TIN TỨC

Lê Tiến Vượng và hai tập lục bát liền hơi

Người đăng : nguyenhung
Ngày đăng: 2024-07-04 08:26:28
mail facebook google pos stwis
2191 lượt xem

VŨ QUẦN PHƯƠNG

Như thế là tôi đã đọc liền hai tập lục bát của Lê Tiến Vượng xuất bản cuối năm 2016 (Lục bát khóc cười) và cuối năm 2018 (Lục bát phố). Hai năm khoảng 150 bài. Năng suất cao. Rất cao so với mọi người viết bây giờ.

Anh tìm thơ ngay trong đời sống thực của nơi anh sống và của chính lòng anh. Thơ anh như phóng sự xã hội và thấp thoáng trong ấy là nhật kí lòng anh.

Bút pháp giản dị, ngôn ngữ gần với văn báo chí. Rất ít mỹ từ pháp, ít gần như không ẩn dụ, biểu tượng. Đọc lên thấy nghĩa ngay hiểu ý ngay. Nhiều khi anh lập tứ cũng dễ dàng:

- Đây là một cách: lấy ý chính của bài, ý một nửa, làm cái bản lề xoay ra các phía mà tìm chi tiết, những chi tiết đồng dạng về hình thức nhưng đối nhau, hoặc bổ sung nhau, về ý. Cứ thế mà kéo một hơi đến hết bài. Bài thơ mười khổ, mỗi khổ hai câu Xin trich hai khổ

Mang danh nghệ sĩ nửa vời

Nửa ngồi, nửa đứng, nửa đời tỉnh mê

Nửa cơm áo, nửa khen chê

Nửa con tim giữ lời thề hôm xưa  

- Bài thơ mang tên Ru thì lấy luôn động từ ru ấy mà ru mọi thứ

Ta ngồi ru cỏ ngày xưa;

Ta ngồi ru nắng bên cầu;

Ru cau tỏa bóng trầu không;

Ta ngồi ru những cơn mưa;

Ta ngồi ru mấy câu thơ  

vv…

 


Nhà thơ Vũ Quần Phương (phải) và họa sĩ Lê Tiến Vượng.

Những câu tôi vừa trích đều là các câu mở đầu cho mỗi khổ thơ, bốn câu. Để làm đầy cho bốn câu đó thì nhân ru cỏ anh kể ra cỏ may cỏ gà. Rồi từ vần gà anh ru chiếc lá đa. Rồi từ đa anh ru sang chú Cuội chả chú cuội ngồi gốc cây đa mà. Còn ở khổ thơ ru nắng thì không hiểu sao anh lại Chí Phèo Thị Nở đi lâu không về. Cái khô thơ Ru cau ru trầu thì anh ru luôn rặng duối ý hẳn ru các lọai cây thân thuộc ở quanh nhà: Ru cau tỏa bóng trầu không Ta ru rặng duối tơ hồng nghêu ngao. Đến đây thì cái vần ao nó kéo anh ru ngược lên trời Ta nằm ru mấy vì sao. Chắc là các ông sao trong đồng dao: một ông sao sáng hai ông sáng sao… vì câu sau chõng tre bầy trẻ hát gào bi bô. Tôi đoán thế. Nghĩa là nguyên liệu làm nên khổ thơ tưởng xa nhau nhưng vẫn trong một không gian cảm xúc. Cả bài thơ cứ hồn nhiên, câu gọi câu, tự lôi nhau đến, do ý hoặc do vần, thanh thoát lắm. Người xưa sẽ khen là văn hoạt chứ chưa phải văn già. Nhưng cả bài thơ không chỉ chạy trên một mặt phẳng ấy mà chấm hết. Ở những câu kết, Lê Tiến Vượng, vẫn trong tư thế ngữ pháp ấy nhưng nâng lên một mặt phẳng khác, cao hơn, đụng vào trái tim người đọc, ở đây, tới ba nấc đụng, đụng vào thân phận, kiếp người rồi, chứ không phải gặp đâu ru đó như phía trên:

Ta ngồi ru mấy câu thơ

Làm con thuyền nhỏ bơ vơ trở về
 

Ru tình tình vẫn đang mê

Ru đời, đời vẫn tái tê nỗi đời
        

Ta ngồi ru với ta thôi

Lời ru mẹ dạy

ta ngồi ru ta.

Nếu các khổ trên ru cỏ ru cây ru nắng ru mưa… có hơi thơ tự sự, thống kê đồng mức thì ở phần kết, thơ hóa trữ tình ở mức sâu và nặng hơn. Thủ pháp này hay được anh áp dụng nhưng với nhiều biến hóa. Cũng là một khía cạnh tài tử tài tình. Có bài thật như phóng sự, trong chất liệu, trong giọng kể. Người đọc thú vị tiếp nhận lượng thông tin, thoáng và vui. Nhưng đến hết bài thì hóa lại ra đang tiếp nhận lượng tâm hồn, thấm thía, hàm xúc. Có bài cấu tứ kiểu định nghĩa, cứ hai câu thành một khổ, câu trước tả sự câu sau tả tâm. Xin trích, ở bài tuổi thơ, làm bằng chứng:

Tuổi thơ vùng vẫy cầu ao

Có con đom đóm bay vào giác mơ
 

Tuổi thơ là chiếc gầu đôi

Mẹ cha tát nước ta ngồi đếm sao
 

Tuổi thơ trắng chiếc khăn tang

Bom rơi nhà cháy cả làng đưa ma

Đấy là phần đóng góp làm nên nét đặc sắc dễ đọc dễ thân dễ phổ cập của thơ Lê Tiến Vượng. Nhưng để hưởng thụ được ưu điểm ấy, chúng ta cần đọc vào toàn khối bài thơ, nắm lấy ý bao quát, nhận ra cái giọng xuyên suốt của nó. Bỏ qua những du di chữ nghĩa. Lê Tiến Vượng, có lẽ do muốn đạt tính liền mạnh của hơi thơ, anh ít chịu dừng lại trong lao động chữ. Phía trên tôi dùng cụm từ “du di chữ nghĩa” là muốn nói có những chữ anh dùng như một nét nhòe của nghĩa chứ không phải nét mảnh chính xác của nó. Tôi không dám nghĩ đây là một nhược điểm vì trong nét nhòe bạn đọc có thể nhận ra nhiều nghĩa gần đúng của câu thơ. Sự tiếp nhận có thể phong phú hơn chăng. Tuy nhiên, như trong bài thơ Ru vừa nói trên, Ta ngồi ru chiếc lá đa / lại thương chú Cuội bỏ nhà đi đâu thì ba từ chiếc lá đa sợ không chính xác. Người ta có thể lẫn ý nghĩa của nó với chiếc lá đa trong câu ca Sự đời như chiếc lá đa...  Vả lại lá đa thì không dính gì đến chú Cuội. Chú Cuội ngồi gốc cây đa kia mà. Giá anh viết Ta ngồi ru gốc cây đa/ Lại thương chú Cuội… thì mạch thơ tung hứng thanh thoát hơn nhiều.

Một đặc điểm trong việc tìm thơ của Lê Tiến Vượng là anh tôn trọng tính chân thật. Dù là thơ, nơi người ta nói rộng vô bờ bến tính lãng mạn, anh vẫn muốn miêu tả hiên thưc như nó vốn có. Bài Hà Nội trong tôi, chủ đề cố nhiên là ngợi ca Hà Nội, nhưng trong thân xác các câu thơ thì nó như một phóng sự nghiêm cẩn: Sông thì đục, khói thì đen / Ta hòa Hà Nội vào đêm tự tình. Đêm tự tình thì mơ mộng quá, thần tiên quá nhưng nước ô nhiễm trời ô nhiễm thì vẫn cứ phải nói là ô nhiễm. Nói, mà tự tình thì vẫn cứ tự tình. Đấy là bản lĩnh của phép trữ tình Lê Tiến Vượng. Nhà thơ phải nấu chính mình. Nấu mình, cho mình thử lửa chứ không phải nịnh mình. Phải chăng anh đã học vào cảm xúc khỏe mạnh của dân gian trong ca dao. Ca dao nịnh vợ mà dám nịnh đến thế này:

Đêm nằm thì ngáy o o

Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.

Ngáy thì phải tả là ngáy, tượng thanh hẳn hoi o...o, gợi cảm lắm (kinh!) nhưng chồng yêu vợ lại thấy đó là du dương thì cứ nói du dương, chứ sao!

Lê Tiến Vượng quan niệm công dụng của thơ:

Thơ là thuốc chữa tin yêu

Cho bao tâm sáng ngộ điều chúng sinh

Tác dụng giác ngộ, tác dụng tỉnh thức, nhận ra khát vọng của “chúng sinh", Tìm là tìm chất thơ lớn lao vất vả của đời. Chứ không phải những giác mơ tiên, nhân tạo con con xinh xắn. Tôi nghĩ đấy là một quan niệm đúng, để thực hiên được không dễ:

Những khi trời đất đaỏ điên

Có thơ tung giấc mơ tiên...mà về

Thực thi quan niệm ấy, thơ Lê Tiến Vượng đã thu đươc một công dụng phụ, có sức hấp dẫn, ấy là tính trào lộng trong cảm xúc trữ tình. Đôi khi nhà thơ tự hạ mình xuống vì tính thật thà. Nhưng câu thơ thật thà, nhiều khi bài hước ấy lại nâng anh lên. Thế mới sướng, tác giả đứng cao hơn bài thơ:

Ví đời như giọt mắt em

Ta kẻ chết đuối vớt lên... lại chìm

Tôn trọng hiện thực trong cảm xúc, trong tư duy… đã đành, anh còn vận dụng ngôn ngữ thường ngày của đời sống thành ngôn ngữ thơ. Anh khuyên người tình:

          Em à, em cứ thơ ngây

          Đừng mang cái vẻ ta đây làm gì

          Đâu phải Phật để từ bi

          Người quê chất phác có gì dùng thôi

Cái vẻ ta đây, có gì dùng thôi nó là ngôn ngữ nói để mộc, vào đây nó lại rất nên thơ vì thơ cũng đang khuyên người yêu cứ để mộc mà sống, vôi ve vào làm gì:

          Em à, hãy nhẹ nước son

          Để anh tỉnh táo mà còn nhận ra.

Bài thơ đến đấy thôi. Hai câu anh viết cho đủ khổ lại phá cảm xúc.

Tính chân thật phát huy lợi thế nhất khi thơ nói về chính người viết. Giọng tự trào hồn nhiên xuất phát từ sự dám nói. Nói trong một ngày sinh nhật:

          Sen từ bùn đất lớn lên

          Ta từ cái khó cái hèn bước ra

          Phập phù nửa Phật nửa ma

          Tổ tiên phù trợ nay ta thành người

Nói, khi chính mình chạm đến tuổi già

          Tuổi già đang đến thật gần

          Bây giờ đến cái khóa quần cũng quên

          Vào ra chẳng nhớ tắt đèn

          Đêm nằm ngủ ngáy như kèn đám ma
 

          Năm mươi bạn bảo là già

          Mấy em bảo trẻ, suy ra… bình thường

Câu thơ có duyên ở cái logic “suy ra” này. Cái giọng thơ này là một thương hiệu của Lê Tiến Vượng. Nó nhất quán trong cả 150 bài tôi đọc liền hơi.

Viết cứ như đuà mà nhiều bài sâu sắc sự đời. Bài thơ về Mặt có sức khái quát xã hội:

          Cùng là cái mặt ở đời

          Kẻ thì gớm ghiếc, kẻ hơi bị lành

          kẻ “mặt thớt" kẻ đành hanh

          Mặt la mày lém, mặt xanh nanh vàng

          Kẻ thì mặt đỏ như vang

          mặt vàng như nghệ mênh mang cõi đời

          Cùng là cái mặt thế thôi

          Sao em lại cứ rạng ngời thế kia

Từ trào phúng sang trữ tình thật nhẹ nhàng. Vui, tếu mà thâm trầm. Bài thơ viết đêm trung thu, nhân trẻ con chơi trò mặt nạ. Cuối bài lại có gì thấm thía nhân tình, hỏi vào trời đất tiêu tao: Bao nhiêu là mặt, mặt nào cho ta. Bài thơ Làm vua (tr47) vừa bi vừa hài, tùy cách nhìn của bạn đọc nhưng nó là chân thực. Thực nên mới bi và cũng vì thực nên mới hài:

          Cuối cùng còn một cái tên

          Lưu danh muôn thuở hay quên muôn đời

Lê Tiến Vượng đã tuyên dương vua bằng giọng của hề chèo. Các bài Công sở, Chạy, Đi chợ, Làm quan… cũng có kiểu khái quát như vậy. Khái quát bằng thống kê gạch đầu dòng… mà thuyết phục. Có lẽ nó đã là những việc nhỡn tiền từng được nhiều người của nhiều thời nói đến. Hiện thực đã thành biểu tượng mà anh vốn là họa sĩ rất tài sáng tạo logo.

Giọng thơ anh là một yếu tố thẩm mỹ quan trọng. Nó nói ra được tâm trạng ẩn giấu vốn khó nói hoặc không muốn nói. Ngay trong thơ thất tình, vốn dễ khêu gợi tình cảm, anh cũng không nói quá, Mà trong đời thì nghiêm túc với khôi hài nhiều lúc lẫn vào nhau. Tình cảnh đáng khóc mà lại làm người ta cười. Dào dạt, buồn thương gì gì thì cũng cứ nói như nó vốn thế. Ấy vậy mà lại hóa ra đúng mức trong sự vui buồn. Chỗ này vốn khó. Thất tình ư. Cố nhiên buồn. Nhưng mếu máo quá thì thành hài hước, mà hùng hổ quá thì cũng vô duyên. Anh Vượng viết như tự thú. Thật thà nên dễ được chia xẻ:

          Cái buồn em chẳng mang đi

Anh đành cất kỹ phòng khi em đòi

Cau vàng trầu héo khô vôi

Không em...rồi cũng có người khác em

Bồ hòn ngậm mãi cũng quen

Rượu buồn uống mãi đứng lên... lại nằm

Rượu buồn uống mãi đứng lên...đà lãng mạn ái tình đang đà bay bổng, bỗng rơi bịch: lại nằm.  Đứng lên...Mà say thì... nằm. Vương tướng gì thì cũng đến thế

Cũng nên chú ý cái giọng chủ đạo của thơ Lê Tiến Vượng là hơi dân gian, bình dân. Nhưng ngay trong không gian ấy lại ủ chứa nhiều mầm suy tưởng rất hàn lâm. Gần như bài nào cũng có câu hay kiểu ấy. Đôi khi, như ở bài Tô Thị ngày nay (tr 70), 5 khổ, 20 câu, nếu chỉ tách 6 câu bút pháp “hàn lâm" ra đủ tạo nên bài nhưng ở một giọng thơ khác. Có khi lại sâu nặng hơn. Tôi nghĩ thế, Lê Tiến Vượng kiểm tra xem:

Đâu cần Xứ Lạng xa xôi

Đã bao Tô thị làng tôi chờ chồng
 

Chồng người về đã lên quan

Chồng mình vẫn phía non ngàn biệt tăm
 

Ngày nay Tô thị sao nhiều

Nào ai có thấu những chiều... Vọng phu

 

Nếu điều đó đúng, thơ Lê Tiến Vượng còn nhiều tiềm ẩn để biến hóa, còn đất trống, ở cả tứ lẫn tình, để hoàn thiện. Xin được gói lại trong ba chữ: Chúc mừng anh!

23-4-2019
V.Q.P.

Bài viết liên quan

Xem thêm
“Nước trên lá” của Phan Trung Thành long lanh và xanh mát
Tôi biết danh tính và yêu quý thơ Phan Trung Thành trên dưới 20 năm, nhưng chưa có dịp diện kiến và tâm sự cùng anh về những gì có liên quan đến thi ca và nghệ thuật. Rồi một dịp may mắn, năm 2000, tôi đi trong đoàn văn nghệ sĩ Huế tham quan vùng đầm phá Tam Giang.
Xem thêm
Mạch cảm xúc trong trẻo của một tấm lòng
Nguyễn Khắc Thắng, là tên cha mẹ đặt cho anh. Cái tên cũng hay. Nhưng đến khi trưởng thành, bước vào nghề cầm bút, đã có những suy tư, chiêm nghiệm cuộc đời, anh chọn cho mình bút danh: Trọng Nhân Nghĩa.
Xem thêm
Hữu Thỉnh – Vũ trụ hóa nỗi cô đơn
Phần lớn các nhà thơ thường cố tình cài cắm, ẩn dụ những triết lý về tình yêu hoặc nhân sinh trong tác phẩm bằng kỹ thuật mà người đến sau có thể rèn luyện được. Nhưng Thơ viết ở biển không nêu ra bất cứ triết lý khiên cưỡng nào, mà nếu có thì triết lý ấy ứa ra từ tim, chứ tuyệt nhiên không phải từ hoạt động của não.
Xem thêm
Nhà thơ Thanh Bi và hơi thở quê hương xứ Quảng trong từng vần thơ
Trong bức tranh văn chương đa sắc, nhà thơ Thanh Bi (tên thật là Nguyễn Văn Thuận, sinh năm 1984 tại Duy Xuyên, Đà Nẵng) hiện lên như một cây bút trẻ đong đầy cảm xúc, luôn dành một tình yêu mặn mòi, bền bỉ cho mảnh đất quê hương. Không tìm đến những triết lý xa vời, thơ anh neo lại trong lòng người đọc bằng tiếng nói chân thành của ký ức, của dòng sông Thu Bồn và những nhịp sống đập tràn trên dải đất miền Trung nắng gió.
Xem thêm
Dâng hiến tuổi xuân cho đất nước
Đúng vào dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27-7-1947 – 27-7-2026), nhà văn An Bình Minh ra mắt bạn đọc tiểu thuyết “Hoa lửa” – NXB Văn học. Cuốn sách viết về một thời hào hùng ra trận của thế hệ thanh niên trong những năm kháng chiến chống Mỹ.
Xem thêm
Sự cứu chuộc – Tiểu thuyết thành công của Viên Nguyệt Ái
Tiểu thuyết Sự cứu chuộc thành công về phương diện nghệ thuật khi đan xen, gắn kết hài hòa giữa thực tế và hư cấu, có bức tranh đa diện; có việc giải quyết những tình huống diễn biến tâm lý, nội tâm nhân vật phức tạp, đa chiều. Sự cứu chuộc thành công về phương diện nội dung, là bài ca nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về nét đẹp phẩm chất của các chiến sỹ công an nhân dân. Tác phẩm có cái kết đẹp, hấp dẫn, hướng thiện, nhân văn và kết truyện đã làm sáng rõ nội dung nhan đề Sự cứu chuộc.
Xem thêm
Nước trên lá – Một cõi thơ Phan Trung Thành
Nhân dịp nhà thơ Phan Trung Thành ra mắt tập thơ “Nước trên lá” với sự nâng niu, sẻ chia của các bạn văn tại Huế vào chiều nay, 19/9/26, Văn chương TP.HCM xin giới thiệu bài viết của anh cùng ba bài thơ rút từ tập thơ: Nước trên lá, Kể chuyện sông Hằng với mẹ và Buổi sáng – Xe rác & sự công bằng.
Xem thêm
Tác động của báo chí, truyền thông, mạng xã hội và công nghệ đến văn học
Mạng xã hội không chỉ là công cụ truyền thông để làm hình ảnh mà còn can dự trực tiếp vào nhiều bước trong việc quyết định thành hình và lan toả cuốn sách đến tay độc giả. Đây chính là kênh thăm dò độc giả, kênh tác giả có thể chào hàng tác phẩm từ khi còn là bản thảo, từ đó quyết định đầu tư tự in sách, tự phát hành mà không quá lệ thuộc vào các đơn vị xuất bản, đơn vị phát hành.
Xem thêm
Nói thêm về “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp
LÃ NGUYÊNTôi xem “Thi pháp Truyện Kiều” của Trần Đình Sử là bước đột phá lớn nhất trong lịch sử nghiên cứu kiệt tác của Nguyễn Du, tượng đài văn hóa Việt Nam. Cuốn sách lật lại nhiều vấn đề lớn tưởng đã có cách kiến giải xong xuôi để đưa ra những kết luận mới mẻ.
Xem thêm
“Con đường anh đi” với chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Văn là người, lời cổ nhân nói chẳng sai. Đọc Huyền Văn, để rồi khi biết chị từng là cô bộ đội, vai vác ba lô xuyên rừng cùng đồng đội, tôi đã chẳng bất ngờ. Bao trùm trong tác phẩm của chị, nơi “Con đường anh đi” là lý tưởng sống tận hiến, là những mãnh liệt và sôi nổi của tuổi trẻ, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhà văn của nhiệt huyết và khát vọng, chị hướng ngòi bút mình đến với thanh niên bằng yêu thương và sự trân trọng. Nơi đó, những con đường được mở ra - về ý nghĩa và giá trị sống - về sự góp sức nơi mỗi người nhằm bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Xem thêm
Trúc Thông khóc kiếp nhân sinh
Khóc cho mình, không phải một biểu hiện xa lạ trong nghệ thuật hay trong đời sống. Người ta “khóc” cho mình vì nhiều lý do khác nhau đó vừa là phản xạ tự nhiên, vừa mang thuộc tính “người” của con người. Nhưng ở đây, tác giả không chỉ khóc cha mẹ qua cuộc biệt ly, mà ông còn để dành để khóc cho chính mình, khóc cho kiếp nhân sinh. Ở tầng nghĩa này, bài thơ chạm đến chất suy tư, triết lý nhà Phật về cõi tạm, sinh - diệt và luân hồi.
Xem thêm
Nguyễn Thị Ánh Huỳnh lấy nỗi buồn làm căn cước
Đọc Miệt vườn, ta hiểu vì sao Nguyễn Thị Ánh Huỳnh không cần viết nhiều về sông nước. Bà chỉ cần viết về nỗi buồn, và tự khắc, cả châu thổ sẽ hiện ra. Với cơ chế nghệ thuật ẩn dụ, nỗi buồn của con người miệt vườn vốn dĩ đã có từ lúc sinh ra, lớn lên và yêu đương. Qua đó, thể hiện niềm kiêu hãnh của con người châu thổ mới mà các hệ quy chiếu khác không thể áp đặt.
Xem thêm
Dung Thị Vân - Một cá tính sáng tạo
Trong không gian nghệ thuật, ngôn từ là tiếng nói quan trọng nhất, quyết định phong cách sáng tác, sau đó mới đến các phương diện khác như cổ điển hay đổi mới như hiện nay.
Xem thêm
Trong khoảng lặng của thơ
Sau “Mặc cả với cô đơn”, Lê Vinh Dự lắng xuống, chờ một khoảng lặng vừa đủ giữa câu và từ để tạo thành ý niệm. Theo tôi, anh đang bắt đầu xây dựng nền tảng cho tư duy thơ, đó là “gu” thẩm mỹ xa rời lối vần điệu cũ nhàm chán. Nhưng không hẳn thế, thơ Lê Vinh Dự vẫn còn dùng dằng giữa hiện đại và truyền thống, có khi đó là nét riêng của anh, là không hiện đại lắm, cũng chưa thể rời xa truyền thống cũ.
Xem thêm
Mùa thu trong thơ thời Lý Trần - Vài cảm nhận và suy ngẫm
Sang thời Trần, Văn học đã có sự phát triển vượt bậc, bên cạnh các tác giả là thiền sư còn đông đảo đội ngũ các tác giả là tôn thất nhà Trần cùng các trí thức Nho học. Mặc dù vẫn có sự hiện diện của Tam giáo (Nho, Phật, Đạo) nhưng Phật giáo không còn chi phối nhiều trong sáng tác của các thiền sư như thời Lý. Sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội nhất là sau ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông khiến diện mạo văn học thời Trần đã rất phong phú, đa dạng với những thành tựu vượt bậc. Về đội ngũ sáng tác nhà Trần có thể kế đến: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn, Chu An, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Huyền Quang, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn… Các sáng tác thời Trần cũng rất đa dạng về thể loại nhưng thơ vẫn chiếm ưu thế hơn cả, nhiều bài thơ mang cảm hứng thẩm mỹ rõ rệt vượt xa thơ kệ thời Lý. Về thơ thu thời Trần có rất nhiều tác giả, tác phẩm nhưng tiêu biểu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trương Hán Siêu.
Xem thêm
Thép dưới cỏ: Bản anh hùng ca về người lính và lịch sử
Sau hơn 50 năm cầm bút, nhà thơ Hữu Thỉnh vừa ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết đầu tiên mang tên “Thép dưới cỏ”. Không chỉ tái hiện chiến dịch Tà Mây - Làng Vây và trận ra quân đầu tiên của Binh chủng Tăng - Thiết giáp, tác phẩm còn cho thấy một cách nhìn rất Hữu Thỉnh: giàu trải nghiệm trận mạc, nặng nghĩa tình đồng đội, tinh tế trong quan sát con người và luôn hướng tới những giá trị nhân bản phía sau các sự kiện lớn của lịch sử.
Xem thêm
Hàn Mặc Tử – nhà thơ của đau thương và kỳ dị
Văn thơ Việt Nam từng ghi dấu ấn nhiều tác giả lớn như những ngôi sao băng ghé ngang bầu trời văn học, chỉ hiện diện trong khoảnh khắc nhưng để lại vệt sáng không thể phai mờ trong lòng độc giả. Hàn Mặc Tử là trường hợp đặc biệt như thế, là “ngôi sao chổi xoẹt qua bầu trời Việt Nam với cái đuôi chói lòa rực rỡ của mình” (Chế Lan Viên).
Xem thêm
Phan Khôi – người mở đường thầm lặng cho văn học hiện đại
Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.
Xem thêm
Nhãn tự, linh hồn của thi ca
Trong thực tế có những bài thơ dài hàng trăm câu nhưng người đọc chỉ nhớ một câu, một chữ giúp bài thơ sống mãi cùng năm tháng. Điều đó cho thấy, sức sống của thơ nhiều khi không nằm ở số lượng câu chữ mà tập trung vào một vài con chữ mang lại linh hồn cho cả tác phẩm. Người xưa gọi đó là “nhãn tự”.
Xem thêm