duy trắng và đen, mang tai họa khi áp dụng vào thi ca; tuy nhiên, cách làm trên lại đúng với các bài thơ không phải là thơ. Với các bài thơ đúng niêm luật và hay, thường có hơn một trường hợp ứng với nó.

Do đó khi ghép 2 bài thơ vào cạnh nhau cho thấy bài thơ họa thường chỉ gần giống nhau về vần điệu âm hưởng nhưng có sự khác biệt về nội dung, thi pháp.

Bài thơ làm rõ quy luật: theo thời gian, tuổi người con tiệm cận với tuổi mẹ cha, sự đồng cảm tăng lên và lúc đó nghĩ suy gần lại bất kể trình độ học vấn và thời đại họ trưởng thành, sinh sống khác nhau. Từ đó tình yêu cha mẹ lớn dần lên, làm nảy sinh cảm giác mình đã làm chưa đủ cho mẹ cha để trả hiếu nghĩa trong khi cha mẹ không còn. Cuối cùng là cảm thức về thời gian cho thấy mình cũng đang dần đi ngược về phía mẹ cha và mong gặp lại sau điểm đến cuối cùng.
 


Đoàn VNS Thành phố Hồ Chí Minh trong chuyến về nguồn đến Côn Đảo, 9-11 tháng 9 năm 2024.


CHUNG MỘT LỜI HỨA
 

Một chuyến về nguồn chan đầy cảm xúc

Bởi tình thân không phân biệt trẻ già

Trăm con tim ngập tràn hạnh phúc

Khi bên nhau hòa nhịp hát ca.

 

Đến Côn Sơn ta thêm yêu Tổ quốc

Càng thấm ơn thiêng bao thế hệ cha anh

Không tiếc máu xương giữ gìn hồn Nước

Để giang sơn liền một dải yên bình.

 

Nơi nghĩa trang Hàng Dương bạt ngàn bia mộ

Nén nhang thơm không đủ tỏa hương trầm

Cúi đầu xin anh linh tiền nhân lượng thứ

Chuyến thăm này chưa đủ để tri ân…

 

Ta nắm tay nhau bên tượng đài bất tử

Dưới tán lê-ki-ma, chị Sáu chợt mỉm cười

Trăm lòng thành chung một lời thầm hứa:

“Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!”

 (Tạp chí Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, Xuân Giáp Thìn 2024).
 

Khổ đầu của bài thơ tả thực hành trình về nguồn của các thế hệ văn nghệ sỹ Sài Gòn. Không khí của đoàn:

“Trăm con tim ngập tràn hạnh phúc

Khi bên nhau hòa nhịp hát ca”.

 Khổ thơ thứ hai tả thực đoàn “Đến Côn Sơn” là đảo lớn nhất trong quần đảo Côn Đảo, cũng là tên cũ của quần đảo nơi có địa ngục trần gian giam giữ các chiến sỹ cách mạng và đa số họ đã thành liệt sỹ.

Hai khổ thơ cuối cùng là tâm điểm nghĩa trang Hàng Dương. Sau hai khổ thơ tả thực, lại tiếp câu thơ tả thực thứ 9: “Nơi nghĩa trang Hàng Dương bạt ngàn bia mộ”. Do đó, dù có thắp bao nhiêu nhang cũng không đủ cho phần mộ thấy được và những mảnh xương cốt bị bão cát, các dòng nước mưa cuốn mất rồi.

Nén nhang thơm không đủ tỏa hương trầm”.

Người đi viếng nghĩa trang Hàng Dương rất đông và không phải tất cả mọi người cùng đến thắp hương với mục đích như nhau. Đa số thắp hương để tỏ lòng biết ơn các liệt sỹ. Có người thắp cho người thân có mộ.

Cho đến hiện nay, chưa có một đại dự án tìm kiếm tất cả các mảnh xương và xét nghiệm ADN tạo thành kho dữ liệu khổng lồ phục vụ việc truy tìm đa số liệt sỹ và trả lại tên cho họ. Theo năm tháng ADN trong xương cốt sẽ bị biến chất khiến tất cả trở về với tự nhiên, không còn khả năng xác định danh tính các liệt sỹ. Nó đòi hỏi sự đóng góp của toàn dân dưới sự tổ chức của Nhà nước ta. Do đó, đa số đến thắp hương cho mộ gió của người thân của mình.

Có một số ít người đến bên mộ chị Võ Thị Sáu, thắp hương để cầu khấn linh hồn chị phù hộ cho công cuộc làm ăn thành công, hoặc được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn. Vài người thắp hương theo mọi người và họ chẳng mảy may nghĩ gì.

Nó là một xã hội thu hẹp của xã hội lớn trải qua nhiều năm tháng, thăng trầm. Và trong đó, có những lời cầu xin rất thực tế về những ước muốn nhỏ nhoi khiến các liệt sỹ mệt mỏi đau lòng.

Nhưng mọi thứ sáng lên khi có một thi sỹ, một nhà khoa học đến thắp hương và bằng sự hồn nhiên thay mặt tất cả mọi người: “Trăm lòng thành, chung một lời thầm hứa:” Hứa gì?!. Câu thơ kết lại lời hứa rõ ràng: “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi”.

Đó là dự cảm tuyệt vời của thi sỹ và là nhà khoa học về người Việt luôn đoàn kết sát cánh cùng nhau; sẳn sàng quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh khi ngoại xâm tiến vào bờ cỏi, xâm lược giang sơn. Để Tổ quốc còn, chúng ta còn, con cháu còn và tương lai tươi sáng. Đó chính là thắp nén tâm nhang mà các liệt sỹ rất mong chờ.

***

Thơ của Nguyên Hùng chỉnh về vần điệu, đẹp về hình ảnh, sống động âm thanh và chan chứa tình cảm quê hương của người con xa xứ, tình yêu thiên nhiên, cuộc đời nên có hàng chục ca khúc dùng làm ca từ.

Nhưng do Nguyên Hùng là tiến sỹ khoa học kỹ thuật nên thơ ông có mạch ngầm của khoa học thấm vào trong và nếu chịu khó liên tưởng, so sánh, suy nghĩ những gì con chữ gợi ra, chúng ta thấy một thế giới hòa hợp giữa văn chương và khoa học như là một thực thể sống, là cống hiến rất riêng của nhà thơ mang học hàm tiến sỹ khoa học.

Thơ Nguyên Hùng có nhiều bài mang hình hài siêu thực đã sáng tạo ra một cỏi tâm linh nhuốm nỗi buồn đẹp lung linh chỉ có ở quê hương nơi những con người bình dị đi vào cỏi hư vô để trở thành bất tử nên chỉ có thể dùng cảm nhận để đọc, nhận biết./.

Ghi chú: Hà hay hà biển là một loại động vật chân khớp đặc biệt (do chân đã tiêu biến), có họ hàng với cua và tôm hùm. Hà chỉ sống ở vùng nước mặn, thường là vùng nước nông và thủy triều. Hà là loài sống bám trên các vách đá, vỏ tầu gỗ, sắt, bê tông bến cảng… không di chuyển trong suốt cuộc đời.


Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm