TIN TỨC

Nụ hôn – biểu tượng của ký ức và lòng nhân hậu

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2025-07-15 06:37:50
mail facebook google pos stwis
771 lượt xem

Ấm lòng những nụ hôn như thế – tập thơ mới của Đại tá, Thầy thuốc ưu tú, nhà thơ Phạm Đình Phú – không chỉ là một cuốn sách về tình yêu – tình người, mà là một khúc tưởng niệm giàu nhân văn. Qua lăng kính thẩm bình thơ của hai nữ nhà thơ Minh Hạnh và Nguyễn Thị Phương Nam, người đọc có thể cảm nhận được những “nụ hôn” mang hình dáng đất nước: có hương cau tuổi học trò, có khói bom chiến địa, có nước mắt tìm nhau sau hòa bình... Và trên hết, có một trái tim người thi sĩ luôn thổn thức trước những gì đẹp nhất và đau nhất của con người. Nhân dịp CLB Thơ Phương Nam chuẩn bị ra mắt tập thơ Ấm lòng những nụ hôn như thế, Văn chương TP. Hồ Chí Minh xin trân trọng giới thiệu hai bài viết này.

 

Nhà thơ MINH HẠNH

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” –
Khi nụ hôn trở thành ngôn ngữ của nhân văn

 

Khi nói đến “nụ hôn” trong thi ca, người ta thường nghĩ đến những rung động lứa đôi, những khoảnh khắc nồng cháy của tình yêu. Nhưng trong tập thơ “ẤM LÒNG NHỮNG NỤ HÔN NHƯ THẾ”, nhà thơ Phạm Đình Phú đã làm một điều đặc biệt hơn thế: ông nâng nụ hôn lên thành biểu tượng của tình người.

Từ nụ hôn tiễn biệt của người mẹ, đến nụ hôn lặng thầm của nữ cứu thương trên chiến trường; từ nụ hôn thơ trẻ đầu đời của những cô gái đồng chiêm trũng, đến nụ hôn trong giấc mơ người lính đã khuất... Tất cả hiện lên như những nhịp tim chưa bao giờ ngủ yên, như thanh âm dịu dàng của ký ức trong một thời đạn bom:

"Nụ hôn cô y tá tặng người chiến sĩ trước phút lâm chung

Không cần giấy phép nhưng ấm lòng mãi mãi."

(Trích “Ấm lòng những nụ hôn như thế”)

Tác giả đã chọn “nụ hôn” làm chủ đề xuyên suốt cả một tập thơ. Với trải nghiệm từng đứng nơi ranh giới sinh tử, việc ông chọn nụ hôn hẳn đã là một sự chọn lựa kỹ lưỡng và đầy dụng tâm.

Nhà thơ Phạm Đình Phú không đi theo lối gợi cảm thông thường mà ông chưng cất từng nụ hôn thành giọt nhân văn tinh túy, để mỗi bài thơ không chỉ là lời thì thầm yêu đương, mà là tiếng gọi từ quá khứ, là cái nhìn sâu sắc về chiến tranh, cùng niềm tin âm ỉ của những thế hệ đã đi qua bom đạn nhưng vẫn giữ được nét dịu dàng trong tâm hồn.

Trong bài “Yêu em đi”, ông để một vong hồn nữ liệt sĩ thì thầm:

"Tĩnh lặng Nghĩa trang Đài

Yêu… em… đi!

Thì thầm thanh tịnh ánh ban mai…"

(Trích “Yêu em đi”)

Không ai đọc mà không rưng rưng.

Ngôn ngữ của ông giản dị, gần gũi, nhưng ẩn chứa tầng sâu cảm xúc từng trải, đúng như cốt cách của người lính nói ít làm nhiều. Ông không lạm dụng mỹ từ mà chọn lối thơ hồi tưởng, thơ thủ thỉ như một cuộc trò chuyện từ trái tim đến trái tim.

Và vì thế những câu thơ như:

"Đôi dép râu thương nhớ, nằm mồ côi

Khi đối diện trước em anh hư thế"

(Trích “Anh hư thế”)

Hay:

"Nụ hôn mặn chát mồ hôi

Hương đồng gió bể dành cho anh"

(Trích “Nụ em đồng chiêm trũng”)

Điều làm nên sự khác biệt sâu sắc của “Ấm lòng những nụ hôn như thế” nằm ở chỗ đây là thơ ký ức, được viết bởi một người lính, một bác sĩ đã từng đi qua chiến tranh. Nụ hôn trong thơ ông vừa là lời chào, lời tiễn, lời xin lỗi, lời hẹn và cả lời vĩnh biệt. Có lẽ vì thế mà ông viết về nụ hôn với một trái tim thổn thức, vì một điều gì đó sâu xa hơn cả tình yêu đôi lứa: đó chính là tình người.

“Ấm lòng những nụ hôn như thế” không chỉ là một tập thơ viết về nụ hôn. Đó là một nụ hôn thi ca được đặt trong suy tư, trăn trở của một thời, như một cách tri ân, một lời tiễn biệt và cũng là một niềm hy vọng.

Trong nhịp sống hối hả hôm nay, khi ngôn từ dễ rơi vào sáo mòn, tập thơ này như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng: Có những nụ hôn không chỉ dành cho đôi lứa mà dành cho cả một dân tộc, như một cái ôm chạm sâu vào ký ức.

Đọc thơ ông tôi không chỉ thấy lòng mình được “ấm” mà còn thấy lòng mình được thức tỉnh. Bởi tình yêu lớn nhất đôi khi chỉ cần một nụ hôn ấy làm đau đáu biết bao thế hệ. Nụ hôn ấy ấm mãi khát khao cháy bỏng được sống được yêu. Nụ hôn ấy là niềm tin cho ngày mai tươi sáng. Nụ hôn làm ấm lòng, trăn trở những người đang sống và nhất là những người cầm bút như chúng tôi.

 

Nhà thơ NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NAM

Đôi điều cảm nhận khi đến với
tập thơ “Ấm lòng những nụ hôn như thế”

 

 “Những nụ hôn” ấm nồng tình cảm

 Từ thuở lọt lòng cha mẹ trao anh

 Ông bà nâng niu đứa cháu hiền lành

 Đi, đi mãi không quên thời thơ dại.

 

 “Những nụ hôn” tuổi trăng tròn hò hẹn

 “Mười tám” đôi mươi tim rạo rực dạt dào

  Gửi cho em, nào “hương bưởi, hương cau”

 “Những nụ hôn” cháy nồng như nắng hạ.

 

 “Những nụ hôn” sau mùa thi cuối khóa

 Bên nữ bên nam chan chứa tình thương

 Tạm biệt nhau, “nụ hồng xua” nỗi nhớ

 Để ngày mai ta xa cách bốn phương.

 

 Tổ quốc lâm nguy sẵn sàng ra trận

 “Chiến đấu hết mình dưới cờ sao!”

 Có “nụ hôn ngào ngạt em trao”

 Đến anh chiến sĩ đi vào thiên thu.

 

 Bao năm kháng chiến không ngừng nghỉ

 Có những nụ hôn vội vã chiến hào.

 Bao đồng đội hy sinh vì nghĩa lớn

 Thương tuổi trẻ hẹn hò mà chưa kịp hôn nhau.

 

 Ơi em nữ cứu thương với “nụ hôn đầu”

 Ôi yêu thương người con gái trẻ

 Mảnh bom thù xé nát trái tim em

 Thôi “em ở lại với rừng xanh” em nhé!
 

                          ***
 

  Hòa bình rồi sao anh không trở lại

 Em đi tìm “hơn bốn lăm năm” qua

 “Hòa vào đất nụ hôn đầu tươi rói”

 Em đưa anh về, gần mẹ, gần cha.

 

“Ấm lòng những nụ hôn như thế”

 Những nụ hôn ngọt ngào

                        chứa đựng tính nhân văn.

________

P/s: Những cụm từ trong ngoặc kép là tên một số bài thơ trong tập “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Xin cảm ơn tác giả, nhà thơ Phạm Đình Phú với tác phẩm mới “Ấm lòng những nụ hôn như thế”.

Ngày 10 tháng 7 năm 2025

N.T.P.N

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lí luận văn nghệ marxist về “con người” và sự chuyển đổi nội hàm khái niệm trong thời đại mới
Trong quá trình hình thành và phát triển của lí luận văn nghệ marxist, “con người” luôn là điểm quy chiếu trung tâm, nhưng được soi chiếu dưới những góc độ khác nhau: con người giai cấp, con người nhân dân, con người trong viễn cảnh phát triển tự do, toàn diện. Nếu như ở phương Tây, lí luận này phát triển chủ yếu trong tương tác với chủ nghĩa tư bản công nghiệp và hiện đại hóa, thì ở các nước xã hội chủ nghĩa phương Đông, đặc biệt là Việt Nam và Trung Quốc, nó lại đi vào đời sống thông qua cách mạng dân tộc - dân chủ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Điều đó khiến cho quan niệm “con người” trong lí luận văn nghệ marxist ở Việt Nam và Trung Quốc không chỉ là “sự tiếp nhận” các phạm trù ngoại lai, mà là kết quả của quá trình bản địa hóa, nơi chủ nghĩa Marx liên tục đối thoại với truyền thống văn hóa, với yêu cầu giải phóng dân tộc và xây dựng đời sống tinh thần mới.
Xem thêm
Người đàn bà đi ngược gió
Hồi sinh là cuốn tiểu thuyết thứ bảy của Thùy Dương (sau Ngụ cư, Thức giấc, Nhân gian, Chân trần, Lạc lối, Tam giác muôn đời). Viết gì thì nhà văn cũng không bước qua phên giậu của thân phận con người, đặc biệt là người nữ.
Xem thêm
Nhà văn Minh Chuyên và nỗi đau thời hậu chiến
Minh Chuyên là một nhà văn, nhà báo và đạo diễn phim nổi tiếng với hơn 70 tập truyện ngắn, truyện ký, tiểu thuyết và kịch bản văn học. Là một nhà văn cựu chiến binh đã tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Minh Chuyên tập trung viết về nỗi đau của con người do di hoạ chiến tranh, nỗi đau của những cựu binh, thanh niên xung phong trở về hoặc không trở về sau cuộc chiến và người thân, gia đình của họ. Sau cuộc chiến là cuộc đời tập hợp những truyện ký đặc sắc của Minh Chuyên về đề tài đó. Tác phẩm gồm 2 phần: Phần 1 “Còn đó những vết thương”, gồm 4 truyện ký. Phần 2: “Sau cùng là ánh sáng”, gồm 5 truyện ký. Tác phẩm thể hiện những nghịch cảnh éo le, đầy đau thương của những cựu binh và gia đình họ sau chiến tranh, đồng thời ngợi ca tình người, lòng yêu thương đầy sức cảm hoá, chữa lành của con người sau cuộc chiến hào hùng và tàn khốc.
Xem thêm
Đối thoại bàn về Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Trong giới nghiên cứu chúng ta chỉ hay nhấn mạnh cụ với tư cách là một nhà thơ, là một thi sĩ nhưng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, Phùng Khắc Khoan có vị trí quan trọng vì truyền thống của người Việt thì không có những trước tác lớn về các vấn đề bản thể luận, về thế giới, về các vấn đề nhận thức luận và về các vấn đề về phương phương pháp nghiên cứu khoa học.
Xem thêm
Thơ Tố Hữu và sự hiện hữu trong di sản văn học miền Nam (1954 -1975)
Cuộc sống thường có những bất ngờ, văn học là bức tranh phản ánh hiện thực đời sống nên nó cũng có những bất ngờ mà ít khi chúng ta nghĩ đến. Sự bất ngờ đó nếu trong tác phẩm tiểu thuyết vốn mang tính hư cấu là điều bình thường. Song, điều này lại xuất hiện trong lĩnh vực lý luận phê bình vốn không chấp nhận những hư cấu mà chỉ tôn trọng giá trị khoa học và thực chứng thì đây quả là một điều bất ngờ khá ấn tượng. Thế nên, sự hiện hữu của thơ Tố Hữu trong di sản văn học miền Nam (1954-1975) ở các công trình nghiên cứu, lý luận phê bình không phải là một sự bất ngờ mà đó là một tất yếu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong đời sống văn học mà sự tiếp nhận những hiện tượng văn học khác biệt đã trở thành một điều bình thường đối với các nhà nghiên cứu.
Xem thêm
Một ngọn nến giữa vô thường – Đọc thơ Nguyên Bình
Trong thơ Việt, lục bát giống như một dòng sông lâu đời. Nó chảy qua ca dao, qua Truyện Kiều, qua bao nhiêu thế hệ thi sĩ. Có người tìm cách đổi mới nó. Có người trở về cội nguồn của nó. Nhưng hiếm ai có thể vừa ở trong truyền thống, vừa giữ được một giọng riêng.
Xem thêm
Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên
Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương trào dâng của tác giả. Mỗi bài thơ là lời nhắn gửi, và tôi cũng vô cùng ngạc nhiên, thán phục trước sự dạt dào, trước những tưởng tượng và bao nhiêu điều xung quanh cuộc sống đã được chị đem vào để nhào nặn hết thảy cho tình yêu cháy bỏng, để tro tàn hết những khát khao.
Xem thêm
Lê Văn Trung - Tiếng thơ của một đời du tử
Trong thế giới ấy, con người hiện lên như một kẻ du tử, mang theo nỗi nhớ quê nhà, mang theo những vết thương của thời gian, và đôi khi mang theo cả sự hoài nghi về chính ý nghĩa của thơ ca. Nhưng chính trong sự hoài nghi ấy, thơ lại trở thành nơi lưu giữ những dấu vết mong manh nhất của đời sống.
Xem thêm
Trắng đen đâu dễ dò tìm
Mật ngữ trắng đen – ngay từ nhan đề đã gợi một hành trình đi tìm những ranh giới mong manh giữa đục và trong, giữa thực và ảo của đời sống.
Xem thêm
Nơi trăng không hắt bóng, câu chuyện về ánh sáng và bóng tối trong mỗi con người
Có những cuốn tiểu thuyết bước vào đời sống văn học như một sự kiện. Nhưng cũng có những cuốn sách xuất hiện lặng lẽ hơn, gần như âm thầm, để rồi sau vài trang đầu người đọc nhận ra mình đang bước vào một vùng ánh sáng khác của văn chương. Nơi trăng không hắt bóng thuộc về loại hiếm hoi đó.
Xem thêm
Nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và chuyện nghề
Nói về nghề, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, tính đến nay có hơn năm mươi năm cầm bút. Năm mươi năm là nửa thế kỷ so với trước đây đời người đã là dài, nhưng trong xã hội hiện đại chất lượng sống tốt hơn, cao hơn, tuổi thọ con người cũng tăng lên đáng kể, dù vậy sự nghiệp văn chương ở độ ấy cũng là đỉnh. Trong bài viết này tôi chỉ xin lấy cái mốc thời gian từ năm 1975 trở lại đây cho dễ nhớ, khi ông vào sinh sống làm việc tại Sài Gòn, nghiệp viết văn mới bắt đầu nở rộ.
Xem thêm
Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính
Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập Viết về Mẹ gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả.
Xem thêm
“Nghìn nghi lễ tình” của Nhật Chiêu: Ban sơ người đã thương rồi
Đọc Nghìn nghi lễ tình, có lúc người ta có cảm giác như Nhật Chiêu không chỉ làm thơ mà còn đang lắng nghe tiếng Việt tự cất lên, từ “lời Tiên Dung” đến “tiếng khóc Kiều”, từ thiền thi thời Trần đến thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, tất cả như cùng hội tụ trong một dòng chảy mà nhà thơ gọi là “tiếng nước”.
Xem thêm
Giữa thế giới chạy bằng thuật toán, thơ vẫn đi bằng trái tim
Khi thế giới ồn ào, thơ lắng lại. Khi thế giới phẳng, thơ tạo thêm độ sâu. Khi người ta mải miết đo lường giá trị bằng lượt xem, bằng lượng like, thơ âm thầm giữ lại sự sang trọng của những điều chỉ đo được bằng nhịp tim.
Xem thêm
Niềm tin nẩy mầm
Nhà thơ Nông Thị Ngọc Hoà là người dân tộc Tày, “và chính nền tảng văn hóa dân tộc đã nuôi dưỡng tiếng nói nghệ thuật riêng biệt trong sáng tác của chị, phản ánh sâu sắc đời sống, phong tục, cảnh quan và tâm thức của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam”.
Xem thêm
Một mùa hè dưới bóng cây
Tôi quen nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đã lâu và luôn cảm phục anh vì sức viết sáng tạo, sớm định hình phong cách riêng. Đã từ lâu tôi từng ấp ủ dự định viết một cái gì đó nhưng hình như chưa đủ duyên với các tác phẩm của anh; Khi đang hào hứng viết về bút ký Dặm ngàn hương cốm mẹ thì bị bỏ dở do nhiều sự vụ xen vào trong quá trình công tác, những hai lần bỏ dở và đến nay chưa hoàn thành.
Xem thêm
Tôi lại thở dài ngó xa xăm
Trong dòng chảy của thi ca đương đại, bài thơ Tôi lại thở dài ngó xa xăm của Đặng Xuân Xuyến hiện lên như một nốt trầm mặc, đầy ám ảnh về thân phận và sự lỡ dở của tình yêu. Bằng một bút pháp cổ điển kết hợp với cái nhìn hiện thực đầy xót xa, Đặng Xuân Xuyến không chỉ kể lại một câu chuyện tình buồn mà còn dệt nên một bức tranh tâm trạng, nơi thời gian và không gian không còn là thực thể vật lý mà trở thành những lớp lang của bi kịch nhân sinh.
Xem thêm
Chế Lan Viên - Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.
Xem thêm
Nấm mộ nở hoa từ lòng trắc ẩn
Kết thúc bài thơ không phải là cái chết, mà là sự tái sinh. Mùa đông thường gợi sự tàn phai, nhưng ở đây, mùa đông lại là lúc hoa cúc bừng nắng. Nấm mộ của bà lão vô gia cư đã trở thành một đốm lửa ấm áp giữa cánh đồng, một biểu tượng vĩnh hằng của lòng tốt.
Xem thêm