TIN TỨC

Khắc họa một vùng văn hóa

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2023-02-17 20:07:08
mail facebook google pos stwis
1739 lượt xem

NGUYỄN TRƯỜNG
(Đọc tiểu thuyết “Bửu sơn kỳ hương” của Lý Lan, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2022)

Lâu nay, nhiều người quan niệm, một cuốn tiểu thuyết hay, trước hết phải mới ở thi pháp, nghĩa là nó mang đến cho độc giả cách thể hiện lạ, chí ít cũng đang là model của thời cuộc mà những người viết trẻ đang hăm hở thực hiện. Nhưng ở tiểu thuyết Bửu sơn kỳ hương của Lý Lan thì hình như không phải thế, vẫn bút pháp hiện thực nghiêm ngặt, vẫn cách kể truyền thống, thậm chí không có cả không gian hồi tưởng, không gian hiện tại và quá khứ đan xen nhau, chứ chưa nói đến kiểu viết hậu hiện đại đang được nhiều người nói đến, như: Mãnh vỡ, trò chơi, phi trung tâm, liên văn bản, nhại, mê lộ, nghịch dị, huyền ảo... Nhưng đọc Bửu sơn kỳ hương vẫn hay, hay ở giọng văn, ở nghệ thuật khắc họa nhân vật, ở chi tiết đắt giá, ở vốn sống, vốn văn hóa của tác giả được thể hiện rất linh hoạt, tài tình.

Bố cục cuốn sách theo thời gian tuyến tính, các nhân vật được xếp làm ba nhóm, nhóm thứ nhất và nhóm thứ hai không mâu thuẫn nhau, thậm chí còn bổ sung cho nhau làm nổi bật tính cách nhân vật. Nhóm thứ nhất là ông Phật Ngồi, Bình, Chị Hai, ông bà Tư, Hà Vinh Long... Nhóm thứ hai là những người Minh Hương như gia đình ông Ứng Xương, ông chủ nhà thuốc Phước Xuân Đường, ông Hòa, Tuấn, Vĩnh Xương, Tịnh... Nhóm thứ ba phản diện là quan lại triều đình bảo thủ, lạc hậu, là quân Pháp xâm lược, là những kẻ làm tay sai cho thực dân Pháp...

Bối cảnh câu chuyện xảy ra từ cuối thời vua Gia Long, qua thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, một thời kỳ đầy giông bão của lịch sử Việt Nam. Câu chuyện xoay quanh nhân vật huyền thoại, ông Phật Ngồi, sau này trở thành giáo chủ của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, có cách tu theo kiểu người Việt, phù hợp với văn hóa người Việt nên cuốn hút được khá nhiều tín đồ. Xuyên suốt không gian và thời gian của truyện là kể về gia tộc người Hoa, vốn là người Minh Hương sang nước ta chưa lâu, những người phản Thanh phục Minh, được các chúa Nguyễn cưu mang, cấp đất cho sinh sống và trở thành một bộ phận tích cực trong xã hội Việt Nam. Sự gặp nhau giữa ông Phật Ngồi và gia tộc người hoa của dòng họ Huỳnh cũng đều làm thuốc cứu người. Giữa lúc Nam bộ đang bị dịch bệnh. Phật Ngồi học thuốc nhờ nhiều năm tu trên núi, kể cả học được một số vị thuốc ở Phước Xuân Đường của ông chủ Tế Xương. Dòng họ Huỳnh từ ông nội đã truyền đời cho ông Ứng Xương, ông Tế Xương, đến đời Vĩnh Xương. Dòng họ Huỳnh cũng chịu nhiều mất mát khi thời cuộc đảo điên. Cụ Thượng, Tổng trấn thành Gia Định qua đời, đến loạn Lê Văn Khôi. Ông Ứng Xương, với vai trò là lương y vào thành trị bệnh cho quân lính đã bị mắc kẹt trong thành, bị quan quân triều đình đánh thành và chết trong đám loạn quân. Gia đình Ứng Xương cũng bị liên lụy theo, phải trốn tránh sự truy lùng của quan quân triều đình. Thậm chí ông Phật Ngồi cũng bị nhốt tù vì nghi là kẻ phản loạn. Mãi đến thời Thiệu Trị, Cụ thượng (Lê Văn Duyệt) được minh oan, thì vụ án Phước Xuân Đường mới được gỡ bỏ.

Trên cái nền cốt truyện đó, Lý Lan đã kể bằng giọng giàu hình ảnh, đưa người đọc khám phá một vùng đất mới khai mở, từ Châu Đốc, sát biên giới với nước láng giềng Chân Lạp xuôi dòng Cửu Long xuống Sa Đéc, Vĩnh Long, sang sông Vàm Cỏ, sông Bến Nghé, sông Đồng Nai với Cù Lao Phố,  Biên Hòa, Đề Ngạn... Người ta  sống trong không gian sông nước, đi lại chủ yếu bằng thuyền. Ta gặp những con người nghèo khổ, phóng khoáng, với những căn nhà ở hôm trước, hôm sau dời đi, chỉ cần vài cái đạp là dọn xong. Cảnh sông nước cá tôm nhiều đến dùng tay không cũng bắt được, ăn thoải mái. Sống trên cồn vắng mấy mùa mưa nắng mà vẫn kiếm được cái ăn từ thiên nhiên. Hình như con người nơi đây không mấy quan tâm đến cái ăn, cái mặc vì được thiên nhiên ưu đãi. Thiên nhiên, xã hội đã tạo nên tính cách con người Nam bộ, trọng người nghĩa khí. Người Minh Hương sang ở chung với những người Việt đã cộng sinh, giúp đỡ nhau, gắn bó với nhau. Chính những người Nam bộ đã làm thay đổi cách sống của người Minh Hương, hình như họ cũng chân thành hơn, phóng khoáng hơn. Họ tựa vào nhau bằng đức tin tôn giáo, bằng tình người, bằng lòng nhân hậu. Trong truyện ta gặp các nhân vật như chị Hai, Bình, ông bà Tư... xoay quanh nhân vật ông Phật Ngồi, họ vừa làm nổi bật ông Phật Ngồi, vừa thể hiện chất hồn nhiên của người dân Nam bộ.

Ông Phật Ngồi, nguyên mẫu là Đạo Lành, sau này được gọi là Phật Thầy Tây An do ông Đoàn Minh Huyên sáng lập. Ông có tài trị bệnh cho dân, có người chữa khỏi, có người không. Người không qua khỏi thì cho là mình nặng kiếp, do không có phước. Người trị khỏi thì cho rằng mình được phật trời phù trợ. Tiếng lành đồn xa, người ta tin theo những lời răn dạy của ông. Bửu Sơn là núi báu, Kỳ Hương là hương thơm lạ. Noi theo giáo lý nhà phật mà tu sửa con người. Nhưng cụ thể hơn, đạo lấy thuyết tứ ân làm gốc như: Ân tổ tiên, ân đất nước, ân tam bảo và ân đồng bào nhân loại. Đạo của ông tu theo thuyết vô vi, nghĩa là không chú trọng vào hình thức như thờ tượng phật, không cần ly gia cắt ái,  không cần ăn chay, cạo râu, cạo tóc, gõ mõ tụng kinh...Ngay cả khi ông Phật ngồi, chị Hai, Bình bị bỏ rơi trên cồn vắng cả năm trời, Bình vẫn thấy ông Phật ngồi tĩnh tọa, bình thản. Bình thản cả khi chị Hai trong đêm vắng “Chị ngắm gương mặt bị râu tóc phủ kín của người đó. Mặc cho gió thổi râu tóc phất phơ, người đó không hề đưa tay lên vuốt hay buộc lại. Trừ món râu tóc kỳ dị, người đó ngồi bất động như một pho tượng Phật. Chị càng tin đó là Phật sống, vì ngay cả khi chị cầm tay người đó đưa lên ngực mình, chị nhận ra đôi mắt người đó sự thương yêu chứ không phải ham muốn. Cả khi chị say men hay say cái quỷ gì hồi khuya, nằm lăn ra gối đầu lên đùi người đó, mà khi thức giấc ngóc đầu lên nhìn, chị thấy đôi mắt của người đó điềm nhiên nhìn con đò đã lui ra khỏi bãi...” (Trang 31). Sau này, chính ông Phật Ngồi đã cuốn nhân dân kéo về Bảy Núi để lập làng kháng chiến chống lại quân xâm lược Pháp, đúng theo giáo lý của ông “ Ân đất nước”. Nhân vật giáo phái tu theo kiểu riêng chỉ có ở người Nam bộ, lòng thương dân, lòng yêu nước và cuốn hút người dân đi theo cũng đúng theo kiểu Nam bộ.

Nhân vật Chị Hai cũng rất đặc biệt, chị sống tự do, gặp hoàn cảnh éo le bị dạt sang cồn vắng, chính chị là người đảm đang nhất lo cho ông Phật Ngồi và anh chàng Bình hậu đậu. Chị biết bện dây rừng làm võng, cất chòi cho cả ba người ở, đi hái rau tập tàng về cho cả ba người ăn, chị lo cho họ như lo cho người thân của mình một cách vô tư. Rồi chị có bầu với Bình, trong một trận lũ kinh hoàng, chị bị đẻ rớt từ trên ngọn cây. Thai nhi rớt xuống nước còn mang theo nhau và cuống rốn. Không sợ nguy hiểm, chi nhào xuống nước theo con và bị lũ cuốn đi. May nhờ ông bà Tư, đôi vợ chồng già neo đơn đã cứu vớt được mẹ con chị, cưu mang hai mẹ con với tấm lòng nhân hậu. Còn anh chàng Bình, người làm công cho Phước Xuân Đường, được ông chủ sai đi theo giúp đỡ Phật thầy, tuy hơi hậu đậu nhưng anh tỏ ra là người thật thà, trung thành với chủ. Chính anh sau này đã theo Phật thầy kéo về Bảy Núi cùng nhân dân kháng chiến chống Pháp.

Những nhân vật người Hoa trong truyện được tác giả xây dựng khá thành công. Họ là những người có tầm nhìn xa, có ơn trả ơn bằng việc trung thành với các chúa Nguyễn khi các chúa Nguyễn cho họ vào sinh sống ở đất Nam bộ. Họ giúp đỡ các chúa Nguyễn ngay cả khi chúa Nguyễn bị thất bại, lúc Nguyễn Ánh chỉ còn vài chục người đi theo. Chính vì sự trung thành đó họ bị Tây Sơn trả thù, truy sát. Nhưng khi Nguyễn Ánh thành công, lên làm vua, họ lại không ra làm quan, chỉ mở nhà thuốc cứu dân, nhất là khi đại dịch kéo đến, họ dám liều mạng ở trong tâm dịch để cứu chữa cho các nạn nhân vô vụ lợi. Qua ngòi bút của Lý Lan, những người Hoa thật độ lượng, thật quảng giao, trọng nghĩa khí. Có ơn trả ơn, có lỗi tìm cách chuộc lỗi. Khi thực dân Pháp cại trị, mặc dù họ biết tiếng Pháp cũng không ra hợp tác với quân xâm lược. Cũng có người đã theo ông Đạo Ngồi lên núi kháng chiến chống Pháp. Có lẽ Lý Lan sinh ra, lớn lên trong gia tộc người Hoa nên chị rất rành tính cách, văn hóa người Hoa. Những trang viết của chị có tâm thức người Hoa, nó bàng bạc trong những câu chữ không dễ dẫn ra được, nhưng chị đã thành công khi xây dựng những nhân vật này.

Cuối cùng là nhân vật hiện nay vẫn còn tranh cãi là nên tôn vinh hay lên án đó là Phan Thanh Giản, làm quan qua mấy đời vua nhà Nguyễn, cuối cùng là vua Tự Đức. Ông nhiều lần bị giáng chức rồi lại phục chức. Vua giao trọng trách cho ông sang Pháp đàm phán chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam bộ, nhưng cuộc đàm phán thất bại- dĩ nhiên. Vua giao cho ông trấn nhậm vùng biên địa phương Nam khi ông đã bước qua tuổi bảy mươi. Lúc “Mười mấy tàu Pháp đậu kín mặt nước trước thành Vĩnh Long, cả trăm nòng pháo chĩa vào thành...Pháo của chúng sẽ bắn tan nát thành lũy trong vòng một giờ, sau đó năm ngàn lính tập được huấn luyện kỹ và một ngàn chiến sĩ dũng mãnh Pháp với vũ khí tối tân sẽ đổ bộ và giết bất kỳ kẻ kháng cự nào...Ông Giản đứng như trời trồng. Ông không chỉ nghĩ đến vợ con... ông nghĩ đến hàng ngàn gia đình tỵ địa chưa kịp ở yên, ông nghĩ đến hàng trăm sĩ tử tuổi đôi mươi và tất cả sĩ phu đang tụ tập ở Văn thánh miếu, ông nghĩ đến hàng vạn người đang cấy lúa, đắp bờ, phần lớn là đàn bà trẻ con. Ông chấp nhận giao thành với điều kiện quan Pháp không cho lính tàn sát nhân dân” (trang 327,328). Rồi ông nhận trách nhiệm về mình bằng cách nhịn ăn, qua mười ngày vẫn chưa tới chỗ hoại, ông uống thuốc độc, chết trong đau đớn. Cái chết của Phan Thanh Giản giống như cái chết của Võ Tánh và Ngô Tòng Chu khi không giữ được thành Bình Định thời chúa Nguyễn Ánh. Trước khi chết, họ cũng yêu cầu quân địch không sát hại nhân dân và những người lính trong thành. Ngày nay nhìn lại, ta nên rộng lượng cho cụ Giản vì vũ khí thời đó của quân ta còn thô sơ, không thể đấu với súng trường, đại bác công phá ghê gớm, có chiến cũng sẽ thất bại, lại làm liên lụy đến hàng ngàn người phải chết thê thảm. Ông nhận trách nhiệm về mình và tuẫn tiết một cách bị hùng.

Tuy vậy cuối cuốn tiểu thuyết tác giả vẫn hé cho người đọc niềm hy vọng, bởi vẫn còn hơn một ngàn người vẫn cầm súng kháng chiến trong núi Cấm, nơi có đại bản doanh của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Nhất là đoạn kết có hậu “ Lịch sử chép, Pháp chiếm toàn cõi nước Việt Nam năm 1884 và phải hoàn toàn rút khỏi Việt Nam sau khi đầu hàng ở Điện Biên Phủ năm 1954”.

Lý Lan đa từng dạy học ở Việt Nam, định cư ở Hoa Kỳ, là tác giả của của hơn 30 đầu sách, dịch giả của bộ sách Harry Potter, nghĩa là chị đang sống trong dòng chảy văn học phương Tây, nhưng chị không bắt chước cách viết theo trào lưu phương Tây. Chị chọn cách viết có vẻ truyền thống, nhưng theo tôi, nghệ thuật cao nhất là thể hiện kỹ năng tốt nhất điều mình muốn nói. Ở Bửu Sơn Kỳ Hương, tác giả Lý Lan bằng cách kể điềm tĩnh, với nhiều chi tiết độc đáo, giàu hình ảnh đã khắc họa được không gian một vùng văn hóa đặc sắc đất phương Nam buổi đầu mở cõi của dân tộc ta, đó là thành công đáng ghi nhận.

Bài viết liên quan

Xem thêm
Lược sử về văn học thế giới
Kể từ khi quan niệm “văn học thế giới” (World literature) hiểu theo nghĩa một bức tranh văn học tổng thể vượt lên trên ranh giới quốc gia, dân tộc được Goethe đề xướng vào năm 1827 cho đến nay, thuật ngữ này luôn nhận được sự quan tâm, bàn thảo của giới sáng tác, nghiên cứu văn chương toàn cầu.
Xem thêm
Thơ Kim Loan – Một phong cách sáng tác đáng quý
Nhà thơ Bùi Thị Kim Loan sinh năm 1977 tại xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cũ (nay thuộc phường Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh). Vùng đất quê chị vốn có bề dày lịch sử - văn hoá, là quê hương của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng: Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ… Hít thở bầu không khí thấm đẫm truyền thống cao đẹp của các thế hệ đi trước, Kim Loan nuôi dưỡng trong mình tình yêu văn chương và lòng đam mê sáng tạo. Kim Loan có sở trường viết tản văn và làm thơ, nhưng qua những gì đã thể hiện, chị dành nhiều thời gian và tâm huyết cho thơ hơn. Ngoài tập thơ Sương quỳnh vừa hé một nụ trăng, chị viết khá đều tay, thường có tác phẩm đăng trên báo Văn Nghệ, Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh và các tờ báo, tạp chí của một số tỉnh, thành bạn.
Xem thêm
Đôi điều tâm đắc khi đọc tác phẩm của nhà văn Vũ Quốc Khánh và Bùi Ngọc Quế
Có thể khẳng định đề tài người lính, đề tài chiến tranh luôn luôn là một đề tài hấp dẫn và bất cứ ai yêu thích sáng tác đều có thể hướng tới cho dù đã từng tham gia hay chưa từng tham gia chiến tranh. Tuy nhiên với những người lính bước ra từ khói lửa chiến trường thì thường những trang viết của họ mang đậm nét chân thực vì họ tái hiện trải nghiệm qua những ký ức đằm sâu, những ký ức có thật mà họ trải qua hoặc đã chứng kiến đồng đội của mình trải qua. Bởi thế độ chân thực lớn hơn và sức lay động cũng lớn lao hơn vì có một thực tế tiếng nói chân thực dễ chạm đến miền cảm xúc nơi sâu thẳm trái tim độc giả! Con đường ngắn nhất của cầu nối cảm xúc là đi từ trái tim đến trái tim.
Xem thêm
Nhà thơ Bình Nguyên với sự trở lại của thơ nguyên nghĩa
Những năm cuối thế kỷ 20, làng thơ Việt đón nhận một nhà thơ sâu xa lý và chứa chan tình, nói như nhà thơ Bế Kiến Quốc”Điều tôi muốn nói kỹ hơn là sự mới mẻ của thơ trẻ trong ý tưởng, trong cảm xúc. Tôi chỉ lấy dẫn chứng, một cách ngẫu hứng, bài thơ Mây trắng bay của Bình Nguyên (VNT số 2/1998): Con sinh ra mây trắng đã bay rồi/ Có phải mây trắng đã bay rồi khi mẹ bây giờ như chưa là mẹ/ Nhưng mẹ ơi, tóc mẹ làm sao lại thành mây trắng/ Có phải mẹ sinh ra mây trắng đã bay rồi.
Xem thêm
Thế giới trẻ thơ trong tập “Có phải cô là nắng?” của Phan Thanh Tâm
Có phải cô là nắng? là một tập thơ chất lượng, ngôn từ trong sáng, giản dị, đề tài phong phú. Bên cạnh những bài ngắn gọn, hình thức như thể loại vè dân gian là những bài thơ 5 chữ, 6 chữ chỉn chu về vần, nhịp, giàu nhạc tính.
Xem thêm
Khúc tri ân về người lính trong thơ Trần Ngọc Phượng
Nhân dịp Ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, khi ký ức chiến tranh trở về trong tâm thức dân tộc với tất cả sự thiêng liêng và lắng sâu, thơ Trần Ngọc Phượng lại ngân lên như một tiếng nói trầm tĩnh của lòng tri ân và chiêm nghiệm.
Xem thêm
Lớn lên cùng yêu thương, thật thà
Bền bỉ, khiêm nhường như một chú ong, nhà thơ nữ Phan Thanh Tâm – Hội viên Hội Nhà văn TP HCM, trong 9 năm qua (2017-2026) đã xuất bản được 9 tập thơ và truyện ngắn (bình quân mỗi năm một tập)
Xem thêm
Với tác giả “Khúc hát sông quê”
Nhà thơ Lê Huy Mậu chậm rãi pha cà phê mời khách, ân cần hỏi thăm công việc của từng người rồi vừa từ tốn, vừa nhiệt thành nói về chuyện nghề, chuyện đời. Tôi hiểu đó là những điều nhà thơ chắt lọc từ những năm tháng ông đã cống hiến sức lực tài năng và tâm huyết của mình để góp phần xây dưng nền văn học nghệ thuật và đội ngũ văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Thi thoảng, ông dừng lại vài giây nhìn chị Thu như chờ sự xác nhận của vợ. Cảm giác như giữa họ có sự hiểu biết và đồng cảm sâu sắc, và đối với họ, trên đời này chẳng có gì đáng phải lưu tâm ngoài nghĩa tình với quê hương, đất nước, bạn bè, người thân và tình yêu thơ ca, nghệ thuật.
Xem thêm
Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ: Thơ và cuộc đời chiến đấu
Với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, tay bút và tay súng, tâm hồn thơ và tư tưởng chiến thuật, chiến lược luôn hòa quyện và tương tác với nhau như một thể thống nhất. Điều đó tạo nên hồn cốt, phong cách đặc biệt của thơ ông. Bằng những câu thơ vừa giàu tính hiện thực vừa đậm chất lãng mạn, Huỳnh Văn Nghệ đã làm sống dậy không khí một thời kỳ cách mạng hào hùng của dân tộc. Trong các sáng tác của ông, cảm xúc thơ cũng được kết hợp hài hoà với âm hưởng và sắc thái của hội hoạ, điện ảnh, âm nhạc…, làm cho hiện thực cuộc sống được đưa vào tác phẩm càng thêm sống động.
Xem thêm
Có một mảnh ghép khác về người lính trong tập truyện ký “Rừng đói” của nhà văn Trần Khởi
Nhà văn Trần Khởi sinh năm 1946 là Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Anh là một nhà văn chiến sỹ, có 10 năm sống và chiến đấu tại chiến trường khu 5. Anh đã xuất bản 3 tập thơ và nhiều tập truyện ký. Truyện ký viết về chiến tranh của anh chân thực, thu hút người đọc, trong đó tập truyện ký Cha và con lính trận
Xem thêm
Những món nợ hữu hình và vô hình muốn trả cũng không bao giờ trả được
Bùi Việt Mỹ là nhà thơ luôn gắn bó với cuộc sống và con người bằng tâm tình hiến dâng và khát vọng yêu thương thành thật. Anh không bao giờ nhìn đời bằng con mắt bàng quan vô trách nhiệm. Trái lại, anh rất nghĩa ân và quan tâm đến mối quan hệ cao đẹp giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ. Toàn bộ thế giới thơ anh từ Vườn nắng (1992) đến Những luống cày vắng mùa (2010), đặc biệt là tập thơ xuất bản gần nhất Ký ức ngoại thành (2025), anh đều hướng về con người và cảnh vật với tình yêu thương, nhân ái trong từng mối quan hệ cụ thể để biết mình là ai, mình tồn tại như thế nào giữa thiên nhiên và giữa bao bộn bề, phức tạp của nhân sinh - thế sự. Có nghĩa là anh luôn thao thức và âu lo đến vấn đề đạo đức, sinh thái và sự lựa chọn hành vi sống của mỗi chủ thể hiện sinh trước mọi biến đổi của con người và xã hội. Chùm thơ 02 bài mới nhất của Bùi Việt Mỹ: Khoảng gió nắng và Nợ vô hình thể hiện sự âu lo hiện sinh và tinh thần đạo đức ấy đối với từng sinh thể và sinh mệnh trong xã hội và môi sinh mà tôi đồng cảm, tiếp nhận.
Xem thêm
Châu Đăng Khoa khắc khảm thơ sau từng suy tưởng
Không chỉ là một guitarist hàng đầu Việt Nam, nhạc sĩ Châu Đăng Khoa còn là một cây bút đa tài. Ông đã xuất bản hai tập thơ (Eo óc cung bậc, 2015; Lúc guitar ngủ, 2019) và một số truyện ngắn đăng trên các báo, nay sắp ra mắt bạn đọc một số thi phẩm: Giấu hoa trong cỏ, Lác đác đời vui…
Xem thêm
Nhân đọc một số bài thơ trong tác phẩm “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương
Trong dòng chảy của thơ thiếu nhi hôm nay, điều khó nhất đối với những người cầm bút không phải là viết cho trẻ em bằng những câu chữ đơn giản, mà là viết sao để giản dị mà không hời hợt, ngộ nghĩnh mà không dễ dãi, hồn nhiên mà vẫn có chiều sâu nhân văn.
Xem thêm
Như những tinh khôi
Vương Thi, hội viên Hội Nhà văn Thành phố Đà Nẵng vừa cho ra đời tập tản văn Vì rứa mà thương” (NXB HNV quý 4/2025). Tập sách chào đời vào những ngày cuối năm âm lịch bận rộn. Rồi cũng vì bận rộn mà nó đến với tôi khá muộn. Song là một trễ muộn để bận bịu. Đọc một mạch tập tản văn, cứ đầy đặn, ủ chín, lên men một tình yêu quê xứ. Một vòng tay ôm, một môi hôn dịu dàng bịn rịn dành cho xứ Quảng.
Xem thêm
Tuổi trẻ và hành trang vào đời của nhà văn Nguyên Cẩn
Có lẽ từ lâu rồi, xã hội đương đại chúng ta thiếu trầm trọng về: dinh dưỡng tâm hồn làm thế nào để các em thể hệ trẻ có tiềm lực dinh dưỡng tinh thần, biết yêu thương người khốn khổ, giúp đỡ kẻ yếu và biết sẻ chia cảm xúc. Đây là vấn đề không khó, chẳng phải dễ nhưng phải nhìn thấy và đồng lòng cả hệ thống giáo dục, gia đình lẫn chính phủ.
Xem thêm
Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy
Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết hợp tự nhiên giữa ngôn ngữ trữ tình hoài niệm và các từ ngữ địa phương mộc mạc. Lối kể chuyện thủ thỉ như đang tâm tình giúp thu hẹp khoảng cách với độc giả, biến những trăn trở cá nhân thành tiếng lòng chung của nhiều người. Sự kết hợp giữa chất thơ và chất thiền là nét dung hòa độc đáo, định hình nên bản sắc văn xuôi của Phan Trang Hy. Sự giao thoa này biến mỗi trang tản văn hay truyện ngắn của ông không chỉ là những ghi chép hiện thực, mà trở thành những khoảng lặng thẩm mỹ, đưa người đọc vào thế giới của sự thanh lọc và tỉnh thức.
Xem thêm
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo lặng lẽ rót đầy trầm tư...
Nhà thơ Nguyễn Vĩnh Bảo sinh ra ở Hải Phòng, lớn lên rồi tha hương lập nghiệp tận phương Nam, nơi thành phố Hồ Chí Minh – chốn mà nhịp sống công nghiệp luôn vội vã, thôi thúc con người chẳng mấy phút nghỉ ngơi.
Xem thêm
“Nghe mùa thay lá” và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân
Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb. Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường ở chốn nhân gian.
Xem thêm
Tô Hoài – người lưu giữ linh hồn đời sống Việt Nam bằng văn chương
Về phong cách viết về loài vật của Tô Hoài, nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng văn Tô Hoài nhân hóa một cách tự nhiên và giàu sức tưởng tượng. Loài vật trong truyện ông được gắn tính cách, tâm lý như con người nhưng vẫn giữ đúng đặc điểm sinh học tự nhiên. Điều này tạo nên cảm giác chân thật cho người đọc. Ngôn ngữ truyện của tác giả Dế Mèn phiêu lưu ký sinh động, giàu khẩu ngữ dân gian. Lời thoại linh hoạt, dí dỏm, tạo được cảm giác gần gũi với thiếu nhi mà vẫn hấp dẫn người lớn. Tác giả Nguyễn Sen có cách quan sát tinh tế thế giới tự nhiên, tích lũy kiến thức thực tế về đời sống côn trùng rất chính xác. Qua đó, ông không chỉ sáng tạo truyện cho thiếu nhi, mà còn gửi gắm triết lý nhân sinh nhẹ nhàng, sâu sắc. Nhà văn Nguyên Hồng từng nhận xét: “Tô Hoài đã mở ra cả một thế giới mới trong văn học thiếu nhi Việt Nam”.
Xem thêm
Sức hấp dẫn trong thơ Hai - cư của Nhật Bản
Trong vườn hoa thi ca của nhân loại, có nhiều loài hoa thơm ngát, thơ Hai-cư là bông hoa có hương sắc thật đặc biệt. Được hình thành từ thế kỷ XVI – XVII, thơ Hai - cư là thể thơ truyền thống, là niềm tự hào của đất nước xứ hoa anh đào – Nhật Bản. Thể thơ này có vị trí và giá trị quan trọng trong nền văn học Nhật Bản. Với hình thức ngắn ngọn, cô đọng nhất so với các thể thơ khác trên thế giới, thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm, cảm xúc của con người trước sự giao cảm với thiên nhiên thông qua những hình ảnh trong sáng, giản dị nhưng mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.
Xem thêm