TIN TỨC

“Theo chồng về quê” của Mai Khoa – một bài thơ hay

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-02-21 16:12:35
mail facebook google pos stwis
1542 lượt xem

ĐINH THIÊN HƯƠNG

Bởi yêu chồng từ lúc mới bén duyên
Như tình biển yêu thuyền thương nhớ
Nghĩa vợ chồng chẳng bao giờ hết nợ
Sợi tơ hồng em xe chỉ luồn kim

Điều ước ao em mải miết kiếm tìm
Một miền quê nơi “đất lành chim đậu”
Có câu ví dặm ân tình sâu đậm
Có vườn trầu ngan ngát hương cau…

Đất miền Trung tuy sỏi đá bạc màu
Người xứ Nghệ luôn giàu lòng nhân ái
Nét dịu dàng như cỏ cây hoa trái
Dòng Lam giang vời vợi trong xanh

Bỏ phố thị về miền đất quê anh
Đêm ngắm trăng thanh soi mình trên cát
Chiếc thuyền nan chòng chành nghe biển hát
Làn gió nam man mát phía chân trời

Thời gian ơi! Lời yêu thương vời vợi
Nơi làng quê ấm áp khói lam chiều
Chùa An Thái ngân tiếng chuông chầm chậm
Núi Phượng Hoàng sừng sững chắn bão giông

Cuộc sống buồn vui san sẻ cùng chồng
Có mệt mỏi không giận hờn oán trách
Tìm hạnh phúc ở trong từng trang sách
Trong bát chè xanh sóng sánh vị quê mình!

Nghệ An, 15.5.2024
Mai Khoa

Mai Khoa là hội viên Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh. Mảnh đất phương Nam là nơi vợ chồng chị và con cháu chọn làm nơi định cư đã mấy chục năm. Chị vốn là gái gốc nội thành Hà Nội. Tuổi thanh xuân, từng là vận động viên bóng bàn trong quân đội. Rồi theo tiếng gọi tình yêu, Mai Khoa kết duyên với chàng trai biển Quỳnh xứ Nghệ. Quê chồng có nhà cửa, vườn tược, có tông tộc và tình làng nghĩa xóm – nơi bao năm qua, từ thuở xanh mái đầu đến nay đà bạc tóc, ở vào cái tuổi “cổ lai hy”, Mai Khoa vẫn luôn có những chuyến “theo chồng về quê”.

Vì thương nhau mà bén duyên chồng vợ. Chị yêu anh như “tình biển yêu thuyền”, bất chấp xa cách, chẳng nệ giàu nghèo, không âu lo kẻ miền quê “gió Lào cát trắng” - người kinh kỳ, thanh lịch Tràng An. Thời ấy, quyết định này phải nói là dũng cảm! Vì thế, ngay trong khổ thơ mở đầu, Mai Khoa có hai câu thơ tự nhiên mà hồn hậu, khăng khít, vấn vít nghĩa tình, duyên nợ keo sơn, với một hình ảnh thơ đậm chất dân ca, giàu gợi cảm và đầy tinh thần chủ động: “Nghĩa vợ chồng chẳng bao giờ hết nợ / Sợi tơ hồng em xe chỉ luồn kim”. Tình yêu vô bờ bến và trong trẻo ấy khiến Mai Khoa cả đời như chưa dứt nợ. Và điều đó cũng chứng tỏ, chàng trai xứ Nghệ của chị có sức hấp dẫn đến mức nào…

Anh ấy thật hạnh phúc vì trong đời có người vợ – người yêu anh và yêu tất cả những gì dung dị, nghèo khó, gian khổ của quê anh, từ thuở hàn vi đến bây giờ đủ đầy của ăn của để. Không biết chuẩn mực của cái thời “Một mái nhà tranh, hai trái tim vàng” có chi phối tình nồng của họ không. Nhưng đọc cả bài thơ, như được dõi theo suốt hành trình cuộc đời, ta luôn thấy Mai Khoa thi vị hóa những giá trị vật chất và tinh thần ở nơi quê chồng. Tuyệt đối không thở than, “không giận hờn oán trách”. Nhờ thế, chị đã tạo nên trùng điệp những hình ảnh thơ dung dị mà ăm ắp yêu thương, ngập tràn cảm xúc: “Câu ví dặm ân tình sâu đậm / Có vườn trầu ngan ngát hương cau / Đất miền Trung sỏi đá bạc màu / Người xứ Nghệ luôn giàu lòng nhân ái… Dịu dàng như cỏ cây hoa trái… Lam giang vời vợi trong xanh… Trăng thanh soi mình trên cát… Thuyền nan chòng chành nghe biển hát… Gió nam man mát phía chân trời… Làng quê ấm áp khói lam chiều / Chùa An Thái ngân tiếng chuông… Núi Phượng Hoàng sừng sững chắn bão giông…”. Thật là nặng lòng, không chê quê xa - quê nghèo khó. Yêu thế mới là yêu!

Cho tới hôm nay, vợ chồng Mai Khoa đã dắt tay nhau đi đến chặng cuối của đường đời, chị mới thổ lộ ý nguyện từ thuở thanh tân, làm kim chỉ nam, làm nguyên tắc sống: “Điều ước ao em mải miết kiếm tìm / Một miền quê nơi đất lành chim đậu”. Và tất nhiên, như chúng ta ai cũng biết, suốt một đời chăn gối, chẳng phải bao giờ cũng “cơm lành, canh ngọt” cả đâu. Nhưng nếu biết giữ nguyên tắc sống như thế, biết tôn thờ duyên kiếp, chấp nhận nhau, thì:

“Cuộc sống buồn vui san sẻ cùng chồng / Có mệt mỏi không giận hờn oán trách / Tìm hạnh phúc ở trong từng trang sách / Trong bát chè xanh sóng sánh vị quê mình!”

Hai tiếng “quê mình” ở cuối bài khác hẳn với “miền đất quê anh” ở phần mở bài. Nó là cả một quá trình “tự diễn biến – tự chuyển hóa”. Bây giờ nghe sao mà lịm ngọt yêu thương! Keo sơn và nồng nàn, gắn kết…

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm