TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI

Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-15 22:46:45
mail facebook google pos stwis
578 lượt xem

ĐẶNG THỊ THÁI HÀ

Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỉ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.

1. Văn học dịch và những gợi mở về kĩ thuật viết

Rất nhiều tên tuổi lừng lẫy của dòng văn học tinh hoa trên thế giới (cả kinh điển lẫn đương đại) đã xuất hiện trong không gian văn học dịch Việt Nam giai đoạn này, trong đó có thể kể tới: Marcel Proust, Franz Kafka, Milan Kundera, Gunter Grass, Orhan Pamuk, Cao Hành Kiện… và nhiều tác giả nữ nổi bật như Toni Morrison, Margaret Atwood… Việc dịch thêm các tác phẩm kinh điển trong quá khứ và cập nhật các tác phẩm được giải thưởng lớn trên thế giới theo từng năm vừa tạo ra một áp lực đối trọng, buộc các tác giả Việt Nam phải có những chuyển dịch về tư tưởng và bút pháp, vừa cung cấp những gợi dẫn trong thực hành sáng tác. Chẳng hạn, tính phi lí trong truyện của Kafka, thủ pháp dòng ý thức trong tác phẩm của Marcel Proust, William Faulkner, Cao Hành Kiện… có lẽ là những lối viết đi vào nhiều nhất trong các sáng tác thuộc dòng văn học đặc tuyển ở Việt Nam.

Văn học Nga tiếp tục được dịch. Nếu ở các giai đoạn trước đó, các tác phẩm được dịch chủ yếu thuộc mảng văn học xã hội chủ nghĩa thì đến hiện tại, tác phẩm của một loạt các tác giả Nga hải ngoại nổi tiếng được chọn dịch, trong đó nhiều nhất có lẽ là Vladimir Nabokov với một loạt các ấn bản liên tiếp như LolitaTiếng cười trong bóng tốiMỹ nhân NgaPhòng thủ Luzhin… Bên cạnh đó, có thể kể tới Mikhail Bulgacov với Những quả trứng định mệnhNghệ nhân và Margarita; Ivan Bunin với Quý ông từ San Francisco đếnNhững lối đi dưới hàng cây tăm tối… Việc dịch các tác phẩm văn học Nga hải ngoại đem đến cho không khí thưởng thức một cảm giác vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Nó “tái định hình” một hình dung khác về văn chương Nga, thoát khỏi những mô thức quen thuộc kiểu “định hướng xã hội chủ nghĩa”, đồng thời đưa lại cho người đọc nhiều trải nghiệm mới và đa dạng về lối viết.

Bên cạnh đó, có lẽ cần nhắc tới một mảng quan trọng trong dịch thuật là các tác phẩm lí luận-phê bình văn học. Giai đoạn đầu thế kỉ 21 có lẽ là một trong những thời kì các ấn bản lí thuyết phê bình văn chương của nhiều trường phái khác nhau được dịch nhiều nhất, phong phú và đa dạng nhất. Động thái dịch thuật này, đương nhiên, có những tác động và ảnh hưởng nhất định đến giới cầm bút ở Việt Nam, đôi khi gắn với những bước chuyển rõ nét trong lối viết và bút pháp của các thế hệ nhà văn. Trước hết, có thể kể tới Nghệ thuật như là thủ pháp: Lí thuyết Chủ nghĩa hình thức Nga của Roman Jakobson, được dịch và xuất bản vào năm 2001. Việc dịch công trình lí thuyết Nghệ thuật như là thủ pháp là một hiện tượng dịch quan trọng của dịch lí luận-phê bình giai đoạn này. Nó không chỉ được đón nhận từ phía giới nghiên cứu-phê bình văn học mà còn gây ấn tượng với giới sáng tác, là một trong những lực thúc đẩy nhà văn Việt Nam kiên quyết chối bỏ, vượt thoát những định kiến cũ mèm về văn chương, về trách nhiệm xã hội mà văn chương thường bị “tròng” lên vai từ xưa đến nay, để có thể dấn thân trọn vẹn hơn vào cuộc chơi ngôn ngữ, chơi thủ pháp, vào những sáng tạo theo nguyên tắc “lạ hóa”, trả nghệ thuật về cõi riêng của nó, vừa độc lập, vừa có khả năng gây hấn với sự nhàm chán buồn tẻ của những “cái thường ngày”.

Mikhail Bakhtin, dù đã bắt đầu được dịch từ những năm 1993 với cuốn Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiepski, đến giai đoạn này, hai công trình quan trọng nhất của ông được dịch thêm là: Lí luận và thi pháp tiểu thuyếtSáng tác của Francais Rabelais và nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng. Những ấn bản sách dịch các nghiên cứu của Bakhtin, một lần nữa, không chỉ làm thay đổi cách nhìn của các nhà nghiên cứu phê bình trong việc phân tích các tác phẩm văn chương, mà còn mở ra rất nhiều hướng mới cho sáng tác, đặc biệt là tiểu thuyết. Tính đa thanh, đối thoại được nâng lên thành đặc trưng của tiểu thuyết. Điều này cũng thúc đẩy các nhà văn Việt rời xa dần quỹ đạo của tiếng nói sử thi độc thoại trước đó để hướng tới một cái nhìn đa chiều hơn, một sự pha trộn giọng điệu sống động hơn trong các tác phẩm của mình. Những thi pháp tiểu thuyết quan trọng như giễu nhại, tính không hoàn kết, thì hiện tại chưa hoàn thành… cũng xuất hiện ngày một nhiều hơn trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam giai đoạn này. Ngoài ra, có thể kể thêm một số cây bút lí luận tiêu biểu của chủ nghĩa cấu trúc cũng được dịch ở giai đoạn này như Yuri Lotman với Cấu trúc văn bản nghệ thuật; Tzevan Todorov với Thi pháp văn xuôiDẫn luận về văn chương kì ảoVăn chương lâm nguy… Mảng sách dịch này, có thể nói, càng nhấn mạnh việc coi mỗi tác phẩm văn chương như một “công trình kiến trúc” đầy tính nghệ thuật.

Các lí thuyết gia thuộc hướng giải cấu trúc như Roland Barthes và Foucault cũng đã và đang được dịch ở Việt Nam, chẳng hạn có thể kể tới Những huyền thoại của Roland Barthes, Giám sát và trừng phạt – Nguồn gốc nhà tù của Michael Foucault. Công trình của một tác gia giải cấu trúc quan trọng khác là Gilles Deleuze cũng đã được dịch: Kafka – Vì một nền văn học thiểu số. Những văn bản này, cùng với một công trình nền tảng của hậu hiện đại là Hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean Francois Lyotard đã đem lại một không khí mới cho bối cảnh văn học đương đại.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Bên cạnh đó, có thể kể thêm những hướng phê bình văn học khác cũng được dịch và giới thiệu trong giai đoạn này, chẳng hạn xã hội học văn học (với Quy tắc của nghệ thuật: sự sinh thành và cấu trúc của trường văn chương của Pierre Bourdieu), phê bình sinh thái với cuốn Phê bình sinh thái là gì? trong đó tuyển dịch những bài luận của các tác giả kinh điển nhất như Peter Bary, Kate Rigby, Richard Kerridge…; và gần đây hơn cả là phê bình nữ quyền với các công trình dịch tiêu biểu như Lịch sử vú của Marilyn Yalom, Rắc rối giớiCác thuật ngữ then chốt của nghiên cứu giới. Những hướng dịch thuật này, không ít thì nhiều, mài sắc thêm nữa ý thức giới và nữ quyền, ý thức sinh thái và góc nhìn xã hội của những cây bút đương thời, hứa hẹn sẽ đem lại những bước chuyển mới cho văn học Việt.

2. Ảnh hưởng của văn học dịch nhìn từ các ấn phẩm đại chúng

Ngoài dòng sách dịch được tạm phân loại là dòng văn học tinh hoa, thế kỉ 21 thực sự là giai đoạn đánh dấu một sự bùng nổ của việc chuyển ngữ tức thời tất cả những ấn phẩm đang gây “sốt” trên thế giới, những cuốn sách được xếp vào hàng “best-seller”, và những tác phẩm thuộc các dòng văn học đại chúng đang càng ngày càng có thêm lượng độc giả đông đảo, đặc biệt là thế hệ trẻ. Văn học ngôn tình Trung Quốc, các thể loại du kí, trinh thám, giả tưởng, fantasy là các thể loại có được thành công ấy. Chính sự ồ ạt của thị trường sách dịch này sẽ đưa lại sự bung nở trong sáng tác của bản thân các tác giả trong nước để vừa như một sự hồi ứng, vừa như một nỗ lực cất lên tiếng nói của riêng mình.

Dù vậy, trước khi đi vào những thể loại đại chúng này, có lẽ nên bắt đầu bằng một trường hợp nằm ở đường biên giao thoa giữa tinh hoa và đại chúng là Murakami Haruki. Tác phẩm đầu tiên của Murakami được dịch sang tiếng Việt là Rừng Na Uy. Ngay sau khi cuốn sách này ra đời và tạo được cơn sốt trong công chúng đón nhận tại Việt Nam, liên tục các tác phẩm khác của ông được dịch và xuất bản: Biên niên kí chim vặn dây cótPhía nam biên giới, phía tây mặt trờiKafka bên bờ biển… Với Murakami, độc giả Việt và độc giả thế giới dường như được đem tới một luồng gió mới trong hình dung về đất nước mặt trời mọc, bứt thoát khỏi nỗi bi cảm vốn được mặc định là một phần tất yếu của Nhật Bản. Việc các tác phẩm của Murakami trở thành hiện tượng thống lĩnh thị trường sách dịch Việt không những cho thấy sự xuất hiện của một lớp độc giả mới đã sẵn sàng đón nhận các giá trị mới đậm cảm quan phương Tây, mà chắc chắn đưa lại cả những tác động (dù có ý thức hay không ý thức) tới những cây bút mới đương thời. Cơn sốt Rừng Na Uy có khả năng cao đã khơi mở một cái nhìn phóng khoáng, nhưng cũng đa chiều hơn về tính dục ở các cây bút Việt trẻ. “Sex” không chỉ còn là tiếng nói bản năng của con người, mà còn là một cách để phơi bày nỗi cô đơn bản thể và niềm khát khao kết nối của một thế hệ hoang mang mất niềm tin, mất gắn kết với quá khứ.

Từ góc nhìn đại chúng, truyện tình cảm phương Tây hay truyện ngôn tình Trung Quốc là một trong những mảng được dịch nhiều nhất (cả chính thống và online), cũng có một đời sống sôi động thực sự trong ngành xuất bản phát hành và để lại những dấu ấn đậm nét trong sáng tác của các nhà văn Việt. Về truyện tình cảm phương Tây, không thể không kể tới Marc Levy, một nhà văn Pháp. Tác phẩm của ông được dịch khá nhiều ở Việt Nam, gây dựng được một lượng fan hùng hậu, và là một trong những tác giả nước ngoài thuộc hàng best-seller. Có thể dẫn ra một số tiểu thuyết của Marc Levy được dịch như Và nếu như chuyện này là có thậtKiếp sau, Em ở đâu… Kể từ 2006, sau khi bản dịch Xin lỗi em chỉ là con đĩ của Tào Đình do Trang Hạ dịch được xuất bản, một cơn lốc đọc và dịch truyện ngôn tình được khởi xướng, và càng ngày càng mạnh mẽ hơn song song với tốc độ phổ cập chóng mặt của mạng internet. Dấu ấn của thể loại truyện tình cảm (hay ngôn tình theo cách gọi của Trung Quốc), không khó để nhận ra, khá rõ nét ở các tác giả trẻ Việt giai đoạn này như Iris Cao, Hamlet Trương, Anh Khang, Tuệ Nhi, Gào, Phan Ý Yên… Không chỉ thế, khi các thể loại như đam mĩ, bách hợp trở nên quen thuộc với độc giả Việt, các tác phẩm về đề tài đồng tính như Dị bản của Keng, Cây rắn lục của Vũ Đình Giang, Thành phố không lạc loài của Phạm Thành Trung (Lê Anh Hoài chấp bút), Lạc giới của Thủy Anna, Đời Call Boy của Nguyễn Ngọc Thạch… lần lượt xuất hiện và thu hút được sự quan tâm của bạn đọc.

Thêm một điểm đáng chú ý có thể thấy trong văn học đại chúng giai đoạn đầu thế kỉ 21 là sự nở rộ về thể loại du kí của các cây bút nữ. Những tác phẩm du kí nữ thuộc hàng best-seller của cả phương Đông và phương Tây được dịch trong giai đoạn này như Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân, Đảo tường vi của An Ni Bảo Bối, Ăn, Cầu nguyện và Yêu của Alizabeth Gilbert cũng có thể được nhìn nhận như một “cú hích” góp phần khuyến khích và thúc đẩy một thế hệ nữ trẻ trung lên đường, xê dịch và viết về hành trình xê dịch của chính mình. Những chuyến đi và những ghi chép này ít nhiều đã là nguồn cảm hứng cho cây bút Việt. Nguyễn Chí Linh – tác giả cuốn du kí Trên con đường tơ lụa Nam Á chia sẻ, tác phẩm này được viết từ niềm say mê khi đọc Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân.Có thể kể tên rất nhiều tác giả nữ đã làm nên sự nổi dậy của một dòng du kí Việt Nam giai đoạn này như Dương Thụy, Nguyễn Phương Mai, Trang Hạ, Phan Việt, Huyền Chip, Uyên Nguyên, Trang Nguyễn... Hình ảnh Trang Hạ nằm lên chiếc xe máy hầm hố cùng tuyên bố “Đời ta là những chuyến xe” được đăng công khai trên blog cá nhân có thể được xem như lời tuyên ngôn cho các cây bút du kí nữ thời đại mới, khi dịch chuyển và trải nghiệm du hành không còn là độc quyền của nam giới. Xách ba lô lên và đi của Huyền Chip cũng được đánh giá như một bước khởi đầu quan trọng của trào lưu này. Tây Ban Nha, hành trình không ngôn ngữ của Uyên Nguyên ghi lại những trải nghiệm của một cô gái quyết định kiếm tìm một khóa học tự túc ở trời Tây để từ đó, có cơ hội hòa mình vào một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới. Trở về nơi hoang dã của Trang Nguyễn lại là hành trình năm năm của một cô gái bé nhỏ nhưng gan dạ ở một nơi chốn vốn được cho là khắc nghiệt nhất: châu Phi. Hành trình này, trước hết, là để thỏa mãn niềm khát khao “thám hiểm”, và thứ nữa, là một hành trình theo đuổi đam mê của một nhà bảo tồn động vật hoang dã. Trở về nơi hoang dã, bởi thế, không chỉ là một chuyến đi thỏa mãn những mong muốn cá nhân mà còn là một lời kêu gọi và thức tỉnh trách nhiệm của con người trước lời kêu cứu của môi trường.

Việc dịch các tác phẩm thuộc thể loại fantasy như Harry Potter và cơn sốt mà nó đưa lại đã có thể xem là một gợi ý và truyền cảm hứng cho dòng truyện này ở Việt Nam, với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Phan Hồn Nhiên, Phạm Bá Diệp. Bộ truyện Chuyện xứ Lang Biang của Nguyễn Nhật Ánh xuất bản lần đầu năm 2004 và được tái bản liên tục trong các năm sau đó là một thành công nổi bật của văn học Việt thuộc thể loại này.

Sự cập nhật những bước tiến mới của thể loại khoa học viễn tưởng cũng là một thành tựu khác mà văn học dịch đem lại trong giai đoạn này. Những năm đầu thế kỉ 21, có thể nói, thực sự là khoảng thời gian rực rỡ về mảng dịch thuật truyện viễn tưởng. Trước đó, trong khoảng từ những năm 1945 cho đến trước 2000, khoa học viễn tưởng đã được dịch, chủ yếu là các tác phẩm của Nga và Liên Xô như Vùng đất Xan-nhi-cốp, Những cuộc phiêu lưu của Xe-muy-en Pinh... Một số các tác phẩm sci-fi kinh điển Âu Mĩ cũng đã được dịch ở Việt Nam trước đó có thể kể thêm như các tác phẩm về chủ đề du hành thời gian như Kẻ vượt thời gian của H.G.Wells hay du hành về không gian như Hai vạn dặm dưới đáy biển của Jules Verne. Nhiều tác phẩm văn chương viễn tưởng về hiểm họa và nguy cơ sinh thái, cũng như những tác phẩm đặt lại vấn đề về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên đã được dịch, chẳng hạn: Mùi Adam của Jean-Christophe Rufin, Bộ ba Kiến – Ngày của kiến – Cách mạng kiến của Bernard Werber. Những tác phẩm như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, Chúng tôi của Zevgeny Zamyatin Thế giới mới tươi đẹp của Aldous Huxley, Đấu trường sinh tử của Suzanne Collis… lại đặt vấn đề về sự nguy hiểm của một nhà nước toàn trị dùng công nghệ để kiểm soát người dân một cách phi nhân, bạo lực. Những hình dung viễn tưởng và sự đáng báo động của đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt là nghề y được đề cập trong các tác phẩm như Thế giới nghịch của Michael Crichton. Trong câu chuyện này, tác giả tập trung vào những hệ lụy đáng sợ của các tiến bộ về nghiên cứu gen. Thay vì chỉ dừng lại việc ca tụng các đột phá trong nghiên cứu di truyền, Thế giới nghịch đặt ra vấn đề đạo đức khoa học khi con người giành quyền năng sáng tạo của Chúa trời, khi đến cả người chết cũng bị đưa lên bàn đấu giá. Cuối cùng, chủ đề người máy và cuộc khủng hoảng nhân tính khi công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển cực độ cũng được đặt ra trong các tác phẩm viễn tưởng đương thời trên thế giới, mà một trong số đó có thể kể tới là một ấn bản đã được dịch mang tên Người máy có mơ về cừu điện không của Phillip K.Dick. Việc dịch truyện viễn tưởng sang tiếng Việt, như thế, có thể nói, đã có những tác động rõ nét đến các sáng tác thuộc thể loại này ở Việt Nam. Có thể kể đến Máu hiếm, Luật chơi, Hiện thân của nhà văn Phan Hồn Nhiên, Thiên Mã của nhà văn Hà Thủy Nguyên, Nym – Tôi của tương lai của Nguyễn Phi Vân...

Cuối cùng, có lẽ cần nhắc tới sự nở rộ và đa dạng hóa thể loại trinh thám ở Việt Nam – một hiện tượng có lẽ đa phần cũng được đem lại qua con đường dịch thuật. Trước thế kỉ 21, trinh thám cũng là một thể loại đã được dịch khá nhiều ở Việt Nam. Một trong những mảng trinh thám đầu tiên được dịch là tiểu loại trinh thám-phản gián chủ yếu được dịch từ văn học Xô Viết, chẳng hạn: Vụ bắt cóc thế kỉ của Valixi Arđamátxki. Sang đến thế kỉ 21, việc dịch truyện trinh thám trở nên phong phú đa dạng hơn. Các tác giả trinh thám Âu-Mĩ như Dan Brown (với Pháo đài số, Thiên thần và ác quỷ...), Agatha Christie (với Thời khắc định mệnh, Những chiếc đồng hồ kì lạ…) được dịch. Không chỉ thế, các tác giả trinh thám-kinh dị Nhật Bản cũng được dịch như Kiego Higashino, Natsuo Kirino… Theo đó, trinh thám Việt Nam cũng dần bước ra khỏi được mô hình thể loại tình báo-phản gián trước đó (kiểu Ván bài lật ngửa của Trần Bạch Đằng) để hình thành một dòng văn học trinh thám đa dạng trẻ trung hơn với những cái tên như: Di Li, Giản Tư Hải, Bùi Anh Tấn, Kim Tam Long…

Di Li được coi là một hiện tượng mới của truyện trinh thám-kinh dị Việt Nam, trước Trại hoa đỏ, cô đã từng xuất bản hai cuốn sách khá thành công cùng thuộc thể loại này là Tầng thứ nhất và Điệu Valse địa ngục. Với Trại hoa đỏ, Di Li đẩy người đọc vào một cuộc phiêu lưu đầy bất ngờ mới, với vô số những bí ẩn không dễ khám phá, những vướng mắc không thể giải quyết, những âm mưu không dễ gì ngăn chặn. Đây được coi là tác phẩm đặt nền tảng cho kiểu loại trinh thám-thriller của Việt Nam. Ngoài ra có thể kể đến những cây bút trinh thám đương đại tiêu biểu nhất như Giản Tư Hải với Âm mưu thay nãoMật mã ChampaMinh Mạng mật chỉ; Kim Tam Long với Mặt nạ trắngẨn ức trắng, Nguyễn Dương Quỳnh với Thăm thẳm mùa hè... Nếu tác phẩm của Giản Tư Hải xoay quanh những bí mật và tội ác ở tầm vĩ mô, cùng nhịp điệu trần thuật nhanh, kịch tính kiểu Dan Brown thì Kim Tam Long khéo léo kết hợp các yếu tố quỷ ma kinh dị và ý thức đan cài những cuộc chơi cấu trúc. Nếu Nguyễn Dương Quỳnh được mệnh danh là “Di Li thứ hai”, thì Đức Anh dùng những kĩ thuật vô cùng quen thuộc của trinh thám thế giới như kĩ thuật vòng tròn. Mỗi gương mặt, mỗi cây bút lại có một giọng rất riêng, đầy tính hiện đại và mới mẻ của một thế hệ lớn lên trong một thời đại mà mảng văn học dịch trinh thám đang đạt tới thời kì rực rỡ.

Phần viết, như thế, điểm lại một số ảnh hưởng của văn học dịch đến đời sống tiếp nhận, và đặc biệt đến các sáng tác văn chương Việt. Dù ở mảng văn học tinh tuyển hay đại chúng, văn học dịch cũng để lại những dấu ấn đa dạng và nhiều gợi mở. Dịch thuật, bởi vậy, có thể được nhìn như một hướng để mở rộng trường giao tiếp và đối thoại văn chương, từ đó, có những bài học và hướng đi riêng. Những “trải nghiệm đọc khác” mà dịch thuật mang lại đã và sẽ còn nhiều hứa hẹn trong tương lai. Bên cạnh dịch văn học, mảng dịch thuật các công trình lí thuyết-phê bình văn chương cũng được phân tích, trong sự gắn kết với bước chuyển về mô hình và tư duy sáng tác ở bối cảnh Việt Nam. Tác động của dịch thuật, bởi vậy, cần được nhìn từ điểm nhìn tương tác đa chiều, không chỉ với một cộng đồng độc giả đại chúng, với “tầm đón đợi cao” của giới lí luận phê bình, mà cả với chính những người sáng tạo.

Đ.T.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm
Phạm Trung Tín và 6 ô cửa
Gặp gỡ Phạm Trung Tín một ít lâu, tôi vẫn chưa mở hết sáu ô cửa thơ của anh. Nhưng thời gian như bóng ngựa, nhắc tôi nhìn ngang qua từng ô cửa, tâm hồn Phạm Trung Tín hiện ra, dẫu còn mờ ảo, nhưng chỉ cần một mảng thôi là cũng có góc nhìn về anh rồi.
Xem thêm
Nhật ký chiến trường của người con ra đi từ bản Panh
Trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ, bên cạnh những tên tuổi quen thuộc, vẫn có những tiếng thơ lặng lẽ nhưng bền bỉ, mang theo hơi thở chân thực của chiến trường và dấu ấn riêng của một vùng văn hóa. Cầm Hùng, người con dân tộc Thái sinh ra tại bản Panh, Chiềng Xôm (Sơn La) là một trong những gương mặt như thế.
Xem thêm
“Áo trắng” của Huy Cận - Những tha thiết và lắng sâu
o trắng là bài thơ mới bảy chữ, bốn khổ mà nghệ thuật tập trung nhất quán trong một khổ như một bài tứ tuyệt: ba vần bốn câu, phá trắc, vần bằng. Ngôn ngữ bài thơ rất dung dị, ít dùng tu từ hơn thơ Hàn Mặc Tử, nhịp thơ trầm lắng thiết tha, Áo trắng có dịp đưa ta trở về với không gian tình cảm êm đềm thơ mộng của những ngày xưa thân ái. Áo trắng là một bài thơ trữ tình, ấm nồng xúc cảm tuổi xuân, một viên ngọc thơ xinh xắn trong tập “Lửa thiêng” của Huy Cận, ra đời cách nay ngót bảy thập kỷ mà chất lửa của nó vẫn còn thiêng!
Xem thêm
Phạm Thiên Thư - Người vẽ tranh bốn mùa
Chỉ bằng vài nét chấm phá, tác giả đã dựng nên một không gian đậm chất Đường thi: có thuyền, có trăng, có tiếng chuông ngân giữa dòng thu tĩnh lặng. Tuy nhiên, cái mới của Phạm Thiên Thư nằm ở khả năng hòa trộn chất cổ điển với nhạc tính hiện đại. “Chuông trăng rì rào” là một liên tưởng rất lạ: âm thanh dường như tan vào ánh sáng, ánh sáng lại hóa thành nhịp điệu.
Xem thêm
Dịch văn học và sự kiến tạo hạng mục của văn học dịch trong văn học Việt Nam đương đại
Bước sang thế kỉ XXI Việt Nam nhanh chóng thích ứng với xu thế toàn cầu hóa. Định hướng xã hội chủ nghĩa đi cùng việc xây dựng nền kinh tế thị trường, Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, ổn định trật tự xã hội, hướng tới kiến tạo nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Lập trường ý thức hệ không còn được tô đậm khiến cho giao lưu văn hóa quốc tế trở nên sâu rộng, giao lưu dịch thuật văn học trở nên phong phú và hết sức đa dạng. Theo đó, 25 năm đầu thế kỉ XXI ghi nhận sự hiện diện sôi động nhất của văn học dịch và dịch văn học Việt Nam. Chưa lúc nào như lúc này, bạn đọc Việt Nam được tiếp nhận đa dạng và cập nhật đến thế đời sống văn học ở các nền văn học lớn trên thế giới, như Pháp, Mĩ, Anh, Đức, Ý, Mĩ Latin, Nga và Đông Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và phần nào đó của Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á.
Xem thêm
‘Chân cứng đá mềm’ bỏ bùa độc giả
‘Chân cứng đá mềm’ là cuốn hồi ký thứ ba của đạo diễn Xuân Phượng, vừa có buổi ra mắt sáng 29/5 tại TP.HCM, thu hút đông đảo công chúng và văn nghệ sĩ.
Xem thêm
Nghìn nghi lễ tình: Một thi pháp nghi lễ của bản thể
Trong đời sống hiện đại, thơ thường bị đẩy về hai phía, hoặc trở thành diễn ngôn cảm xúc cá nhân, hoặc trở thành một thử nghiệm ngôn ngữ thuần kỹ thuật. Nghìn nghi lễ tình của Nhật Chiêu không thuộc về cả hai khuynh hướng ấy. Tập thơ này đặt ra một vấn đề căn bản hơn, thơ tồn tại để làm gì trong đời sống tinh thần con người?
Xem thêm
Khúc ca tiễn biệt: Nơi hoàng hôn uống cạn và thơ ca bất tử
Trong cõi nhân sinh mịt mùng và hữu hạn, điều gì có thể níu giữ bước chân của một người lữ khách khi họ đã rũ áo về miền mây trắng?
Xem thêm
Tiếng thơ Phùng Văn Khai sẽ đi qua trăm năm
Tôi xin kinh ngạc sức lao động viết, tôi xin kinh khiếp những “Thơ viết cho mình” của nhà thơ quân đội Phùng Văn Khai.
Xem thêm
Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung
Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sỹ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình và văn nghệ dân gian phối hợp cùng Chi hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tại Phú Thọ) đã kết thúc nhưng dư âm còn vang ngân, không chỉ trong tâm trí, mà hiển hiện qua những thi phẩm, những bài ký, tản văn xinh xắn. Trong số những tác phẩm xinh xắn ấy, tôi đặc biệt ấn tượng với bài thơ “Bắc Hà ngày trở lại” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Tung.
Xem thêm
Hoa nở giữa miền hư ảo
Sau mười năm im ắng, sự trở lại của Vũ Thanh Hoa không ồn ào, không cố tạo khác biệt, ngoài cách chọn tên cho ba tập thơ.
Xem thêm
Sự lột xác của Tuệ Mai khi yêu qua tác phẩm “Về phía trời xanh”
​“Động hoa vàng” là một địa chỉ có thực nằm ở hẻm đường Trần Khắc Chân ở Tân Định do cụ bà Quế Lâm mua năm 1956 (tất nhiên tên Động hoa vàng là do Phạm Thiên Thư đặt, vì nhà thơ này rất yêu hoa màu vàng). Từ khi gặp và yêu Tuệ Mai (do nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh giới thiệu), Phạm Thiên Thư như có lực đẩy để sáng tác. Ngoài tác phẩm “Động hoa vàng”, “Đoạn trường vô thanh” mà các nhân vật (trang 30) đều là sự hóa thân của 2 người, (Tuệ Mai – Phạm Thiên Thư), ông còn viết châm ngôn (50 ngàn câu) và nhiều tác phẩm khác mà Tuệ Mai đều tham gia nhuận sắc, lúc ấy Tuệ Mai ở 133/K8 cư xá Đại học đường Trần Hoàng Quân Sài Gòn 5 (nay là Nguyễn Chí Thanh) nhưng bà thường qua lại Động hoa vàng giúp đỡ cụ Quế Lâm coi sóc mọi việc... Họ rất trân trọng quý yêu nhau chỉ đợi đến ngày cử hành hôn lễ, vì thế gia đình Phạm Thiên Thư không chấp thuận đề nghị chia tay cũng như hoán vị từ tư thế một cô dâu trưởng lại thành nghĩa nữ, một người yêu thơ trở thành bạn...
Xem thêm
Nhà thơ Vũ Thanh Hoa: Qua gió mưa lắng lại để đơm hoa
Vũ Thanh Hoa viết khỏe, đều đặn. Có cảm giác thơ chị như dòng nước mát cứ đều đặn chảy, cứ nhè nhẹ thấm sâu vào người đọc. Có nhiều từ mới, đắt, gây hiệu ứng ngạc nhiên và xúc cảm cho người đọc. Đọc lướt rồi đọc lại sẽ thấm cái thâm trầm và mê hoặc trong từng câu thơ chị viết.
Xem thêm