TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI

Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-15 22:46:45
mail facebook google pos stwis
911 lượt xem

ĐẶNG THỊ THÁI HÀ

Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỉ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.

1. Văn học dịch và những gợi mở về kĩ thuật viết

Rất nhiều tên tuổi lừng lẫy của dòng văn học tinh hoa trên thế giới (cả kinh điển lẫn đương đại) đã xuất hiện trong không gian văn học dịch Việt Nam giai đoạn này, trong đó có thể kể tới: Marcel Proust, Franz Kafka, Milan Kundera, Gunter Grass, Orhan Pamuk, Cao Hành Kiện… và nhiều tác giả nữ nổi bật như Toni Morrison, Margaret Atwood… Việc dịch thêm các tác phẩm kinh điển trong quá khứ và cập nhật các tác phẩm được giải thưởng lớn trên thế giới theo từng năm vừa tạo ra một áp lực đối trọng, buộc các tác giả Việt Nam phải có những chuyển dịch về tư tưởng và bút pháp, vừa cung cấp những gợi dẫn trong thực hành sáng tác. Chẳng hạn, tính phi lí trong truyện của Kafka, thủ pháp dòng ý thức trong tác phẩm của Marcel Proust, William Faulkner, Cao Hành Kiện… có lẽ là những lối viết đi vào nhiều nhất trong các sáng tác thuộc dòng văn học đặc tuyển ở Việt Nam.

Văn học Nga tiếp tục được dịch. Nếu ở các giai đoạn trước đó, các tác phẩm được dịch chủ yếu thuộc mảng văn học xã hội chủ nghĩa thì đến hiện tại, tác phẩm của một loạt các tác giả Nga hải ngoại nổi tiếng được chọn dịch, trong đó nhiều nhất có lẽ là Vladimir Nabokov với một loạt các ấn bản liên tiếp như Lolita, Tiếng cười trong bóng tối, Mỹ nhân Nga, Phòng thủ Luzhin… Bên cạnh đó, có thể kể tới Mikhail Bulgacov với Những quả trứng định mệnh, Nghệ nhân và Margarita; Ivan Bunin với Quý ông từ San Francisco đến, Những lối đi dưới hàng cây tăm tối… Việc dịch các tác phẩm văn học Nga hải ngoại đem đến cho không khí thưởng thức một cảm giác vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Nó “tái định hình” một hình dung khác về văn chương Nga, thoát khỏi những mô thức quen thuộc kiểu “định hướng xã hội chủ nghĩa”, đồng thời đưa lại cho người đọc nhiều trải nghiệm mới và đa dạng về lối viết.

Bên cạnh đó, có lẽ cần nhắc tới một mảng quan trọng trong dịch thuật là các tác phẩm lí luận-phê bình văn học. Giai đoạn đầu thế kỉ 21 có lẽ là một trong những thời kì các ấn bản lí thuyết phê bình văn chương của nhiều trường phái khác nhau được dịch nhiều nhất, phong phú và đa dạng nhất. Động thái dịch thuật này, đương nhiên, có những tác động và ảnh hưởng nhất định đến giới cầm bút ở Việt Nam, đôi khi gắn với những bước chuyển rõ nét trong lối viết và bút pháp của các thế hệ nhà văn. Trước hết, có thể kể tới Nghệ thuật như là thủ pháp: Lí thuyết Chủ nghĩa hình thức Nga của Roman Jakobson, được dịch và xuất bản vào năm 2001. Việc dịch công trình lí thuyết Nghệ thuật như là thủ pháp là một hiện tượng dịch quan trọng của dịch lí luận-phê bình giai đoạn này. Nó không chỉ được đón nhận từ phía giới nghiên cứu-phê bình văn học mà còn gây ấn tượng với giới sáng tác, là một trong những lực thúc đẩy nhà văn Việt Nam kiên quyết chối bỏ, vượt thoát những định kiến cũ mèm về văn chương, về trách nhiệm xã hội mà văn chương thường bị “tròng” lên vai từ xưa đến nay, để có thể dấn thân trọn vẹn hơn vào cuộc chơi ngôn ngữ, chơi thủ pháp, vào những sáng tạo theo nguyên tắc “lạ hóa”, trả nghệ thuật về cõi riêng của nó, vừa độc lập, vừa có khả năng gây hấn với sự nhàm chán buồn tẻ của những “cái thường ngày”.

Mikhail Bakhtin, dù đã bắt đầu được dịch từ những năm 1993 với cuốn Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiepski, đến giai đoạn này, hai công trình quan trọng nhất của ông được dịch thêm là: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Sáng tác của Francais Rabelais và nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng. Những ấn bản sách dịch các nghiên cứu của Bakhtin, một lần nữa, không chỉ làm thay đổi cách nhìn của các nhà nghiên cứu phê bình trong việc phân tích các tác phẩm văn chương, mà còn mở ra rất nhiều hướng mới cho sáng tác, đặc biệt là tiểu thuyết. Tính đa thanh, đối thoại được nâng lên thành đặc trưng của tiểu thuyết. Điều này cũng thúc đẩy các nhà văn Việt rời xa dần quỹ đạo của tiếng nói sử thi độc thoại trước đó để hướng tới một cái nhìn đa chiều hơn, một sự pha trộn giọng điệu sống động hơn trong các tác phẩm của mình. Những thi pháp tiểu thuyết quan trọng như giễu nhại, tính không hoàn kết, thì hiện tại chưa hoàn thành… cũng xuất hiện ngày một nhiều hơn trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam giai đoạn này. Ngoài ra, có thể kể thêm một số cây bút lí luận tiêu biểu của chủ nghĩa cấu trúc cũng được dịch ở giai đoạn này như Yuri Lotman với Cấu trúc văn bản nghệ thuật; Tzevan Todorov với Thi pháp văn xuôi, Dẫn luận về văn chương kì ảo, Văn chương lâm nguy… Mảng sách dịch này, có thể nói, càng nhấn mạnh việc coi mỗi tác phẩm văn chương như một “công trình kiến trúc” đầy tính nghệ thuật.

Các lí thuyết gia thuộc hướng giải cấu trúc như Roland Barthes và Foucault cũng đã và đang được dịch ở Việt Nam, chẳng hạn có thể kể tới Những huyền thoại của Roland Barthes, Giám sát và trừng phạt – Nguồn gốc nhà tù của Michael Foucault. Công trình của một tác gia giải cấu trúc quan trọng khác là Gilles Deleuze cũng đã được dịch: Kafka – Vì một nền văn học thiểu số. Những văn bản này, cùng với một công trình nền tảng của hậu hiện đại là Hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean Francois Lyotard đã đem lại một không khí mới cho bối cảnh văn học đương đại.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Bên cạnh đó, có thể kể thêm những hướng phê bình văn học khác cũng được dịch và giới thiệu trong giai đoạn này, chẳng hạn xã hội học văn học (với Quy tắc của nghệ thuật: sự sinh thành và cấu trúc của trường văn chương của Pierre Bourdieu), phê bình sinh thái với cuốn Phê bình sinh thái là gì? trong đó tuyển dịch những bài luận của các tác giả kinh điển nhất như Peter Bary, Kate Rigby, Richard Kerridge…; và gần đây hơn cả là phê bình nữ quyền với các công trình dịch tiêu biểu như Lịch sử vú của Marilyn Yalom, Rắc rối giới, Các thuật ngữ then chốt của nghiên cứu giới. Những hướng dịch thuật này, không ít thì nhiều, mài sắc thêm nữa ý thức giới và nữ quyền, ý thức sinh thái và góc nhìn xã hội của những cây bút đương thời, hứa hẹn sẽ đem lại những bước chuyển mới cho văn học Việt.

2. Ảnh hưởng của văn học dịch nhìn từ các ấn phẩm đại chúng

Ngoài dòng sách dịch được tạm phân loại là dòng văn học tinh hoa, thế kỉ 21 thực sự là giai đoạn đánh dấu một sự bùng nổ của việc chuyển ngữ tức thời tất cả những ấn phẩm đang gây “sốt” trên thế giới, những cuốn sách được xếp vào hàng “best-seller”, và những tác phẩm thuộc các dòng văn học đại chúng đang càng ngày càng có thêm lượng độc giả đông đảo, đặc biệt là thế hệ trẻ. Văn học ngôn tình Trung Quốc, các thể loại du kí, trinh thám, giả tưởng, fantasy là các thể loại có được thành công ấy. Chính sự ồ ạt của thị trường sách dịch này sẽ đưa lại sự bung nở trong sáng tác của bản thân các tác giả trong nước để vừa như một sự hồi ứng, vừa như một nỗ lực cất lên tiếng nói của riêng mình.

Dù vậy, trước khi đi vào những thể loại đại chúng này, có lẽ nên bắt đầu bằng một trường hợp nằm ở đường biên giao thoa giữa tinh hoa và đại chúng là Murakami Haruki. Tác phẩm đầu tiên của Murakami được dịch sang tiếng Việt là Rừng Na Uy. Ngay sau khi cuốn sách này ra đời và tạo được cơn sốt trong công chúng đón nhận tại Việt Nam, liên tục các tác phẩm khác của ông được dịch và xuất bản: Biên niên kí chim vặn dây cót, Phía nam biên giới, phía tây mặt trời, Kafka bên bờ biển… Với Murakami, độc giả Việt và độc giả thế giới dường như được đem tới một luồng gió mới trong hình dung về đất nước mặt trời mọc, bứt thoát khỏi nỗi bi cảm vốn được mặc định là một phần tất yếu của Nhật Bản. Việc các tác phẩm của Murakami trở thành hiện tượng thống lĩnh thị trường sách dịch Việt không những cho thấy sự xuất hiện của một lớp độc giả mới đã sẵn sàng đón nhận các giá trị mới đậm cảm quan phương Tây, mà chắc chắn đưa lại cả những tác động (dù có ý thức hay không ý thức) tới những cây bút mới đương thời. Cơn sốt Rừng Na Uy có khả năng cao đã khơi mở một cái nhìn phóng khoáng, nhưng cũng đa chiều hơn về tính dục ở các cây bút Việt trẻ. “Sex” không chỉ còn là tiếng nói bản năng của con người, mà còn là một cách để phơi bày nỗi cô đơn bản thể và niềm khát khao kết nối của một thế hệ hoang mang mất niềm tin, mất gắn kết với quá khứ.

Từ góc nhìn đại chúng, truyện tình cảm phương Tây hay truyện ngôn tình Trung Quốc là một trong những mảng được dịch nhiều nhất (cả chính thống và online), cũng có một đời sống sôi động thực sự trong ngành xuất bản phát hành và để lại những dấu ấn đậm nét trong sáng tác của các nhà văn Việt. Về truyện tình cảm phương Tây, không thể không kể tới Marc Levy, một nhà văn Pháp. Tác phẩm của ông được dịch khá nhiều ở Việt Nam, gây dựng được một lượng fan hùng hậu, và là một trong những tác giả nước ngoài thuộc hàng best-seller. Có thể dẫn ra một số tiểu thuyết của Marc Levy được dịch như Và nếu như chuyện này là có thật, Kiếp sau, Em ở đâu… Kể từ 2006, sau khi bản dịch Xin lỗi em chỉ là con đĩ của Tào Đình do Trang Hạ dịch được xuất bản, một cơn lốc đọc và dịch truyện ngôn tình được khởi xướng, và càng ngày càng mạnh mẽ hơn song song với tốc độ phổ cập chóng mặt của mạng internet. Dấu ấn của thể loại truyện tình cảm (hay ngôn tình theo cách gọi của Trung Quốc), không khó để nhận ra, khá rõ nét ở các tác giả trẻ Việt giai đoạn này như Iris Cao, Hamlet Trương, Anh Khang, Tuệ Nhi, Gào, Phan Ý Yên… Không chỉ thế, khi các thể loại như đam mĩ, bách hợp trở nên quen thuộc với độc giả Việt, các tác phẩm về đề tài đồng tính như Dị bản của Keng, Cây rắn lục của Vũ Đình Giang, Thành phố không lạc loài của Phạm Thành Trung (Lê Anh Hoài chấp bút), Lạc giới của Thủy Anna, Đời Call Boy của Nguyễn Ngọc Thạch… lần lượt xuất hiện và thu hút được sự quan tâm của bạn đọc.

Thêm một điểm đáng chú ý có thể thấy trong văn học đại chúng giai đoạn đầu thế kỉ 21 là sự nở rộ về thể loại du kí của các cây bút nữ. Những tác phẩm du kí nữ thuộc hàng best-seller của cả phương Đông và phương Tây được dịch trong giai đoạn này như Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân, Đảo tường vi của An Ni Bảo Bối, Ăn, Cầu nguyện và Yêu của Alizabeth Gilbert cũng có thể được nhìn nhận như một “cú hích” góp phần khuyến khích và thúc đẩy một thế hệ nữ trẻ trung lên đường, xê dịch và viết về hành trình xê dịch của chính mình. Những chuyến đi và những ghi chép này ít nhiều đã là nguồn cảm hứng cho cây bút Việt. Nguyễn Chí Linh – tác giả cuốn du kí Trên con đường tơ lụa Nam Á chia sẻ, tác phẩm này được viết từ niềm say mê khi đọc Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân.Có thể kể tên rất nhiều tác giả nữ đã làm nên sự nổi dậy của một dòng du kí Việt Nam giai đoạn này như Dương Thụy, Nguyễn Phương Mai, Trang Hạ, Phan Việt, Huyền Chip, Uyên Nguyên, Trang Nguyễn... Hình ảnh Trang Hạ nằm lên chiếc xe máy hầm hố cùng tuyên bố “Đời ta là những chuyến xe” được đăng công khai trên blog cá nhân có thể được xem như lời tuyên ngôn cho các cây bút du kí nữ thời đại mới, khi dịch chuyển và trải nghiệm du hành không còn là độc quyền của nam giới. Xách ba lô lên và đi của Huyền Chip cũng được đánh giá như một bước khởi đầu quan trọng của trào lưu này. Tây Ban Nha, hành trình không ngôn ngữ của Uyên Nguyên ghi lại những trải nghiệm của một cô gái quyết định kiếm tìm một khóa học tự túc ở trời Tây để từ đó, có cơ hội hòa mình vào một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới. Trở về nơi hoang dã của Trang Nguyễn lại là hành trình năm năm của một cô gái bé nhỏ nhưng gan dạ ở một nơi chốn vốn được cho là khắc nghiệt nhất: châu Phi. Hành trình này, trước hết, là để thỏa mãn niềm khát khao “thám hiểm”, và thứ nữa, là một hành trình theo đuổi đam mê của một nhà bảo tồn động vật hoang dã. Trở về nơi hoang dã, bởi thế, không chỉ là một chuyến đi thỏa mãn những mong muốn cá nhân mà còn là một lời kêu gọi và thức tỉnh trách nhiệm của con người trước lời kêu cứu của môi trường.

Việc dịch các tác phẩm thuộc thể loại fantasy như Harry Potter và cơn sốt mà nó đưa lại đã có thể xem là một gợi ý và truyền cảm hứng cho dòng truyện này ở Việt Nam, với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Phan Hồn Nhiên, Phạm Bá Diệp. Bộ truyện Chuyện xứ Lang Biang của Nguyễn Nhật Ánh xuất bản lần đầu năm 2004 và được tái bản liên tục trong các năm sau đó là một thành công nổi bật của văn học Việt thuộc thể loại này.

Sự cập nhật những bước tiến mới của thể loại khoa học viễn tưởng cũng là một thành tựu khác mà văn học dịch đem lại trong giai đoạn này. Những năm đầu thế kỉ 21, có thể nói, thực sự là khoảng thời gian rực rỡ về mảng dịch thuật truyện viễn tưởng. Trước đó, trong khoảng từ những năm 1945 cho đến trước 2000, khoa học viễn tưởng đã được dịch, chủ yếu là các tác phẩm của Nga và Liên Xô như Vùng đất Xan-nhi-cốp, Những cuộc phiêu lưu của Xe-muy-en Pinh... Một số các tác phẩm sci-fi kinh điển Âu Mĩ cũng đã được dịch ở Việt Nam trước đó có thể kể thêm như các tác phẩm về chủ đề du hành thời gian như Kẻ vượt thời gian của H.G.Wells hay du hành về không gian như Hai vạn dặm dưới đáy biển của Jules Verne. Nhiều tác phẩm văn chương viễn tưởng về hiểm họa và nguy cơ sinh thái, cũng như những tác phẩm đặt lại vấn đề về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên đã được dịch, chẳng hạn: Mùi Adam của Jean-Christophe Rufin, Bộ ba Kiến – Ngày của kiến – Cách mạng kiến của Bernard Werber. Những tác phẩm như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, Chúng tôi của Zevgeny Zamyatin Thế giới mới tươi đẹp của Aldous Huxley, Đấu trường sinh tử của Suzanne Collis… lại đặt vấn đề về sự nguy hiểm của một nhà nước toàn trị dùng công nghệ để kiểm soát người dân một cách phi nhân, bạo lực. Những hình dung viễn tưởng và sự đáng báo động của đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt là nghề y được đề cập trong các tác phẩm như Thế giới nghịch của Michael Crichton. Trong câu chuyện này, tác giả tập trung vào những hệ lụy đáng sợ của các tiến bộ về nghiên cứu gen. Thay vì chỉ dừng lại việc ca tụng các đột phá trong nghiên cứu di truyền, Thế giới nghịch đặt ra vấn đề đạo đức khoa học khi con người giành quyền năng sáng tạo của Chúa trời, khi đến cả người chết cũng bị đưa lên bàn đấu giá. Cuối cùng, chủ đề người máy và cuộc khủng hoảng nhân tính khi công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển cực độ cũng được đặt ra trong các tác phẩm viễn tưởng đương thời trên thế giới, mà một trong số đó có thể kể tới là một ấn bản đã được dịch mang tên Người máy có mơ về cừu điện không của Phillip K.Dick. Việc dịch truyện viễn tưởng sang tiếng Việt, như thế, có thể nói, đã có những tác động rõ nét đến các sáng tác thuộc thể loại này ở Việt Nam. Có thể kể đến Máu hiếm, Luật chơi, Hiện thân của nhà văn Phan Hồn Nhiên, Thiên Mã của nhà văn Hà Thủy Nguyên, Nym – Tôi của tương lai của Nguyễn Phi Vân...

Cuối cùng, có lẽ cần nhắc tới sự nở rộ và đa dạng hóa thể loại trinh thám ở Việt Nam – một hiện tượng có lẽ đa phần cũng được đem lại qua con đường dịch thuật. Trước thế kỉ 21, trinh thám cũng là một thể loại đã được dịch khá nhiều ở Việt Nam. Một trong những mảng trinh thám đầu tiên được dịch là tiểu loại trinh thám-phản gián chủ yếu được dịch từ văn học Xô Viết, chẳng hạn: Vụ bắt cóc thế kỉ của Valixi Arđamátxki. Sang đến thế kỉ 21, việc dịch truyện trinh thám trở nên phong phú đa dạng hơn. Các tác giả trinh thám Âu-Mĩ như Dan Brown (với Pháo đài số, Thiên thần và ác quỷ...), Agatha Christie (với Thời khắc định mệnh, Những chiếc đồng hồ kì lạ…) được dịch. Không chỉ thế, các tác giả trinh thám-kinh dị Nhật Bản cũng được dịch như Kiego Higashino, Natsuo Kirino… Theo đó, trinh thám Việt Nam cũng dần bước ra khỏi được mô hình thể loại tình báo-phản gián trước đó (kiểu Ván bài lật ngửa của Trần Bạch Đằng) để hình thành một dòng văn học trinh thám đa dạng trẻ trung hơn với những cái tên như: Di Li, Giản Tư Hải, Bùi Anh Tấn, Kim Tam Long…

Di Li được coi là một hiện tượng mới của truyện trinh thám-kinh dị Việt Nam, trước Trại hoa đỏ, cô đã từng xuất bản hai cuốn sách khá thành công cùng thuộc thể loại này là Tầng thứ nhất và Điệu Valse địa ngục. Với Trại hoa đỏ, Di Li đẩy người đọc vào một cuộc phiêu lưu đầy bất ngờ mới, với vô số những bí ẩn không dễ khám phá, những vướng mắc không thể giải quyết, những âm mưu không dễ gì ngăn chặn. Đây được coi là tác phẩm đặt nền tảng cho kiểu loại trinh thám-thriller của Việt Nam. Ngoài ra có thể kể đến những cây bút trinh thám đương đại tiêu biểu nhất như Giản Tư Hải với Âm mưu thay não, Mật mã Champa, Minh Mạng mật chỉ; Kim Tam Long với Mặt nạ trắng, Ẩn ức trắng, Nguyễn Dương Quỳnh với Thăm thẳm mùa hè... Nếu tác phẩm của Giản Tư Hải xoay quanh những bí mật và tội ác ở tầm vĩ mô, cùng nhịp điệu trần thuật nhanh, kịch tính kiểu Dan Brown thì Kim Tam Long khéo léo kết hợp các yếu tố quỷ ma kinh dị và ý thức đan cài những cuộc chơi cấu trúc. Nếu Nguyễn Dương Quỳnh được mệnh danh là “Di Li thứ hai”, thì Đức Anh dùng những kĩ thuật vô cùng quen thuộc của trinh thám thế giới như kĩ thuật vòng tròn. Mỗi gương mặt, mỗi cây bút lại có một giọng rất riêng, đầy tính hiện đại và mới mẻ của một thế hệ lớn lên trong một thời đại mà mảng văn học dịch trinh thám đang đạt tới thời kì rực rỡ.

Phần viết, như thế, điểm lại một số ảnh hưởng của văn học dịch đến đời sống tiếp nhận, và đặc biệt đến các sáng tác văn chương Việt. Dù ở mảng văn học tinh tuyển hay đại chúng, văn học dịch cũng để lại những dấu ấn đa dạng và nhiều gợi mở. Dịch thuật, bởi vậy, có thể được nhìn như một hướng để mở rộng trường giao tiếp và đối thoại văn chương, từ đó, có những bài học và hướng đi riêng. Những “trải nghiệm đọc khác” mà dịch thuật mang lại đã và sẽ còn nhiều hứa hẹn trong tương lai. Bên cạnh dịch văn học, mảng dịch thuật các công trình lí thuyết-phê bình văn chương cũng được phân tích, trong sự gắn kết với bước chuyển về mô hình và tư duy sáng tác ở bối cảnh Việt Nam. Tác động của dịch thuật, bởi vậy, cần được nhìn từ điểm nhìn tương tác đa chiều, không chỉ với một cộng đồng độc giả đại chúng, với “tầm đón đợi cao” của giới lí luận phê bình, mà cả với chính những người sáng tạo.

Đ.T.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm