TIN TỨC

Tôi đọc thơ bố tôi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-03-10 07:31:46
mail facebook google pos stwis
2064 lượt xem

LS NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
(Con gái bố Tâm)


LS Nguyễn Thị Minh Phương bên bố Tâm

Thủa đó, cậu bé Tâm giỏi văn nhất vùng, người đã từng viết một bài thơ đầy tâm huyết gửi cô hiệu trưởng của trường mình khiến cô rất xúc động. Theo truyền thống gia đình, tình yêu thơ ca như lẽ tự nhiên, là hơi thở, là niềm vui của cậu bé. Tình yêu ấy theo chân chàng lính trẻ đi dọc Trường Sơn bảo vệ quê hương, đất nước. Những vần thơ tràn đầy nhân văn, mang nhiều hy vọng, nỗi nhớ da diết, yêu thương nồng nàn... vượt qua một thời lửa đạn để về với ông bà nội tôi. Đến nay, tôi còn nhớ những câu thơ bố tôi viết từ chiền trường 50 năm trước.

“Con đi đã mấy năm rồi

Trường Sơn đọng lại một trời nhớ thương

Chưa lần thăm lại quê hương

Cũng vì đất nước yêu thương chưa về…

“ ... Phía trước mặt chập chùng rừng núi

Đầy trời màu lửa khói chiến chinh

Sau lưng là cả quê mình

Quê hương làng xóm gia đình người thân.

Mắt khao khát mẹ trông cha đợi

Lòng ước ao em hỏi anh đâu?

Đáp lời tiếng vọng rừng sâu

Bóng hình con vẫn khuất sau núi ngàn…”

… “Mấy năm rồi vui trong chiến tuyến

Sống cuộc đời chinh chiến xông pha

Nóng nung, bão táp mưa sa

Rèn thêm nghị lực mà qua hiểm nghèo.

Nên con đã lớn nhiều hơn trước

Cùng anh em vững bước tiến lên

Đến nay trí vững gan bền

Sẵn sàng cầm súng dẫm lên đầu thù.

Mấy năm rồi sống trong lửa đạn

Đường hành quân có bạn trăng sao

Suối sâu dốc đứng đèo cao.

Bốn bề pháo khoét bom đào đau thương…”

(1973)

Người ta thường bảo "nghề chọn mình", đúng vậy đối với chàng lính trẻ. Rời quân ngũ quay trở lại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, khóa đầu tiên của Khoa Luật vừa mới bắt đầu nên số phận đẩy đưa, chàng lính trẻ Nguyễn Minh Tâm không được học văn mà bước vào học Luật, ra trường tiếp tục hành trình bảo vệ: bảo vệ công lý, bảo vệ số phận pháp lý của con người. Đúng như một định mệnh, nghề Luật đã chọn ông nên hôm nay chúng ta biết đến Nguyễn Minh Tâm, trước hết là một Luật sư và sau đó là nhà thơ đầy tâm huyết với nghề, người đã đau đáu trước bao số phận của thân chủ và nói lên tiếng lòng qua những bài viết, qua những vần thơ.

... Trái tim thì vẫn đỏ tươi
Tâm thành vẫn vẹn một lời thủy chung
Đường nghề gian khó không cùng
Gió mưa trộn với bão giông đầy trời...

Năm 1990, dù thời bao cấp còn khó nghèo, bố tôi - nhà báo, luật sư Nguyễn Minh Tâm đã chính thức ra mắt tác phẩm đầu tiên, tập truyện "Kẻ cô đơn", trong những câu chuyện đó cũng chứa đựng những số phận pháp lý của những con người có thật trong hành trình đi tìm công lý dẫu gian nan, hiểm nguy chực chờ.

Tôi nhớ mãi những đêm khuya với ngọn đèn leo lét, bóng ông gù xuống in trên vách tường, ngón tay như múa trên chiếc máy chữ cũ kỹ, dáng ông trầm tư, tiếng ông thở dài… để rồi sáng mai ông lại hăm hở tiếp tục bước vào những thách thức đang chờ phía trước.

… Thân tâm dù có mệt nhoài

Dẫu cho thăm thẳm đường dài, cứ đi

Ai đó từng nói nghề Luật là một nghề khô khan, cạn tính nhân văn, nhưng có ai biết có những ngày cả một đám người xăm mình vằn vện, hùng hổ đứng trước cổng toà la ó, hăm doạ? Có ai biết, có những đêm phải cài chặt then cửa trong những tiếng lao xao bên ngoài? Có ai biết??? 

 

Nhưng giống như bom đạn đã tránh ông cả một thời khói lửa, tấm lòng của ông, cái tâm của người sáng trước mỗi vụ án đã cảm hoá, đã chạm đến sâu thẳm trái tim của mỗi con người.

 … Trăm năm trọn một kiếp người

Tu tâm dưỡng tính, một đời thiện ngôn

Sớm khuya thanh lọc tâm hồn

Nuôi dòng cảm xúc - cội nguồn thơ ca

Hoà trong Trời - Đất bao la

Cuộc đời cứ thế nở hoa bốn mùa.

Dù với ai nghề Luật là thế, nhưng với bố tôi nhìn nghề Luật bằng ánh mắt của nhà thơ, ông đã rót vào thơ những cung bậc cảm xúc, gửi tiếng lòng mình chất chứa những nỗi niềm và hy vọng. Sau mỗi trăn trở, niềm đau, mỗi niềm vui ngoài những bài báo, bài viết thì ông còn gửi cả vào thơ, tôi còn nhớ, nhiều lần khi tôi còn bé, nửa đêm đang ngủ ông đánh thức tôi dậy chỉ để khoe một ý thơ vừa nảy, ví dụ như:

Đừng tưởng ở thiên đường chỉ có những ông quan

Tận tuỵ, thanh liêm, công bằng chính trực

Rộng mở lòng trời thương dân hết mực

Và Thượng đế lúc nào cũng mong cho hạ giới bình an…

Có trải qua những tháng ngày gian khó, hiểm nguy, của những cái LẠNH lẽo của nghề, của đời mới hiểu thấu, mới cảm nhận được sự ẤM áp của tình người, của lương tri, của nụ cười ngập nước mắt nhưng tràn đầy tin tưởng, tươi vui vẫn còn đó trong cuộc sống này.

Tập thơ “Ấm Lạnh Pháp Đình” - tập thơ tiên phong viết nên những tâm tư, trăn trở của nghề Luật đã được gửi đến tay bạn đọc sau bao tháng ngày tháng ấp ủ.

Mở đầu tập thơ là những trăn trở, thương cho những thân phận như cánh bèo chìm - nổi giữa pháp đình.

“… Nắng mưa ấm lạnh pháp đình

Thương bao thân phận bập bình nổi trôi”

 

Xuyên suốt tập thơ là những cung bậc cảm xúc, tâm tư, suy nghĩ về nghề, về phận đời của mỗi con người đã, đang và sẽ có thể gặp thấp thoáng đâu đó trong cuộc đời này. Tập thơ cũng là lời nhắc, là kinh nghiệm, là ước mong, là bài học cho những thế hệ thẩm phán, thế hệ luật sư trẻ tiếp nối sau này:

… Lương tâm bài học một thời

Cha ông đã dạy làm người có nhân

Chữ rằng nảy mực cầm cân

Nhớ câu giữ lấy lòng dân hỡi người

Chỉ mong với tấm lòng vơi

Góp thêm chút nắng cho đời ấm lên…

 

Khép lại tập thơ là sự lạc quan, là niềm tin vào ánh bình minh rực rỡ ấm áp, vào ánh sáng dịu của vầng trăng nhẹ nhàng, là hy vọng vào những điều tốt đẹp về con người, về cuộc sống.

… Phải kiên trì nhẫn nại

Trái tim thắp sáng mình

Khi vượt qua đêm tối

Sẽ oà một bình minh

… Ta vẫn giữ một niềm tin có thật

Vầng trăng kia sẽ toả sáng bầu trời

Như Công lý dẫu xa mờ trong đục

Sẽ có ngày như Trăng đấy, Trăng ơi…”

Con nghĩ thế nào thì viết thế, cảm ơn bố, người đã truyền thêm ngọn lửa nghề cho con gái qua tập thơ này.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm