TIN TỨC

Đặng Tường Vy và những vần thơ dằng dặc bao nỗi đa đoan

Người đăng : phunghieu
Ngày đăng: 2023-01-13 22:31:36
mail facebook google pos stwis
3081 lượt xem

   Nguyễn Văn Hòa

(Nhân đọc tập Thơ tình Đặng Tường Vy, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022)               

 “Thơ tình Đặng Tường Vy” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2022) là tập thơ thứ 9 trong hành trình thơ của chị. Thơ Đặng Tường Vy là tiếng thơ buồn, tự bộc lộ, tự giãi bày đến tận cùng chân thật về những điều nhà thơ đã và đang đi qua. Ở đó là nỗi đau vì duyên tình trắc trở, bao ước nguyện không thành, nỗi ngậm ngùi xót xa trước bao điều bất trắc. Vì thế, “Thơ tình Đặng Tường Vy” đã tạo nên nhiều trạng thái với những phức cảm đối lập: khát vọng đan xen với nỗi buồn, hoài niệm đồng hiện với thực tại, giấc mơ sụp đổ bên cạnh niềm tin và cả những ám ảnh về thân phận. Gánh thương em bán chợ phiên/ Ba đồng một mớ tình duyên lỡ làng/ Thương em đan giấc nồng nàn/ Xẻ đôi đêm trắng em tan tác lòng// Ôm em một cái được không/ Ngày mai trời sáng em đong chợ đời/ Anh à, đừng có vội cười/ Chỉ vì đêm lạnh em mời nắng sang// Đâu đây ngọn lửa cháy ran/ Paris buốt lạnh tuyết tràn đầy sân/ Ngàn lần xin lỗi xác thân/ Thiên đàng còn đó em ngần ngại qua (Ngàn lần xin lỗi xác thân).


Tập “Thơ tình Đặng Tường Vy”.

Đặng Tường Vy đến với thơ, sống với thơ đến tận cùng chân thật, chị tìm đến nó và xem đó như là điểm tựa, chỗ để gửi gắm những khoảnh khắc vui buồn của đời mình. Và cứ như thế chị lặng lẽ, điềm nhiên mà “nhả thơ” trong “bóng tối” của đời mình. Dù hạnh phúc có mơ hồ, mong manh như gió thoảng qua nhưng trái tim của chị vẫn luôn rạo rực yêu, vẫn rung lên khúc nhạc tình đầy mê đắm; với khát vọng được yêu thương và san sẻ với đời, với người.

Đặng Tường Vy luôn ám ảnh về sự trôi chảy của thời gian, bởi trong dòng chảy bất tận ấy chứa đựng nhiều tâm trạng, nhiều nỗi niềm nhưng chủ đạo vẫn là nỗi u buồn, dằng dặc bao nỗi đa đoan.

Người đàn bà ngồi khâu vết thương/ không ngừng chảy máu/ Hạt muối nào vừa xát con tim?/ Mũi chỉ đi qua, nỗi buồn quéo lại, mắt ai lưng tròng/ Người đàn bà tập tễnh vén hư không/ Rút gai nhọn viết thành dòng chữ nhỏ/ Ta là hạt cát/ Tình là dây oan/ Tim bớt đau, máu cô đọng/ Sẹo rồi sẽ in sâu// Người đàn bà chưa biết mình về đâu? Rót hương yêu lại hóa giọt sầu/ Nâng ly uống lạnh luồng quanh gáy/ Vầng trăng khuyết hằn sâu bọng mắt/ Sang sông rồi, gạn đục mà chi? (Ngô chín nổ giòn vang).

Thơ tình Đặng Tường Vy với đa dạng các thể loại thơ và sử dụng nhiều hình ảnh ẩn dụ, so sánh độc đáo. Nhờ thế mà chuyển tải linh hoạt các cung bậc tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình; thể hiện rõ nét nội dung tư tưởng mà nhà thơ muốn gửi gắm.

Thời gian luôn khắc khoải trong lòng thi sĩ về một thời tuổi trẻ đã đi qua với bao hụt hẫng, mất mát, tổn thương. Thời gian của quá khứ – hiện tại – tương lai đồng hiện và đan cài vào nhau. Chủ thể trữ tình miên man trước những buồn – vui, được – mất; bao trăn trở, nghiệm suy về bản thân và cuộc đời.

Trước ngã rẽ cuộc đời/ Con tim vắt kiệt đêm làm hành trang bước/ Thổn thức… đau/ Lặng lẽ!// Gỡ cây đinh ra ghim vào cẩm nang sống/ Cỏ dại cúi gập đầu suy nghĩ, nghiêng về đâu trong miền gió chướng?/ Không niềm tin, không tình yêu, không điểm tựa/ Mơ hồ!// Thèm trở về tuổi thơ/ Nhảy cò, kéo co, đánh nhau u đầu chảy máu/ Ngày mai nắm tay nhau nói cười/ Làm người lớn khó quá!/ Một câu nói nghịch lòng, từ nhau một đời/ Một lần phản bội, nhiều kiếp không tha/ phải chăng người lớn?// Chân mỏi nhừ, cứ cố bước/ Vờ bản lĩnh/ Miệng cười, máu nhuộm đỏ tim/ Linh hồn bay chấp chới, ước ngộ nhãn thông…/ đời không tẩm liệm (Đời không tẩm liệm).

Nhà thơ Đặng Tường Vy

Trên hành trình kiếm tìm hạnh phúc, nhà thơ luôn gặp phải thất bại ê chề. Đôi lúc cảm thấy bất lực và tuyệt vọng. Nhưng càng tuyệt vọng thì nhà thơ lại càng tha thiết, khao khát lấp đầy khoảng trống, sự thiếu hụt của đời mình… Đó là nỗi buồn và nỗi cô đơn trên con đường đi tìm hạnh phúc, tìm sự hoàn mỹ, dẫu biết rằng tất cả chỉ là ảo vọng. Đối với một con người luôn sống hết mình vì tình yêu mà chỉ toàn nhận về những tổn thương, mất mát và còn phải sống cuộc đời tha phương thì sự sự cô đơn lại càng đáng sợ hơn nhiều. Trong những tháng ngày tha hương đó, Đặng Tường Vy không lúc nào nguôi quên bao biến cố xảy ra đối với bản thân mình, nhất là chuyện tình cảm và những hoài niệm về quê hương.

Nhân vật trữ tình “anh” được nhà thơ đề cập nhiều, bởi chị đã yêu bằng trái tim của một người đàn bà bao dung, nhân hậu. Thế như dường như đổi lại “anh” chỉ đem đến sự muộn phiền, chát đắng.

Để rồi “em” phải dằn vặt trong những câu hỏi tái tê: Biết tình là ảo vị, nụ hôn có còn nồng như thuở mới tròn trăng?/ Khi tình không mùi, màu, vị/ Ảo ảnh đời nhau// Có chăng tình yêu vĩnh cửu?/ Nếu mặt trời mọc hướng tây/ Tình không là ảo ảnh/ Trong khoảnh khắc mây hồng, phút vĩnh cửu được lồn vào trang kỷ niệm./ Lộng kính một tình yêu (Ảo ảnh).

Trước những thua thiệt của bản thân, nhà thơ đã tự tìm cho mình chốn bình yên trong thơ. Đặng Tường Vy từng chia sẻ: “Hiện hữu với đời với người đã là điều đáng quý, mọi thứ xảy ra với bản thân chính là liều thuốc, là bài học bổ ích để tôi sống tiếp quãng đời còn lại ở phía trước”. Dù biết rằng chặng đường ở phía trước cũng lắm gập ghềnh, chông gai nhất là với tấm thân yếu mềm, bệnh tật như chị.

Vì thế người đọc nhận thấy trong thơ Đặng Tường Vy thường hướng về không gian đời tư. Ở đó, nhà thơ tự lắng lòng mình, tự đối diện và chất vấn chính mình về những việc đã xảy ra trong quá khứ, hiện thực của thực tại và cả những dự cảm về tương lai. Hướng cuộc hành trình thơ ca vào những vấn đề như thế để khẳng định cái tôi buồn, cô đơn của thi nhân. Khi niềm đau đã dày, nhân vật trữ tình “xin sám hối thành tâm sửa mình” để “trả nghiệp cho bình tâm an”. Bởi nhà thơ nhận ra rằng: Trăm năm một kiếp qua nhanh/ Trở về tay trắng tranh giành mà chi/ Trăm năm như một chuyến đi/ Người mù thắp đuốc cười gì mà vui (Nạn gì rồi cũng hóa không).

Quá khứ đau thương, hiện tại buồn, tương lai không mấy sáng sủa nên đôi lúc nhà thơ tìm đến thế giới những giấc mơ hay tìm đến đức tin tôn giáo. Bao nhiêu tâm sự, nỗi ẩn ức không được chia sẻ với ai thì đây là dịp để nhà thơ trải lòng ra tất cả… Thật – ảo, hiện tại – quá khứ – tương lai… bàng bạc một trời ảo mộng. Thất bại dồn dập, mái tóc đã nhuộm màu sương gió. Điều đáng buồn hơn ở Đặng Tường Vy là di chứng sau cuộc đại phẫu thuật: mắt yếu hẳn và trí nhớ giảm; đôi lúc như một đứa trẻ. Tôi là trẻ nhỏ mau quên/ Hai vai tôi gánh đời mênh mang buồn/ Tôi giờ làm bạn chim muông/ Mượn hoa cỏ dại gởi hồn tìm an// Tôi là trẻ nhỏ đa mang/ Thèm quăng đôi gánh say nàng trăng thanh/ Bao nhiêu mộng ước tan tành/ Tôi là trẻ nhỏ bên cành hoa rơi. Bản thân buồn đau vì bệnh tật, thèm lắm được nghỉ ngơi, được yêu thương và có người quan tâm chăm sóc. Nhưng không, “đứa trẻ” ấy phải bôn ba xứ người, phải oằn mình, cố gắng hết sức để làm mọi việc, kiếm tiền nuôi con ăn học thành tài. Lắm lúc hồn phách chưa kịp tỉnh, chị vẫn phải “dắt xác” đi làm. Với bản năng của một người mẹ hết mực thương con, lo cho con nên Đặng Tường Vy đã vắt kiệt sức mình, sẵn sàng hi sinh vì tương lai của con. Để rồi đằng sau đó là lời tâm tình tha thiết: Có thương tôi hãy dìu tôi cho cùng/ Nắm tay tôi với, xin đừng… ngãi nhân (Tôi là trẻ nhỏ ai ơi!).

Nỗi buồn và sự cô đơn trong thơ Đặng Tường Vy trở thành nỗi ám ảnh. Những giọt buồn xốn xang đầy chắt lắng về con người, cuộc đời lần lượt được chị đưa vào thơ.

Không chọn được ngày hạnh phúc/ Không chọn được lúc yêu anh/ Hồng gai bên nhành củi mục/ Tứa tay chảy máu ngọt lành// Cơn mưa ướt mèm thân phận/ Dột đời dột cả ước mơ/ Sét tình đi vào ngõ tận/ Bài thơ nét chữ tình cờ (Tựa sông non khúc).

Nói gì với trăm năm là một bài thơ ấn tượng, chị đã sử dụng các thủ pháp nghệ thuật linh hoạt, lắng kết những cảm xúc chân thực: tâm tình, thủ thỉ, nấc nghẹn, xót xa…

Lời sám hối muộn màng như ngọn roi quất/ tím vào chùm mây vỡ/ Mây đau đớn, trách hờn, lang thang/ Mây thương đời phiêu lãng// Mây về đâu gió làm sao biết vết tím tâm hồn/ sao chữa thuốc thời gian/ Mây ra đi có bao giờ trở lại/ Cuối chân trời còn đó bước hôm qua/ Gió đừng cười mây tím rịm thịt da/ Hái một chút tâm linh hằn che mắt phố/ Vắt cạn lòng mình sám hối bên tiếng Đại hồng chung/ Giác ngộ, thức tỉnh…// Mây đứng dậy, cởi phăng lớp áo nhu mì, ủy mị/ Chờ gió quất thêm vài roi nữa/ Mặt trời thấy/ Cao xanh thấy/ Xóa nợ// Mây về với bản thể, mặc chiếc áo mình yêu thích/ Là chính mình, hồn mây trong trẻo, rong chơi/ Bụi trần không vướng/ Mây hồn nhiên trôi!

Đặng Tường Vy tìm đến những góc khuất của tâm hồn. Bao giọt nước mắt, những tiếng nấc nghẹn vì những dằn vặt, khắc khoải, lo âu trước ranh giới mong manh giữa hạnh phúc và khổ đau. Có bàn tay lạnh hơ mùa/ Quờ trong sương trắng gió lùa khô môi/ Chăn không đủ ấm mùa trôi/ Ngồi hơ lửa đỏ một tôi cháy bừng/ Đàn bà xếp nhớ người dưng/ Chưa mùa chín đỏ đã bùng tàn tro/ Ga chiều một bóng ngồi co/ Gió hôn rát mặt tơ vò rối tơi (Níu mùa).

Nhìn lại những gì đã qua với đời chị, đôi lúc Đặng Tường Vy không khỏi bàng hoàng trước những sự thật chua chát ấy. “Nấm mộ tình yêu” là hình tượng đầy ám ảnh. Ở đó là cuộc hôn nhân đổ vỡ, đầy bi kịch. Tổ ấm hay là nơi nước mắt chan canh/ Là nơi trái tim bay biết bay, bay ra khỏi lồng ngực, chạy trốn cơn sợ hãi nén dồn// Tiếng trẻ thơ nài nỉ. Mẹ ơi, ly hôn đi!/ Tiếc gì viên đá treo nơi lồng ngực?/ Tiếc gì hai từ hôn nhân?… Vì đâu nên nỗi? Hay phiên bản lỗi tình yêu?/ Bởi người đàn ông cho mình quá nhiều quyền… hành. Nhưng không vì thế mà làm cho chị gục ngã, Đặng Tường Vy đã sống, yêu thương bằng chính trái tim hồn hậu của người đàn bà đi qua giông bão và những bất trắc của đời mình. Nhà thơ chiêm cảm: Vận hạn mỗi người theo năm tháng cứ tuần tự đi qua theo sự sắp đặt của bàn tay Thượng đế/ Con người là con cờ cứ thế mà đi/ Biết nhưng không xây được nhà chống bão/ Biết để thu mình ẩn nhẫn… (Nghiệp phải trả).

Chị sâu sắc nhận ra những ấm lạnh của cuộc người. Và khi “gia tài” đã thừa thải nỗi đau, Đặng Tường Vy tếu táo chủ động đem “rao bán nỗi cô đơn”: Cô đơn quy đổi ra tiền/ Em đây tỉ phú bậc trên thượng thừa/ Cô đơn rao bán ai mua/ Thôi đem cất giữ vun mùa an yên// Cô đơn đã đổi thành tiền/ Em đem mua hết cảnh tiên hồng trần/ Đời người sống có bao lần/ Thoát y ý muốn thật chân chính mình// Cô đơn quy đổi ra tình/ Em người hạnh phúc đợi nghìn thu qua/ Cô đơn rất đỗi xa hoa/ Ngàn năm lá biếc sương nhòa vẫn kiêu.

 Nhà thơ lấy hết tất cả sức mạnh từ tâm hồn, trái tim để chống lại những va đập của cuộc đời. Khát vọng được yêu đương, bình yên và hạnh phúc luôn hiện hữu trong tâm hồn của chị! Vì thế, khao khát được yêu vẫn luôn thường trực trong huyết mạch và nhà thơ đã không hề giấu giếm điều này: Đôi khi muốn ôm đại một ai đó cho sông đời ngừng chảy/ Cho nhánh buồn bớt ngập mặn bởi mùa trôi/ Con sông cô đơn bởi tình không bến đậu// Cô đơn trong tình yêu, cô đơn trong chính mình/ Quăng chiếc lưới tình yêu bao phủ lấy dòng sông/ Bất ngờ thu về con tép bạc// Đôi khi muốn nắm bàn tay ai đó, để thấy tim mình còn ấm, tình này còn xanh/ Tựa vào vai ai chia nhánh sông đời buồn lưng sóng mắt/ Đi tìm, mãi đi tìm// Côn sông đời không ngừng chảy/ Cô đơn đầy ắp phù sa/ Con đò vô tình hay hữu ý, để lòng sông tím biếc nỗi chờ mong? (Tím biếc một dòng sông).

Thơ tình Đặng Tường Vy là tiếng lòng và sự sẻ chia chân thành. Sự chân thành ấy, làm rung động biết bao con tim, lấy đi những giọt nước mắt nhất là những người đồng cảnh ngộ. Cực chẳng đã con người ta phải đi về những ngã rẽ, nhất là cuộc sống gia đình chồng vợ. Khi mọi thứ không mấy tốt đẹp, đành phải chọn giải pháp là tự giải phóng cho nhau. Đối diện nhau nơi phiên tòa, mặt trái cuộc đời đem phơi/ Từ cái chén đôi đũa đến cái nhà hay sổ ngân hàng, tự dưng biết nói… phân chia/ Sự tệ bạc nhất phóng rõ tại đây/ Vết sẹo lộng kính/ Vứt nhau ra khỏi cuộc đời. Con cái về đâu? Khôn lớn thế nào/ Có lẽ trời sanh voi sanh cỏ. Nếu quan tâm, phiên tòa không in bóng/ Mẹ muôn đời là con cá chuối, ôm con đi về cuối nẻo/ Lặng lẽ hi sinh. Dường như ông trời không mấy công bằng với Đặng Tường Vy, để rồi chị phải nhận về mình bao thua thiệt. Con người trong thơ Đặng Tường Vy luôn mang trong mình nỗi buồn và cô đơn với cảm giác mệt mỏi, đau đớn. Nhưng không vì thế mà đầu hàng số phận, chị đã sống và luôn hướng về tương lai. Đó là điều đáng trân trọng đối với một người phụ nữ bản lĩnh và giàu đức tin như Đặng Tường Vy.

Thơ Đặng Tường Vy với giọng trầm buồn, quặn thắt nhưng giàu khát vọng yêu thương. Nhà thơ đã tự vấn chính mình, rồi nhìn ra xung quanh, nhìn ra mọi hướng, mọi chiều. Thơ tình Đặng Tường Vy chính là cuộc hành trình về với bản thể, về với những gì gần gũi nhất, thành thực nhất, bản năng nhất… Vì thế tiếng thơ của chị trở nên da diết và lắng đọng hơn.

N.V.H

Bài viết liên quan

Xem thêm
Khi lương tri không thể ngủ yên trước thiên nhiên
“Thơ mất ngủ”, bài thơ của TS, nhà thơ, nhạc sĩ Ngọc Lê Ninh, không đến như một tác phẩm mang tính thời sự nhất thời, mà như một nỗi niềm đã được ấp ủ âm thầm suốt nhiều năm, nay trở lại với sức nặng của một lời cảnh tỉnh.
Xem thêm
Thông điệp của nhà văn Vũ Quốc Khánh qua tiểu thuyết Seo Sơn
Quyền lực nếu được trao cho những người có đức có tài sẽ tạo lập nên biết bao điều tốt đẹp. Ngược lại nó lọt vào tay kẻ xấu, thì sẽ gây ra biết bao tội ác và thảm hoạ cho con người.
Xem thêm
“Những ngọn gió biên cương” vọng thức tiền nhân gửi người chiến sĩ
Bài viết của nhà văn Đỗ Viết Nghiệm đăng Văn nghệ TPHCM số mới nhất, ra ngày 29/1/2
Xem thêm
Vì có em nên đã sinh ra...
Bài viết của nhà thơ Đặng Huy Giang về tập thơ “Khói bụi và cỏ” của Đinh Nho Tuấn, NXB Hội Nhà văn 2026
Xem thêm
Những con chữ cháy đỏ tỏa hương
Bài đăng báo Văn nghệ số 4, ngày 24/1/2026.
Xem thêm
Nghe sóng giữa trùng khơi
Nhắc đến Trương Anh Quốc, những ai quan tâm đến văn chương biển đảo hẳn không còn xa lạ bởi anh đã sớm tạo dấu ấn với đề tài này và nhiều lần được vinh danh ở các cuộc thi.Suốt hơn hai mươi năm bôn ba theo tàu khắp các đại dương, Trương Anh Quốc có được trải nghiệm, nguồn sống và kho tư liệu biển đảo đồ sộ. Điều đó không phải ai đi nhiều như anh cũng viết được nếu không nặng lòng với biển và yêu mến con chữ. Không dừng lại ở những trang viết về những con tàu lênh đênh trên các đại dương, anh quyết thâm nhập thực tế để khai thác đề tài giàn khoan dầu khí. Anh từng thổ lộ rằng đã dành gần bảy năm làm việc trên giàn khoan để ấp ủ chất liệu cho hướng đi mới. Và rồi mới đây, trong quý III năm nay, anh ra mắt tiểu thuyết Trùng khơi nghe sóng, một lần nữa khẳng định sở trường kể chuyện về biển hóm hỉnh, tươi vui, đôi khi nghịch ngợm, tạo sắc thái riêng biệt và cuốn hút.
Xem thêm
Đọc truyện ngắn “Rừng Mắm” của Bình Nguyên Lộc, nhớ thuở cha ông đi mở cõi
Bình Nguyên Lộc (1914 - 1987) là người con của Tân Uyên, vùng đất giàu truyền thống cách mạng của tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ông là nhà văn lớn, nhà văn hóa Nam Bộ trong giai đoạn 1945 - 1975. Ông viết hàng trăm cuốn sách, có 30 cuốn đã được xuất bản. Trong gia tài văn chương đồ sộ của ông, truyện ngắn Rừng Mắm là một trong những tác phẩm đặc sắc.
Xem thêm
“Lời đồng vọng” với những áng văn hay
Lời đồng vọng 2 là tập sách mới nhất của nhà phê bình Lê Xuân trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của anh. Có thể nói Lê Xuân là một cây bút đa năng, nhưng thế mạnh của anh vẫn là lĩnh vực phê bình.
Xem thêm
“Bàn tay nhỏ dưới mưa” và “Trò chuyện với thiên thần”
Rất may mắn và được tin cậy khi Trương Văn Dân giao quyển sách đầu tiên cho tôi đề tựa, đó là quyển “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Khi tôi đọc tôi có cảm giác hạnh phúc vì nhận được một điều xứng đáng. Một quyển đáng để cho mình đề tựa.
Xem thêm
Chiến tranh và chiến tranh - Tiếng kêu thương thảm khốc!
László Krasznahorkai sinh năm 1954 tại Gyula, Hungary, học Luật, có bằng Ngôn ngữ Hung và Sư phạm. Nhà văn tự do từ năm 1982. Tiểu thuyết: Sátántangó (Sasantango, 1985), Az ellenállás melankóliája (The Melancholy ơf Resistance, 1989), Az urgai fology (The Prisoner ơf Urga, 1993), Háború és háború (War and War), 1999), Északról hegy, Délróltó, Nyugatról utak, Keletról folyó (From the North by Hill, From the South by Lek, From the West by Roads, From the East by River, 2003), Rombolás és bánat az Égalatt (Destruction and Sorrow beneath the Heavens, 2004), Seiobo járt odalent (Seiobo There Below, 2008), Báró Wenkheim hazatér (The Homecoming ơf Baron Wenkheim, 2016)…
Xem thêm
Cảm nhận về tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của tác giả Trương Văn Dân
Nhận được Bàn tay nhỏ dưới mưa tác giả gởi tặng cũng hơn nửa tháng rồi, tính nhâm nhi đọc nhưng cứ lần lữa mãi. Nay có thời gian thảnh thơi tôi mới có dịp thưởng thức tác phẩm của anh.
Xem thêm
Thời thế “vẽ” nên “chân tài” Tú Xương
Tìm hiểu các tác giả văn học Việt Nam, nhiều khi chúng tôi có suy nghĩ thế này: Nếu không có những hoàn cảnh ngặt nghèo đẩy đưa số phận, sẽ không có những nhân cách lớn, tác gia lớn cho dân tộc. Cho nên nhiều khi sự bất hạnh của bản thân họ lại là sự may mắn cho di sản văn hóa nước nhà. Cụ thể, như trường hợp Đại thi hào Nguyễn Du, nhờ những năm tháng “lênh đênh” mới có kiệt tác Truyện Kiều. Hay như cụ Đồ Chiểu, cũng vì liên tiếp gặp bất hạnh mà chúng ta mới may mắn có được người thầy toàn diện: Nho, y, bốc, lý, đạo, đời…/ Mấy mươi pho sách đều nơi bụng thầy.
Xem thêm
Nhà thơ Trần Kim Dung hoài niệm về những miền ký ức
Bài viết của nhà thơ Ngô Minh Oanh về tập thơ Những dấu chân thơ vẫn ruổi rong
Xem thêm
“Hòa nhập không hòa tan” về văn hóa để vững bước trong kỉ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, hòa nhập không hòa tan là yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay. Để bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên vươn mình của dân tộc,
Xem thêm
Văn trẻ từ quan sát của một biên tập viên
Trong khoảng 15 năm gần đây, do có cơ hội làm việc với nhiều tác giả trẻ, tiếp cận được nhiều bản thảo còn đang phôi thai, tôi có những trải nghiệm tương đối phong phú với văn chương đương thời.
Xem thêm
Hồi ký Những điều còn lại: “Thắng phía trước, được phía sau”
Nhân đọc hồi ký Những điều còn lại của Trung tướng Phùng Khắc Đăng
Xem thêm
Nguyễn Trí Huân với vẻ đẹp tinh chất của Bất chợt mai vàng
Hôm gặp Nguyễn Trí Huân tại Lễ trao giải thưởng văn học nghệ thuật báo chí 5 năm (2020 - 2025) của Bộ Quốc phòng, tôi mừng lắm. Trước nhất là thấy anh không còn phải đội mũ để che một mái đầu trọc sau một thời gian phải dùng thuốc xạ trị căn bệnh hiểm nghèo. Hai là được biết cuốn Bất chợt mai vàng của anh là một trong ba tác phẩm được trao giải A lần này. Hôm ấy tôi đã nói với anh: “Thế là Huân có thể làm thủ tục để xét Giải thưởng Hồ Chí Minh được rồi đấy.” Anh Huân nắm tay tôi hồi lâu và cười rất tươi.
Xem thêm