TIN TỨC
  • Lý luận - Phê bình
  • Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI

Văn học dịch và những tác động đến đời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2025-11-15 22:46:45
mail facebook google pos stwis
346 lượt xem

ĐẶNG THỊ THÁI HÀ

Nói đến văn học dịch những thập niên đầu thế kỉ 21, có lẽ, trước hết, phải nhắc tới việc rất nhiều tác phẩm thuộc hàng “tinh hoa”, “kinh điển”, hay các tác phẩm đạt được các giải thưởng văn chương danh giá (Nobel, Pulitzer, Man Booker...) đã được chú trọng chuyển ngữ trong giai đoạn này.

1. Văn học dịch và những gợi mở về kĩ thuật viết

Rất nhiều tên tuổi lừng lẫy của dòng văn học tinh hoa trên thế giới (cả kinh điển lẫn đương đại) đã xuất hiện trong không gian văn học dịch Việt Nam giai đoạn này, trong đó có thể kể tới: Marcel Proust, Franz Kafka, Milan Kundera, Gunter Grass, Orhan Pamuk, Cao Hành Kiện… và nhiều tác giả nữ nổi bật như Toni Morrison, Margaret Atwood… Việc dịch thêm các tác phẩm kinh điển trong quá khứ và cập nhật các tác phẩm được giải thưởng lớn trên thế giới theo từng năm vừa tạo ra một áp lực đối trọng, buộc các tác giả Việt Nam phải có những chuyển dịch về tư tưởng và bút pháp, vừa cung cấp những gợi dẫn trong thực hành sáng tác. Chẳng hạn, tính phi lí trong truyện của Kafka, thủ pháp dòng ý thức trong tác phẩm của Marcel Proust, William Faulkner, Cao Hành Kiện… có lẽ là những lối viết đi vào nhiều nhất trong các sáng tác thuộc dòng văn học đặc tuyển ở Việt Nam.

Văn học Nga tiếp tục được dịch. Nếu ở các giai đoạn trước đó, các tác phẩm được dịch chủ yếu thuộc mảng văn học xã hội chủ nghĩa thì đến hiện tại, tác phẩm của một loạt các tác giả Nga hải ngoại nổi tiếng được chọn dịch, trong đó nhiều nhất có lẽ là Vladimir Nabokov với một loạt các ấn bản liên tiếp như LolitaTiếng cười trong bóng tốiMỹ nhân NgaPhòng thủ Luzhin… Bên cạnh đó, có thể kể tới Mikhail Bulgacov với Những quả trứng định mệnhNghệ nhân và Margarita; Ivan Bunin với Quý ông từ San Francisco đếnNhững lối đi dưới hàng cây tăm tối… Việc dịch các tác phẩm văn học Nga hải ngoại đem đến cho không khí thưởng thức một cảm giác vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Nó “tái định hình” một hình dung khác về văn chương Nga, thoát khỏi những mô thức quen thuộc kiểu “định hướng xã hội chủ nghĩa”, đồng thời đưa lại cho người đọc nhiều trải nghiệm mới và đa dạng về lối viết.

Bên cạnh đó, có lẽ cần nhắc tới một mảng quan trọng trong dịch thuật là các tác phẩm lí luận-phê bình văn học. Giai đoạn đầu thế kỉ 21 có lẽ là một trong những thời kì các ấn bản lí thuyết phê bình văn chương của nhiều trường phái khác nhau được dịch nhiều nhất, phong phú và đa dạng nhất. Động thái dịch thuật này, đương nhiên, có những tác động và ảnh hưởng nhất định đến giới cầm bút ở Việt Nam, đôi khi gắn với những bước chuyển rõ nét trong lối viết và bút pháp của các thế hệ nhà văn. Trước hết, có thể kể tới Nghệ thuật như là thủ pháp: Lí thuyết Chủ nghĩa hình thức Nga của Roman Jakobson, được dịch và xuất bản vào năm 2001. Việc dịch công trình lí thuyết Nghệ thuật như là thủ pháp là một hiện tượng dịch quan trọng của dịch lí luận-phê bình giai đoạn này. Nó không chỉ được đón nhận từ phía giới nghiên cứu-phê bình văn học mà còn gây ấn tượng với giới sáng tác, là một trong những lực thúc đẩy nhà văn Việt Nam kiên quyết chối bỏ, vượt thoát những định kiến cũ mèm về văn chương, về trách nhiệm xã hội mà văn chương thường bị “tròng” lên vai từ xưa đến nay, để có thể dấn thân trọn vẹn hơn vào cuộc chơi ngôn ngữ, chơi thủ pháp, vào những sáng tạo theo nguyên tắc “lạ hóa”, trả nghệ thuật về cõi riêng của nó, vừa độc lập, vừa có khả năng gây hấn với sự nhàm chán buồn tẻ của những “cái thường ngày”.

Mikhail Bakhtin, dù đã bắt đầu được dịch từ những năm 1993 với cuốn Những vấn đề thi pháp Đốtxtôiepski, đến giai đoạn này, hai công trình quan trọng nhất của ông được dịch thêm là: Lí luận và thi pháp tiểu thuyếtSáng tác của Francais Rabelais và nền văn hóa dân gian trung cổ và phục hưng. Những ấn bản sách dịch các nghiên cứu của Bakhtin, một lần nữa, không chỉ làm thay đổi cách nhìn của các nhà nghiên cứu phê bình trong việc phân tích các tác phẩm văn chương, mà còn mở ra rất nhiều hướng mới cho sáng tác, đặc biệt là tiểu thuyết. Tính đa thanh, đối thoại được nâng lên thành đặc trưng của tiểu thuyết. Điều này cũng thúc đẩy các nhà văn Việt rời xa dần quỹ đạo của tiếng nói sử thi độc thoại trước đó để hướng tới một cái nhìn đa chiều hơn, một sự pha trộn giọng điệu sống động hơn trong các tác phẩm của mình. Những thi pháp tiểu thuyết quan trọng như giễu nhại, tính không hoàn kết, thì hiện tại chưa hoàn thành… cũng xuất hiện ngày một nhiều hơn trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam giai đoạn này. Ngoài ra, có thể kể thêm một số cây bút lí luận tiêu biểu của chủ nghĩa cấu trúc cũng được dịch ở giai đoạn này như Yuri Lotman với Cấu trúc văn bản nghệ thuật; Tzevan Todorov với Thi pháp văn xuôiDẫn luận về văn chương kì ảoVăn chương lâm nguy… Mảng sách dịch này, có thể nói, càng nhấn mạnh việc coi mỗi tác phẩm văn chương như một “công trình kiến trúc” đầy tính nghệ thuật.

Các lí thuyết gia thuộc hướng giải cấu trúc như Roland Barthes và Foucault cũng đã và đang được dịch ở Việt Nam, chẳng hạn có thể kể tới Những huyền thoại của Roland Barthes, Giám sát và trừng phạt – Nguồn gốc nhà tù của Michael Foucault. Công trình của một tác gia giải cấu trúc quan trọng khác là Gilles Deleuze cũng đã được dịch: Kafka – Vì một nền văn học thiểu số. Những văn bản này, cùng với một công trình nền tảng của hậu hiện đại là Hoàn cảnh hậu hiện đại của Jean Francois Lyotard đã đem lại một không khí mới cho bối cảnh văn học đương đại.

 

Ảnh minh họa. Nguồn internet

 

Bên cạnh đó, có thể kể thêm những hướng phê bình văn học khác cũng được dịch và giới thiệu trong giai đoạn này, chẳng hạn xã hội học văn học (với Quy tắc của nghệ thuật: sự sinh thành và cấu trúc của trường văn chương của Pierre Bourdieu), phê bình sinh thái với cuốn Phê bình sinh thái là gì? trong đó tuyển dịch những bài luận của các tác giả kinh điển nhất như Peter Bary, Kate Rigby, Richard Kerridge…; và gần đây hơn cả là phê bình nữ quyền với các công trình dịch tiêu biểu như Lịch sử vú của Marilyn Yalom, Rắc rối giớiCác thuật ngữ then chốt của nghiên cứu giới. Những hướng dịch thuật này, không ít thì nhiều, mài sắc thêm nữa ý thức giới và nữ quyền, ý thức sinh thái và góc nhìn xã hội của những cây bút đương thời, hứa hẹn sẽ đem lại những bước chuyển mới cho văn học Việt.

2. Ảnh hưởng của văn học dịch nhìn từ các ấn phẩm đại chúng

Ngoài dòng sách dịch được tạm phân loại là dòng văn học tinh hoa, thế kỉ 21 thực sự là giai đoạn đánh dấu một sự bùng nổ của việc chuyển ngữ tức thời tất cả những ấn phẩm đang gây “sốt” trên thế giới, những cuốn sách được xếp vào hàng “best-seller”, và những tác phẩm thuộc các dòng văn học đại chúng đang càng ngày càng có thêm lượng độc giả đông đảo, đặc biệt là thế hệ trẻ. Văn học ngôn tình Trung Quốc, các thể loại du kí, trinh thám, giả tưởng, fantasy là các thể loại có được thành công ấy. Chính sự ồ ạt của thị trường sách dịch này sẽ đưa lại sự bung nở trong sáng tác của bản thân các tác giả trong nước để vừa như một sự hồi ứng, vừa như một nỗ lực cất lên tiếng nói của riêng mình.

Dù vậy, trước khi đi vào những thể loại đại chúng này, có lẽ nên bắt đầu bằng một trường hợp nằm ở đường biên giao thoa giữa tinh hoa và đại chúng là Murakami Haruki. Tác phẩm đầu tiên của Murakami được dịch sang tiếng Việt là Rừng Na Uy. Ngay sau khi cuốn sách này ra đời và tạo được cơn sốt trong công chúng đón nhận tại Việt Nam, liên tục các tác phẩm khác của ông được dịch và xuất bản: Biên niên kí chim vặn dây cótPhía nam biên giới, phía tây mặt trờiKafka bên bờ biển… Với Murakami, độc giả Việt và độc giả thế giới dường như được đem tới một luồng gió mới trong hình dung về đất nước mặt trời mọc, bứt thoát khỏi nỗi bi cảm vốn được mặc định là một phần tất yếu của Nhật Bản. Việc các tác phẩm của Murakami trở thành hiện tượng thống lĩnh thị trường sách dịch Việt không những cho thấy sự xuất hiện của một lớp độc giả mới đã sẵn sàng đón nhận các giá trị mới đậm cảm quan phương Tây, mà chắc chắn đưa lại cả những tác động (dù có ý thức hay không ý thức) tới những cây bút mới đương thời. Cơn sốt Rừng Na Uy có khả năng cao đã khơi mở một cái nhìn phóng khoáng, nhưng cũng đa chiều hơn về tính dục ở các cây bút Việt trẻ. “Sex” không chỉ còn là tiếng nói bản năng của con người, mà còn là một cách để phơi bày nỗi cô đơn bản thể và niềm khát khao kết nối của một thế hệ hoang mang mất niềm tin, mất gắn kết với quá khứ.

Từ góc nhìn đại chúng, truyện tình cảm phương Tây hay truyện ngôn tình Trung Quốc là một trong những mảng được dịch nhiều nhất (cả chính thống và online), cũng có một đời sống sôi động thực sự trong ngành xuất bản phát hành và để lại những dấu ấn đậm nét trong sáng tác của các nhà văn Việt. Về truyện tình cảm phương Tây, không thể không kể tới Marc Levy, một nhà văn Pháp. Tác phẩm của ông được dịch khá nhiều ở Việt Nam, gây dựng được một lượng fan hùng hậu, và là một trong những tác giả nước ngoài thuộc hàng best-seller. Có thể dẫn ra một số tiểu thuyết của Marc Levy được dịch như Và nếu như chuyện này là có thậtKiếp sau, Em ở đâu… Kể từ 2006, sau khi bản dịch Xin lỗi em chỉ là con đĩ của Tào Đình do Trang Hạ dịch được xuất bản, một cơn lốc đọc và dịch truyện ngôn tình được khởi xướng, và càng ngày càng mạnh mẽ hơn song song với tốc độ phổ cập chóng mặt của mạng internet. Dấu ấn của thể loại truyện tình cảm (hay ngôn tình theo cách gọi của Trung Quốc), không khó để nhận ra, khá rõ nét ở các tác giả trẻ Việt giai đoạn này như Iris Cao, Hamlet Trương, Anh Khang, Tuệ Nhi, Gào, Phan Ý Yên… Không chỉ thế, khi các thể loại như đam mĩ, bách hợp trở nên quen thuộc với độc giả Việt, các tác phẩm về đề tài đồng tính như Dị bản của Keng, Cây rắn lục của Vũ Đình Giang, Thành phố không lạc loài của Phạm Thành Trung (Lê Anh Hoài chấp bút), Lạc giới của Thủy Anna, Đời Call Boy của Nguyễn Ngọc Thạch… lần lượt xuất hiện và thu hút được sự quan tâm của bạn đọc.

Thêm một điểm đáng chú ý có thể thấy trong văn học đại chúng giai đoạn đầu thế kỉ 21 là sự nở rộ về thể loại du kí của các cây bút nữ. Những tác phẩm du kí nữ thuộc hàng best-seller của cả phương Đông và phương Tây được dịch trong giai đoạn này như Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân, Đảo tường vi của An Ni Bảo Bối, Ăn, Cầu nguyện và Yêu của Alizabeth Gilbert cũng có thể được nhìn nhận như một “cú hích” góp phần khuyến khích và thúc đẩy một thế hệ nữ trẻ trung lên đường, xê dịch và viết về hành trình xê dịch của chính mình. Những chuyến đi và những ghi chép này ít nhiều đã là nguồn cảm hứng cho cây bút Việt. Nguyễn Chí Linh – tác giả cuốn du kí Trên con đường tơ lụa Nam Á chia sẻ, tác phẩm này được viết từ niềm say mê khi đọc Muôn dặm không mây của Tôn Thư Vân.Có thể kể tên rất nhiều tác giả nữ đã làm nên sự nổi dậy của một dòng du kí Việt Nam giai đoạn này như Dương Thụy, Nguyễn Phương Mai, Trang Hạ, Phan Việt, Huyền Chip, Uyên Nguyên, Trang Nguyễn... Hình ảnh Trang Hạ nằm lên chiếc xe máy hầm hố cùng tuyên bố “Đời ta là những chuyến xe” được đăng công khai trên blog cá nhân có thể được xem như lời tuyên ngôn cho các cây bút du kí nữ thời đại mới, khi dịch chuyển và trải nghiệm du hành không còn là độc quyền của nam giới. Xách ba lô lên và đi của Huyền Chip cũng được đánh giá như một bước khởi đầu quan trọng của trào lưu này. Tây Ban Nha, hành trình không ngôn ngữ của Uyên Nguyên ghi lại những trải nghiệm của một cô gái quyết định kiếm tìm một khóa học tự túc ở trời Tây để từ đó, có cơ hội hòa mình vào một ngôn ngữ mới, một nền văn hóa mới. Trở về nơi hoang dã của Trang Nguyễn lại là hành trình năm năm của một cô gái bé nhỏ nhưng gan dạ ở một nơi chốn vốn được cho là khắc nghiệt nhất: châu Phi. Hành trình này, trước hết, là để thỏa mãn niềm khát khao “thám hiểm”, và thứ nữa, là một hành trình theo đuổi đam mê của một nhà bảo tồn động vật hoang dã. Trở về nơi hoang dã, bởi thế, không chỉ là một chuyến đi thỏa mãn những mong muốn cá nhân mà còn là một lời kêu gọi và thức tỉnh trách nhiệm của con người trước lời kêu cứu của môi trường.

Việc dịch các tác phẩm thuộc thể loại fantasy như Harry Potter và cơn sốt mà nó đưa lại đã có thể xem là một gợi ý và truyền cảm hứng cho dòng truyện này ở Việt Nam, với những tác giả tiêu biểu như Nguyễn Nhật Ánh, Phan Hồn Nhiên, Phạm Bá Diệp. Bộ truyện Chuyện xứ Lang Biang của Nguyễn Nhật Ánh xuất bản lần đầu năm 2004 và được tái bản liên tục trong các năm sau đó là một thành công nổi bật của văn học Việt thuộc thể loại này.

Sự cập nhật những bước tiến mới của thể loại khoa học viễn tưởng cũng là một thành tựu khác mà văn học dịch đem lại trong giai đoạn này. Những năm đầu thế kỉ 21, có thể nói, thực sự là khoảng thời gian rực rỡ về mảng dịch thuật truyện viễn tưởng. Trước đó, trong khoảng từ những năm 1945 cho đến trước 2000, khoa học viễn tưởng đã được dịch, chủ yếu là các tác phẩm của Nga và Liên Xô như Vùng đất Xan-nhi-cốp, Những cuộc phiêu lưu của Xe-muy-en Pinh... Một số các tác phẩm sci-fi kinh điển Âu Mĩ cũng đã được dịch ở Việt Nam trước đó có thể kể thêm như các tác phẩm về chủ đề du hành thời gian như Kẻ vượt thời gian của H.G.Wells hay du hành về không gian như Hai vạn dặm dưới đáy biển của Jules Verne. Nhiều tác phẩm văn chương viễn tưởng về hiểm họa và nguy cơ sinh thái, cũng như những tác phẩm đặt lại vấn đề về mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên đã được dịch, chẳng hạn: Mùi Adam của Jean-Christophe Rufin, Bộ ba Kiến – Ngày của kiến – Cách mạng kiến của Bernard Werber. Những tác phẩm như Chuyện người tùy nữ của Margaret Atwood, Chúng tôi của Zevgeny Zamyatin Thế giới mới tươi đẹp của Aldous Huxley, Đấu trường sinh tử của Suzanne Collis… lại đặt vấn đề về sự nguy hiểm của một nhà nước toàn trị dùng công nghệ để kiểm soát người dân một cách phi nhân, bạo lực. Những hình dung viễn tưởng và sự đáng báo động của đạo đức nghề nghiệp, đặc biệt là nghề y được đề cập trong các tác phẩm như Thế giới nghịch của Michael Crichton. Trong câu chuyện này, tác giả tập trung vào những hệ lụy đáng sợ của các tiến bộ về nghiên cứu gen. Thay vì chỉ dừng lại việc ca tụng các đột phá trong nghiên cứu di truyền, Thế giới nghịch đặt ra vấn đề đạo đức khoa học khi con người giành quyền năng sáng tạo của Chúa trời, khi đến cả người chết cũng bị đưa lên bàn đấu giá. Cuối cùng, chủ đề người máy và cuộc khủng hoảng nhân tính khi công nghệ trí tuệ nhân tạo phát triển cực độ cũng được đặt ra trong các tác phẩm viễn tưởng đương thời trên thế giới, mà một trong số đó có thể kể tới là một ấn bản đã được dịch mang tên Người máy có mơ về cừu điện không của Phillip K.Dick. Việc dịch truyện viễn tưởng sang tiếng Việt, như thế, có thể nói, đã có những tác động rõ nét đến các sáng tác thuộc thể loại này ở Việt Nam. Có thể kể đến Máu hiếm, Luật chơi, Hiện thân của nhà văn Phan Hồn Nhiên, Thiên Mã của nhà văn Hà Thủy Nguyên, Nym – Tôi của tương lai của Nguyễn Phi Vân...

Cuối cùng, có lẽ cần nhắc tới sự nở rộ và đa dạng hóa thể loại trinh thám ở Việt Nam – một hiện tượng có lẽ đa phần cũng được đem lại qua con đường dịch thuật. Trước thế kỉ 21, trinh thám cũng là một thể loại đã được dịch khá nhiều ở Việt Nam. Một trong những mảng trinh thám đầu tiên được dịch là tiểu loại trinh thám-phản gián chủ yếu được dịch từ văn học Xô Viết, chẳng hạn: Vụ bắt cóc thế kỉ của Valixi Arđamátxki. Sang đến thế kỉ 21, việc dịch truyện trinh thám trở nên phong phú đa dạng hơn. Các tác giả trinh thám Âu-Mĩ như Dan Brown (với Pháo đài số, Thiên thần và ác quỷ...), Agatha Christie (với Thời khắc định mệnh, Những chiếc đồng hồ kì lạ…) được dịch. Không chỉ thế, các tác giả trinh thám-kinh dị Nhật Bản cũng được dịch như Kiego Higashino, Natsuo Kirino… Theo đó, trinh thám Việt Nam cũng dần bước ra khỏi được mô hình thể loại tình báo-phản gián trước đó (kiểu Ván bài lật ngửa của Trần Bạch Đằng) để hình thành một dòng văn học trinh thám đa dạng trẻ trung hơn với những cái tên như: Di Li, Giản Tư Hải, Bùi Anh Tấn, Kim Tam Long…

Di Li được coi là một hiện tượng mới của truyện trinh thám-kinh dị Việt Nam, trước Trại hoa đỏ, cô đã từng xuất bản hai cuốn sách khá thành công cùng thuộc thể loại này là Tầng thứ nhất và Điệu Valse địa ngục. Với Trại hoa đỏ, Di Li đẩy người đọc vào một cuộc phiêu lưu đầy bất ngờ mới, với vô số những bí ẩn không dễ khám phá, những vướng mắc không thể giải quyết, những âm mưu không dễ gì ngăn chặn. Đây được coi là tác phẩm đặt nền tảng cho kiểu loại trinh thám-thriller của Việt Nam. Ngoài ra có thể kể đến những cây bút trinh thám đương đại tiêu biểu nhất như Giản Tư Hải với Âm mưu thay nãoMật mã ChampaMinh Mạng mật chỉ; Kim Tam Long với Mặt nạ trắngẨn ức trắng, Nguyễn Dương Quỳnh với Thăm thẳm mùa hè... Nếu tác phẩm của Giản Tư Hải xoay quanh những bí mật và tội ác ở tầm vĩ mô, cùng nhịp điệu trần thuật nhanh, kịch tính kiểu Dan Brown thì Kim Tam Long khéo léo kết hợp các yếu tố quỷ ma kinh dị và ý thức đan cài những cuộc chơi cấu trúc. Nếu Nguyễn Dương Quỳnh được mệnh danh là “Di Li thứ hai”, thì Đức Anh dùng những kĩ thuật vô cùng quen thuộc của trinh thám thế giới như kĩ thuật vòng tròn. Mỗi gương mặt, mỗi cây bút lại có một giọng rất riêng, đầy tính hiện đại và mới mẻ của một thế hệ lớn lên trong một thời đại mà mảng văn học dịch trinh thám đang đạt tới thời kì rực rỡ.

Phần viết, như thế, điểm lại một số ảnh hưởng của văn học dịch đến đời sống tiếp nhận, và đặc biệt đến các sáng tác văn chương Việt. Dù ở mảng văn học tinh tuyển hay đại chúng, văn học dịch cũng để lại những dấu ấn đa dạng và nhiều gợi mở. Dịch thuật, bởi vậy, có thể được nhìn như một hướng để mở rộng trường giao tiếp và đối thoại văn chương, từ đó, có những bài học và hướng đi riêng. Những “trải nghiệm đọc khác” mà dịch thuật mang lại đã và sẽ còn nhiều hứa hẹn trong tương lai. Bên cạnh dịch văn học, mảng dịch thuật các công trình lí thuyết-phê bình văn chương cũng được phân tích, trong sự gắn kết với bước chuyển về mô hình và tư duy sáng tác ở bối cảnh Việt Nam. Tác động của dịch thuật, bởi vậy, cần được nhìn từ điểm nhìn tương tác đa chiều, không chỉ với một cộng đồng độc giả đại chúng, với “tầm đón đợi cao” của giới lí luận phê bình, mà cả với chính những người sáng tạo.

Đ.T.T.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm