TIN TỨC

Khắc họa một vùng văn hóa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-17 20:07:08
mail facebook google pos stwis
1587 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG
(Đọc tiểu thuyết “Bửu sơn kỳ hương” của Lý Lan, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2022)

Lâu nay, nhiều người quan niệm, một cuốn tiểu thuyết hay, trước hết phải mới ở thi pháp, nghĩa là nó mang đến cho độc giả cách thể hiện lạ, chí ít cũng đang là model của thời cuộc mà những người viết trẻ đang hăm hở thực hiện. Nhưng ở tiểu thuyết Bửu sơn kỳ hương của Lý Lan thì hình như không phải thế, vẫn bút pháp hiện thực nghiêm ngặt, vẫn cách kể truyền thống, thậm chí không có cả không gian hồi tưởng, không gian hiện tại và quá khứ đan xen nhau, chứ chưa nói đến kiểu viết hậu hiện đại đang được nhiều người nói đến, như: Mãnh vỡ, trò chơi, phi trung tâm, liên văn bản, nhại, mê lộ, nghịch dị, huyền ảo... Nhưng đọc Bửu sơn kỳ hương vẫn hay, hay ở giọng văn, ở nghệ thuật khắc họa nhân vật, ở chi tiết đắt giá, ở vốn sống, vốn văn hóa của tác giả được thể hiện rất linh hoạt, tài tình.

Bố cục cuốn sách theo thời gian tuyến tính, các nhân vật được xếp làm ba nhóm, nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai không mâu thuẫn nhau, thậm chí còn bổ sung cho nhau làm nổi bật tính cách nhân vật. Nhóm thứ nhất là ông Phật Ngồi, Bình, Chị Hai, ông bà Tư, Hà Vinh Long... Nhóm thứ hai là những người Minh Hương như gia đình ông Ứng Xương, ông chủ nhà thuốc Phước Xuân Đường, ông Hòa, Tuấn, Vĩnh Xương, Tịnh... Nhóm thứ ba phản diện là quan lại triều đình bảo thủ, lạc hậu, là quân Pháp xâm lược, là những kẻ làm tay sai cho thực dân Pháp...

Bối cảnh câu chuyện xảy ra từ cuối thời vua Gia Long, qua thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, một thời kỳ đầy giông bão của lịch sử Việt Nam. Câu chuyện xoay quanh nhân vật huyền thoại, ông Phật Ngồi, sau này trở thành giáo chủ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, có cách tu theo kiểu người Việt, phù hợp với văn hóa người Việt nên cuốn hút được khá nhiều tín đồ. Xuyên suốt không gian và thời gian của truyện là kể về gia tộc người Hoa, vốn là người Minh Hương sang nước ta chưa lâu, những người phản Thanh phục Minh, được các chúa Nguyễn cưu mang, cấp đất cho sinh sống và trở thành một bộ phận tích cực trong xã hội Việt Nam. Sự gặp nhau giữa ông Phật Ngồi và gia tộc người hoa của dòng họ Huỳnh cũng đều làm thuốc cứu người. Giữa lúc Nam bộ đang bị dịch bệnh. Phật Ngồi học thuốc nhờ nhiều năm tu trên núi, kể cả học được một số vị thuốc ở Phước Xuân Đường của ông chủ Tế Xương. Dòng họ Huỳnh từ ông nội đã truyền đời cho ông Ứng Xương, ông Tế Xương, đến đời Vĩnh Xương. Dòng họ Huỳnh cũng chịu nhiều mất mát khi thời cuộc đảo điên. Cụ Thượng, Tổng trấn thành Gia Định qua đời, đến loạn Lê Văn Khôi. Ông Ứng Xương, với vai trò là lương y vào thành trị bệnh cho quân lính đã bị mắc kẹt trong thành, bị quan quân triều đình đánh thành và chết trong đám loạn quân. Gia đình Ứng Xương cũng bị liên lụy theo, phải trốn tránh sự truy lùng của quan quân triều đình. Thậm chí ông Phật Ngồi cũng bị nhốt tù vì nghi là kẻ phản loạn. Mãi đến thời Thiệu Trị, Cụ thượng (Lê Văn Duyệt) được minh oan, thì vụ án Phước Xuân Đường mới được gỡ bỏ.

Trên cái nền cốt truyện đó, Lý Lan đã kể bằng giọng giàu hình ảnh, đưa người đọc khám phá một vùng đất mới khai mở, từ Châu Đốc, sát biên giới với nước láng giềng Chân Lạp xuôi dòng Cửu Long xuống Sa Đéc, Vĩnh Long, sang sông Vàm Cỏ, sông Bến Nghé, sông Đồng Nai với Cù Lao Phố,  Biên Hòa, Đề Ngạn... Người ta  sống trong không gian sông nước, đi lại chủ yếu bằng thuyền. Ta gặp những con người nghèo khổ, phóng khoáng, với những căn nhà ở hôm trước, hôm sau dời đi, chỉ cần vài cái đạp là dọn xong. Cảnh sông nước cá tôm nhiều đến dùng tay không cũng bắt được, ăn thoải mái. Sống trên cồn vắng mấy mùa mưa nắng mà vẫn kiếm được cái ăn từ thiên nhiên. Hình như con người nơi đây không mấy quan tâm đến cái ăn, cái mặc vì được thiên nhiên ưu đãi. Thiên nhiên, xã hội đã tạo nên tính cách con người Nam bộ, trọng người nghĩa khí. Người Minh Hương sang ở chung với những người Việt đã cộng sinh, giúp đỡ nhau, gắn bó với nhau. Chính những người Nam bộ đã làm thay đổi cách sống của người Minh Hương, hình như họ cũng chân thành hơn, phóng khoáng hơn. Họ tựa vào nhau bằng đức tin tôn giáo, bằng tình người, bằng lòng nhân hậu. Trong truyện ta gặp các nhân vật như chị Hai, Bình, ông bà Tư... xoay quanh nhân vật ông Phật Ngồi, họ vừa làm nổi bật ông Phật Ngồi, vừa thể hiện chất hồn nhiên của người dân Nam bộ.

Ông Phật Ngồi, nguyên mẫu là Đạo Lành, sau này được gọi là Phật Thầy Tây An do ông Đoàn Minh Huyên sáng lập. Ông có tài trị bệnh cho dân, có người chữa khỏi, có người không. Người không qua khỏi thì cho là mình nặng kiếp, do không có phước. Người trị khỏi thì cho rằng mình được phật trời phù trợ. Tiếng lành đồn xa, người ta tin theo những lời răn dạy của ông. Bửu Sơn là núi báu, Kỳ Hương là hương thơm lạ. Noi theo giáo lý nhà phật mà tu sửa con người. Nhưng cụ thể hơn, đạo lấy thuyết tứ ân làm gốc như: Ân tổ tiên, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Đạo của ông tu theo thuyết vô vi, nghĩa là không chú trọng vào hình thức như thờ tượng phật, không cần ly gia cắt ái,  không cần ăn chay, cạo râu, cạo tóc, gõ mõ tụng kinh...Ngay cả khi ông Phật ngồi, chị Hai, Bình bị bỏ rơi trên cồn vắng cả năm trời, Bình vẫn thấy ông Phật ngồi tĩnh tọa, bình thản. Bình thản cả khi chị Hai trong đêm vắng “Chị ngắm gương mặt bị râu tóc phủ kín của người đó. Mặc cho gió thổi râu tóc phất phơ, người đó không hề đưa tay lên vuốt hay buộc lại. Trừ món râu tóc kỳ dị, người đó ngồi bất động như một pho tượng Phật. Chị càng tin đó là Phật sống, vì ngay cả khi chị cầm tay người đó đưa lên ngực mình, chị nhận ra đôi mắt người đó sự thương yêu chứ không phải ham muốn. Cả khi chị say men hay say cái quỷ gì hồi khuya, nằm lăn ra gối đầu lên đùi người đó, mà khi thức giấc ngóc đầu lên nhìn, chị thấy đôi mắt của người đó điềm nhiên nhìn con đò đã lui ra khỏi bãi...” (Trang 31). Sau này, chính ông Phật Ngồi đã cuốn nhân dân kéo về Bảy Núi để lập làng kháng chiến chống lại quân xâm lược Pháp, đúng theo giáo lý của ông “ Ân đất nước”. Nhân vật giáo phái tu theo kiểu riêng chỉ có ở người Nam bộ, lòng thương dân, lòng yêu nước và cuốn hút người dân đi theo cũng đúng theo kiểu Nam bộ.

Nhân vật Chị Hai cũng rất đặc biệt, chị sống tự do, gặp hoàn cảnh éo le bị dạt sang cồn vắng, chính chị là người đảm đang nhất lo cho ông Phật Ngồi và anh chàng Bình hậu đậu. Chị biết bện dây rừng làm võng, cất chòi cho cả ba người ở, đi hái rau tập tàng về cho cả ba người ăn, chị lo cho họ như lo cho người thân của mình một cách vô tư. Rồi chị có bầu với Bình, trong một trận lũ kinh hoàng, chị bị đẻ rớt từ trên ngọn cây. Thai nhi rớt xuống nước còn mang theo nhau và cuống rốn. Không sợ nguy hiểm, chi nhào xuống nước theo con và bị lũ cuốn đi. May nhờ ông bà Tư, đôi vợ chồng già neo đơn đã cứu vớt được mẹ con chị, cưu mang hai mẹ con với tấm lòng nhân hậu. Còn anh chàng Bình, người làm công cho Phước Xuân Đường, được ông chủ sai đi theo giúp đỡ Phật thầy, tuy hơi hậu đậu nhưng anh tỏ ra là người thật thà, trung thành với chủ. Chính anh sau này đã theo Phật thầy kéo về Bảy Núi cùng nhân dân kháng chiến chống Pháp.

Những nhân vật người Hoa trong truyện được tác giả xây dựng khá thành công. Họ là những người có tầm nhìn xa, có ơn trả ơn bằng việc trung thành với các chúa Nguyễn khi các chúa Nguyễn cho họ vào sinh sống ở đất Nam bộ. Họ giúp đỡ các chúa Nguyễn ngay cả khi chúa Nguyễn bị thất bại, lúc Nguyễn Ánh chỉ còn vài chục người đi theo. Chính vì sự trung thành đó họ bị Tây Sơn trả thù, truy sát. Nhưng khi Nguyễn Ánh thành công, lên làm vua, họ lại không ra làm quan, chỉ mở nhà thuốc cứu dân, nhất là khi đại dịch kéo đến, họ dám liều mạng ở trong tâm dịch để cứu chữa cho các nạn nhân vô vụ lợi. Qua ngòi bút của Lý Lan, những người Hoa thật độ lượng, thật quảng giao, trọng nghĩa khí. Có ơn trả ơn, có lỗi tìm cách chuộc lỗi. Khi thực dân Pháp cại trị, mặc dù họ biết tiếng Pháp cũng không ra hợp tác với quân xâm lược. Cũng có người đã theo ông Đạo Ngồi lên núi kháng chiến chống Pháp. Có lẽ Lý Lan sinh ra, lớn lên trong gia tộc người Hoa nên chị rất rành tính cách, văn hóa người Hoa. Những trang viết của chị có tâm thức người Hoa, nó bàng bạc trong những câu chữ không dễ dẫn ra được, nhưng chị đã thành công khi xây dựng những nhân vật này.

Cuối cùng là nhân vật hiện nay vẫn còn tranh cãi là nên tôn vinh hay lên án đó là Phan Thanh Giản, làm quan qua mấy đời vua nhà Nguyễn, cuối cùng là vua Tự Đức. Ông nhiều lần bị giáng chức rồi lại phục chức. Vua giao trọng trách cho ông sang Pháp đàm phán chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam bộ, nhưng cuộc đàm phán thất bại- dĩ nhiên. Vua giao cho ông trấn nhậm vùng biên địa phương Nam khi ông đã bước qua tuổi bảy mươi. Lúc “Mười mấy tàu Pháp đậu kín mặt nước trước thành Vĩnh Long, cả trăm nòng pháo chĩa vào thành...Pháo của chúng sẽ bắn tan nát thành lũy trong vòng một giờ, sau đó năm ngàn lính tập được huấn luyện kỹ và một ngàn chiến sĩ dũng mãnh Pháp với vũ khí tối tân sẽ đổ bộ và giết bất kỳ kẻ kháng cự nào...Ông Giản đứng như trời trồng. Ông không chỉ nghĩ đến vợ con... ông nghĩ đến hàng ngàn gia đình tỵ địa chưa kịp ở yên, ông nghĩ đến hàng trăm sĩ tử tuổi đôi mươi và tất cả sĩ phu đang tụ tập ở Văn thánh miếu, ông nghĩ đến hàng vạn người đang cấy lúa, đắp bờ, phần lớn là đàn bà trẻ con. Ông chấp nhận giao thành với điều kiện quan Pháp không cho lính tàn sát nhân dân” (trang 327,328). Rồi ông nhận trách nhiệm về mình bằng cách nhịn ăn, qua mười ngày vẫn chưa tới chỗ hoại, ông uống thuốc độc, chết trong đau đớn. Cái chết của Phan Thanh Giản giống như cái chết của Võ Tánh và Ngô Tòng Chu khi không giữ được thành Bình Định thời chúa Nguyễn Ánh. Trước khi chết, họ cũng yêu cầu quân địch không sát hại nhân dân và những người lính trong thành. Ngày nay nhìn lại, ta nên rộng lượng cho cụ Giản vì vũ khí thời đó của quân ta còn thô sơ, không thể đấu với súng trường, đại bác công phá ghê gớm, có chiến cũng sẽ thất bại, lại làm liên lụy đến hàng ngàn người phải chết thê thảm. Ông nhận trách nhiệm về mình và tuẫn tiết một cách bị hùng.

Tuy vậy cuối cuốn tiểu thuyết tác giả vẫn hé cho người đọc niềm hy vọng, bởi vẫn còn hơn một ngàn người vẫn cầm súng kháng chiến trong núi Cấm, nơi có đại bản doanh của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Nhất là đoạn kết có hậu “ Lịch sử chép, Pháp chiếm toàn cõi nước Việt Nam năm 1884 và phải hoàn toàn rút khỏi Việt Nam sau khi đầu hàng ở Điện Biên Phủ năm 1954”.

Lý Lan đa từng dạy học ở Việt Nam, định cư ở Hoa Kỳ, là tác giả của của hơn 30 đầu sách, dịch giả của bộ sách Harry Potter, nghĩa là chị đang sống trong dòng chảy văn học phương Tây, nhưng chị không bắt chước cách viết theo trào lưu phương Tây. Chị chọn cách viết có vẻ truyền thống, nhưng theo tôi, nghệ thuật cao nhất là thể hiện kỹ năng tốt nhất điều mình muốn nói. Ở Bửu Sơn Kỳ Hương, tác giả Lý Lan bằng cách kể điềm tĩnh, với nhiều chi tiết độc đáo, giàu hình ảnh đã khắc họa được không gian một vùng văn hóa đặc sắc đất phương Nam buổi đầu mở cõi của dân tộc ta, đó là thành công đáng ghi nhận.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Mẹ, cánh võng, lời ru - mạch nguồn chủ đạo trong thơ Nguyễn Vũ Quỳnh
Bài thơ cánh võng là tập sách thứ chín của nhà báo, nhà thơ Nguyễn Vũ Quỳnh, một dấu mốc tiếp tục khẳng định phong cách nghệ thuật riêng cùng hành trình sáng tạo bền bỉ, nhất quán của anh.
Xem thêm
Nhà thơ Bích Khê và bài thơ “Tỳ Bà”
Bốn câu thơ này tuyệt hay, đã vẽ nên một bức tranh thu thấm đẫm nỗi buồn lan tỏa khắp không gian, nơi cảm xúc không còn nằm trong lòng người mà đã di chuyển, ký gửi vào cảnh vật. Điệp từ “buồn” kết hợp với các động từ “lưu”, “sang”, “vương” khiến nỗi buồn như có hình hài, có bước đi, len lỏi từ “cây đào” của mùa xuân đến “cây tùng” của mùa đông rồi dừng lại ở “cây ngô đồng” mùa thu. Cách triển khai ấy tạo nên một hành trình cảm xúc xuyên mùa, cho thấy nỗi buồn không thuộc riêng một thời khắc mà là nỗi buồn thường trực, ám ảnh.
Xem thêm
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền
(Vanchuongthanhphohochiminh.vn) - Cứ mỗi lần nhìn thấy chiếc xe máy chở hai người đến tham dự buổi ra mắt Quán Văn, khi người lái dừng xe, quàng chiếc ba lô lên vai, người ngồi sau ngậm pip, mắt mơ màng bước xuống là tự dưng tôi nhớ đến tên một tác phẩm “Nhà khổ hạnh và gã lang thang” của Hermann Hesse.
Xem thêm
“Cuộc phiêu du của Chép Hồng” - một diễn ngôn về nước
Cuộc phiêu du của Chép Hồng của tác giả Tiến sĩ - Doanh nhân Phạm Hồng Điệp, xét về thể loại “đồng thoại”, tương đồng với Dế mèn phiêu lưu ký của trưởng lão làng văn Tô Hoài. Xét về cấu tứ tác phẩm, cả hai áng văn dù ra đời cách nhau hơn tám mươi năm nhưng đều chung đúc một ý tưởng về tinh thần cộng sinh, hiện sinh, thuận thiên của mọi sinh vật tồn tại trên trái đất này, dù chúng hiện hữu trên cạn hay trong nước (biển, sông, ao hồ, kênh rạch,...), dù chốn thâm sơn cùng cốc hay giữa đồng bằng thẳng cánh cò bay lả bay la.
Xem thêm
Vẻ đẹp của người nữ trong “Bể người thăm thẳm”
Nữ giới trong thế giới truyện ngắn của Nguyễn Thị Lê Na có thể nói là đề tài xuyên suốt từ tập truyện ngắn đầu tay Bến mê (2007) đến Đắng ngọt đàn bà (2018) và bây giờ được triển khai đầy đặn trong Bể người thăm thẳm (2025). Bến mê được coi là cánh cửa đầu tiên thể hiện sự giằng xé và khao khát thoát li những ràng buộc hôn nhân truyền thống. Đắng ngọt đàn bà đánh dấu bước chuyển trong cách tiếp cận hiện thực, trực diện trưng ra những thăng trầm mái ấm, những va đập nghiệt ngã đời sống và minh định bản lĩnh, cá tính độc lập của người nữ trên con đường kiếm tìm nhân vị. Với Bể người thăm thẳm, dù xã hội hiện đại đã có cái nhìn cởi mở, bình đẳng hơn trước, nhưng Nguyễn Thị Lê Na vẫn nhận ra những dây mơ rễ má của định kiến, của sự áp đặt vô hình còn vương lại trong những câu chuyện về tình yêu và hôn nhân, trong cách đàn ông và đàn bà đối xử với nhau. Tác phẩm đã gỡ tách những lớp bi kịch, ghi nhận sức mạnh nội tâm của người phụ nữ biết đối diện, biết bắt đầu lại và biết đi tìm hạnh phúc cho chính mình. Ngòi bút của chị trực diện, sắc sảo, chú trọng khai thác những chuyển động tâm lí của nhân vật để gợi bật những vấn đề nhân văn rộng lớn.
Xem thêm
Thơ ca Khmer đương đại ở Nam Bộ - Không gian tự sự tập thể về căn tính tộc người
Tóm tắt: Được sáng tác chủ yếu bằng tiếng Khmer và được phổ biến rộng rãi thông qua các ấn phẩm văn nghệ Khmer địa phương, các tập thơ, thơ ca Khmer đương đại không chỉ phản ánh tâm tư, tình cảm và tư tưởng của cá nhân tác giả mà còn là không gian tự sự tập thể lưu giữ ký ức, biểu đạt căn tính tộc người và khẳng định bản sắc văn hóa của người Khmer Nam Bộ. Bằng phương pháp khảo sát, phân tích một số sáng tác tiêu biểu của các tác giả thơ Khmer đương đại như Sang Sết, Thạch Phách và Thạch Đờ Ni trên cơ sở lý thuyết về căn tính tộc người và tự sự tập thể, nghiên cứu chỉ ra rằng thơ ca vừa đóng vai trò như một kho tàng lưu trữ ký ức cộng đồng, vừa là diễn ngôn văn hóa giúp cộng đồng Khmer khẳng định vị trí của mình trong xã hội đa tộc người ở Nam Bộ. Nghiên cứu góp phần nhận diện rõ hơn vai trò của thơ ca Khmer đương đại trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người trong bối cảnh hiện nay.
Xem thêm
Tượng đài người anh hùng và nghệ thuật kiến tạo
Bằng ngôn ngữ sử thi - trữ tình, trường ca Mặt trời nồng ấm trong tim của nhà thơ Châu La Việt đặt nhân vật anh hùng vào trung tâm của lịch sử; lại đặt lịch sử vào mạch cảm xúc nhân văn sâu lắng để các hình tượng tự khúc xạ trong nhau, rồi ánh xạ vào nhau cùng tôn lên vẻ đẹp rạng rỡ của nhân vật trung tâm: Nhân dân.
Xem thêm
Đi Dọc trời hoa lửa với nhà thơ Lương Minh Cừ
Đọc tập thơ này, không biết ai cảm nhận như thế nào, nhưng riêng tôi như được trở lại ngày xưa nơi chiến trận chân ta bước tiếp. Tôi như trở lại đi trên con đường thơ DỌC TRỜI HOA LỬA. Trên con đường thơ ấy, tôi được gặp lại khoảng trời, mặt đất những ngày chiến tranh ác liệt trên biên giới Tây Nam và đất nước Chùa Tháp trong không gian yên bình hôm nay.
Xem thêm
“Hoa của nước” – Trường ca của ký ức, biểu tượng và căn tính dân tộc
Đọc bản trường ca “Hoa của nước” (song ngữ Việt – Anh) dày hơn 240 trang của nhà văn Trầm Hương, người đọc không chỉ tiếp cận một tác phẩm văn chương, mà còn bước vào một cấu trúc thẩm mỹ được kiến tạo công phu, nơi chữ nghĩa, hình ảnh và tri thức liên ngành hòa quyện. Đây là một công trình nghệ thuật mang tính tích hợp, kết tinh từ “một cuộc hành trình trải dài năm tháng”, cho thấy độ lắng của trải nghiệm và chiều sâu của tư duy nghệ thuật.
Xem thêm
Sự hào sảng trong thơ Trần Chấn Uy
Nhà thơ Trần Chấn Uy vừa cho ra mắt cuốn: “Thơ Trần Chấn Uy”, đây là tập thơ do Thư viện Quốc gia Việt Nam ấn hành với 1.450 ấn bản, do Hội Nhà văn Việt Nam xuất bản trong khuôn khổ Tác phẩm văn học đưa vào thư viện và trường học. Đây là một tác phẩm đẹp, công phu, dày hơn 500 trang với gần 500 bài thơ, một phần của quá trình làm thơ của anh, tính từ năm 2015 đến nay. Một tập thơ sang trọng, in đẹp và những bài thơ của Trần Chấn Uy hào sảng, có tình yêu đất nước, quê hương và cả những bài tình yêu.
Xem thêm
Cảm thức sông Chanh
101 đoản khúc lục bát trong “Sông Chanh” của Nguyễn Vĩnh Bảo không chỉ là những mảnh ghép ký ức, mà còn là một dòng chảy trữ tình dai dẳng – nơi tình yêu, tuổi thơ và quê nhà hòa vào nhau trong một ám ảnh mang tên “sông”.
Xem thêm
Chế Lan Viên, nhà thơ lớn trong hai cuộc kháng chiến
Chế Lan Viên là một trong những gương mặt lớn của thi ca Việt Nam hiện đại, người đã để lại dấu ấn sâu sắc trên hành trình phát triển của nền văn học dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Xem thêm
Tấm thẻ bài – căn cước của giặc lái Mỹ hay lưỡi dao lạnh lách tìm ung nhọt chiến tranh
Có những người viết bước ra từ chiến tranh không chỉ mang ký ức, mà mang theo một món nợ: phải nói sự thật. Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh đại diện lớp người này.
Xem thêm
Đinh Nho Tuấn và bài thơ “Chị”
Bài bình của nhà thơ Trần Mạnh Hảo
Xem thêm
Cảm thụ văn học: Áng văn vời vợi chất thơ
Nếu ở giai đoạn chiến tranh, văn ông sắc sảo với các vấn đề chính trị, lịch sử nóng hổi, thì bước sang thời kỳ đổi mới, ngòi bút ấy lại trầm lắng, đằm thắm hơn khi quay về với những vỉa tầng văn hóa sâu kín trong đời sống tinh thần.
Xem thêm
“Những con chữ mẩy vàng hạt giống”
Bài viết của nhà thơ Đặng Bá Tiến, qua việc nhìn lại hai tuyển tập mới xuất bản, góp thêm một góc nhìn để hiểu rõ hơn hành trình thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.
Xem thêm
Bản đồ đất Việt bằng thơ và bình
Cầm trên tay tập thơ chọn và lời bình Những miền quê trong thơ Việt - NXB Đại học Sư phạm mới phát hành, tôi gặp mối đồng cảm. Nhớ cái Tết năm ấy, biên tập trang thơ Xuân cho một tờ báo, tôi phá bỏ công thức đăng những bài thơ về mùa xuân đất nước…, mà chọn chủ đề thơ về các tỉnh thành, tên bài thơ gắn với tên địa danh.
Xem thêm
Phê bình luân lí học văn học
Phê bình luân lí học văn học xuất hiện trong bối cảnh học thuật Trung Quốc đầu thế kỉ XXI, khi các trào lưu phê bình phương Tây du nhập mạnh mẽ, dẫn đến khủng hoảng về bản sắc và nền tảng đạo đức của phê bình văn học.
Xem thêm
Văn chương ở điểm kì dị hay là niềm hi vọng của con người
Nếu Harold Pinter sinh năm 1993, liệu ông có nói: “Nhà văn chỉ có một việc là viết”? Khi những cỗ máy có thể giải một đề bài “hãy viết ra một tiểu luận bàn về bức tường trong trang viên Mansfield theo phong cách Vladimir Nabokov” chỉ trong chưa đến ba mươi giây, nhà văn còn gì để làm? Chúng ta có thể tạo ra cái gì mà những cỗ máy không thể bắt kịp? Tôi từng nhờ AI dịch một bài thơ tiếng Ba Tư và nó làm tốt hơn tôi. Vậy tôi nên làm gì đây? Đành rằng chúng ta vẫn viết, vờ như không sao đâu, nước sông không phạm nước giếng, và dù sao máy vẫn chỉ là máy với đầy những khiếm khuyết của nó, nhưng tôi cho rằng:
Xem thêm
Nhà “thi tiên” Thế Lữ - người góp công khai sinh nền kịch nói Việt Nam hiện đại
Xin được gọi Thế Lữ (tên thật là Nguyễn Thứ Lễ, 1907-1989) là nhà “thi tiên”, mà theo cách nhận xét khá khái quát về chân dung các nhà Thơ mới của Hoài Thanh trong bài tiểu luận “Một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam): “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ Tôi. Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu…”.
Xem thêm