TIN TỨC

Xuân Phượng và những ngả rẽ định mệnh trong đời

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2022-04-11 23:48:01
mail facebook google pos stwis
2309 lượt xem

Thật khó mà định vị nghề nghiệp của người phụ nữ có tên Xuân Phượng, tác giả của Gánh gánh gồng gồng (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2020), bởi cuộc đời hết sức phong phú và thú vị của bà đã đưa người phụ nữ 93 tuổi đi qua không biết bao nhiêu trải nghiệm khó quên.

Ở tuổi ấy, danh mục nghề nghiệp của Xuân Phượng kéo dài qua hai thế kỷ, từ chuyên gia thuốc nổ, phiên dịch, bác sĩ, phóng viên chiến trường tới đạo diễn, chủ phòng tranh, nhà văn…

Từ nữ sinh đến phóng viên chiến trường

Năm 1945, ở tuổi 16, bà cùng người cậu bí mật từ giã gia đình, đạp xe ra bờ sông, để vào chiến khu. Gần đến nơi, chiếc xe của cậu bị xẹp bánh, người cậu chạy về lấy bơm xe. Ngay lúc đó, lính Pháp đi càn, không chờ cậu được, vội bỏ xe đạp, một mình bà lên đò. Con đò đưa cô nữ sinh xuất thân từ gia đình tri thức trung lưu ở Huế, thoát ly theo cách mạng.

Khi Bộ quốc phòng tìm người biết tiếng Pháp vào Nga nghiên cứu kỹ thuật Bộ quốc phòng, bà là người nữ duy nhất được chọn về làm việc ở Quân giới Liên khu IV. Bà phụ trách 1 tổ Pulmynate (thuốc làm kíp nổ) mà không biết rằng từ việc này, mình trở thành một trong 3 người phụ nữ Việt Nam đầu tiên chế tạo thuốc nổ.


Tác giả Xuân Phượng.

Năm 1967, bà là phiên dịch cho đoàn phim của đạo diễn người Hà Lan Joris Ivens khi làm phim Vĩ tuyến 17 – chiến tranh nhân dân. Đây là chuyến đi định mệnh để tiếp tục đưa cuộc đời bà sang trang khác. Ông Ivens khuyên bà nên làm phóng viên chiến trường vì thấy bà rất có khả năng. Điều này làm bà đắn đo suy nghĩ mãi, khi mình đã ở tuổi 37 mà chuyển ngành, bỏ công việc ổn định lương cao, chuyển sang làm phóng viên chiến trường là trở về lương khởi điểm như người lao công.

Nhưng rồi bà đã quyết! Năm 1968, Xuân Phượng được cử đi B (chiến trường miền Nam), là nữ phóng viên chiến trường hiếm hoi của Việt Nam ở thể loại “hình ảnh động”. Từ đó, bà đi khắp các chiến trường ác liệt nhất, thể hiện những thước phim quay được thành những bộ phim tài liệu ấn tượng trong vai trò đạo diễn, quay phim.

Bôn ba nước ngoài tìm việc ở tuổi 60

Năm 1989, khi nghỉ hưu, đời sống khá chật vật, bà nghĩ, người ta xuất ngoại từ tuổi thanh niên, mình đi lúc tuổi hưu, tìm cơ hội xem sao. Bà đi vay bạn bè tiền để đi mua một chiếc vé máy bay đi Pháp mà bà phải nói dối là mở tiệm kẻo mọi người lại trách mình… lẩm cẩm.

Thời gian ở Pháp, bà làm thông dịch. Một số người đề nghị bà nên quảng bá văn hóa Việt, trong đó có cả những bạn đang cầm cọ vẽ ở Pháp. Đây chính là bước ngoặt của bà, vì bà tin rằng tranh ảnh là thông điệp văn hóa dễ đi vào lòng người. Bà làm ngay một cuộc triển lãm tranh Việt Nam tại Paris, Pháp trước khi chuẩn bị về lại quê nhà.

Bà kể lại: “Không ngờ tranh Việt Nam lại được yêu quý đến thế, người ta mua gần hết số tranh triển lãm. Về Việt Nam, tôi liền mở phòng tranh tư nhân đầu tiên. Khi tôi đi xin giấy phép mở phòng tranh tư nhân, cán bộ nơi cấp phép lo lắng dùm cho tôi vì thời điểm năm 1991 ấy, phòng tranh tư nhân làm sao địch nổi phòng tranh nhà nước, và phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Nhưng, từ chỗ chỉ có 2000 USD để mở, bây giờ phòng tranh Lotus của tôi đã có chi nhánh ở TP.HCM, Phú Quốc, Pháp, Nhật”.

Thực hiện hàng trăm cuộc triển lãm tranh ảnh Việt ở nhiều nơi trên thế giới, bà nghiễm nhiên trở thành một bà đỡ cho các họa sĩ trẻ Việt Nam. Bà còn tham gia làm phim, viết và phối hợp chuyển ngữ nhiều cuốn sách văn hóa, lịch sử Việt sang tiếng Pháp và ngược lại. Bà chủ gallery Lotus không ngờ có ngày, nhờ những hoạt động của mình, được Chính phủ Pháp trao Huân chương Bắc đẩu bội tinh đệ ngũ đẳng năm 2011.


Xuân Phượng kí tặng độc giả trong lần ra mắt sách.

Cuộc đoàn viên sau gần 40 năm và hồi ký để đời

Xuân Phượng xa gia đình năm 16 tuổi đến năm 60 tuổi mới gặp lại. Trong quãng thời gian đó, bà bặt tin gia đình mình.

“Sau gần 40 năm xa cách, trong bữa cơm đoàn viên lần đầu tiên được gặp lại mẹ mình, tại Pháp, mẹ tôi nói: “Con ơi, con đi giúp họ làm chi cho gia đình mình ly tán”. Từ đó, tôi hiểu rằng mình phải làm một cái gì đó” – bà kể – “Tôi muốn mẹ tôi biết rằng, nỗi đau khổ của người ra đi còn đau khổ hơn 10 lần người ở lại. Tôi đi không phải để gia đình ly tán, mà đi để có ngày được sum họp. Từ đó, tôi ý thức rằng mình phải viết lại cuộc đời của mình”.

Cũng từ phòng tranh đầu tiên ở TP.HCM này, năm 2001, bà có một người khách xem tranh đặc biệt – Tổng biên tập tờ Madame Firago. Người khách ấy ngạc nhiên khi biết bà chủ phòng tranh này từng là một phóng viên chiến trường và đề nghị Xuân Phượng kể lại câu chuyện đời mình. Ba tuần sau, bà nhận được thư từ nhà xuất bản nổi tiếng Plon, đề nghị mình viết hồi ký bằng tiếng Pháp.

Xuân Phượng nghĩ rằng bà mình làm một việc rất bình thường của người phụ nữ kể lại cuộc đời mình. Nhưng cuốn sách Áo dài đã gây tiếng vang lớn khi phát hành, và bán đến 300 ngàn bản. Bà nói rằng, đó là “một vinh dự không phải cho riêng bản thân tôi, mà là niềm vui cho tất cả những người đàn bà nào đã từng chịu đựng, vất vả, khổ đau, hy sinh”.

2 năm trước, trong thời điểm dịch Covid-19 hoành hành, phải ở nhà nhiều hơn, ở tuổi 91, bà lại ngồi vào bàn viết lại cuốn hồi ký Áo dài bằng tiếng Việt, mang tên Gánh gánh gồng gồng.

Bây giờ, ở tuổi 93, Xuân Phượng vẫn rất khỏe mạnh và minh mẫn. Bà cười giòn khi được nhiều người hỏi liệu mình có thêm những ngả rẽ định mệnh nào ở tuổi gần đất xa trời. Mà thôi, cuộc đời người phụ nữ ấy đã quá phong phú, như giới truyền thông từng gọi là một phần của pho sử phụ nữ Việt thu nhỏ, có lẽ cũng không cần phải “hỏi cắc cớ” thêm làm gì.

Thú vị “Gánh gánh gồng gồng”

Cuốn sách Gánh gánh gồng gồng đạt giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam ngay lần xuất bản đầu tiên năm 2020. Một thời gian dài, cuốn sách liên tục nằm trong danh mục sách bán chạy nhất của nhiều sàn thương mại điện tử. Hai tháng sau khi phát hành, cuốn sách đã tái bản, và đã tái bản lần thứ 2 với 2.000 bản in/ lần xuất bản.

 Minh Minh/Vanvn

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm